21
cho sự phát triển nông thôn bền vững
theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
MỞ
ĐẦU
Bởi vậy, phát triển nguồn nhân lực, trong đó dạy nghề cho lao động nông thôn là
nhiệm vụ quan trọng góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh.
Công tác ĐTN cho lao động nông thôn tỉnh Nghệ An thời gian qua tuy đã có
bước chuyển biến, nhưng vẫn còn một số hạn chế, bất cập: cơ cấu ngành nghề
1. Lí
chọntổđề chức
tài dạy nghề chưa gắn với quy hoạch sản xuất nông
chưa hợp
lý,doviệc
Đào
tạo
nghề
cho
lao động,
đặcvụ,biệtchưa
là khu
nghiệp, công nghiệp, thủ người
công nghiệp,
dịch
gắn vực
với nông
chính thôn
sách(nơi
đầu tập
tư
thôn
ở mộttriển
số CSDN
còncao
chạy
số lượng
chưa
trọng
lượng, chưa
nghiệp
hoá,laohiên
đại hoá
nôngnghề
thôn.có việc làm mới hoặc làm công việc
đạt
tỷ lệ
động
nôngnông
thônnghiệp
sau học
quyếtcaosốhơn,
26/NQ-TW
hành nghiệp
Trung và
ương
cũ với Nghị
hiệu quả
chưa đápngày
ứng 5/8/2008
được yêu Ban
tỉnhnhân
Nghệlực,
An,đảm
với bảo
mong
muốn
tìm ra
1 triệu
laoquản
độnglý,nông
hiện tốt
việc nhân
xã hội
công
tác ĐTN.
Đến
giải
pháp
nângthôn.
cao Thực
chất lượng
nguồn
lựchoá
nông
nghiệp
nông thôn
năm tỉnh,
2020đưa
lao Nghệ
động An
củacứu.
Chính phủ ban hành
động nông
trênsốđịa24/2008/NQ-CP
bàn tỉnh Nghệ An”
đề tài nghiên
chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 26/NQ-TW về nông nghiệp,
2. Mục
nghiên
cứu.
nông dân,
nôngđích
thôn
đã đặt
ra nhiệm vụ: tập trung xây dựng kế hoạch và giải
pháp đào tạo cho bộ phận con em nông dân đủ trình độ, năng lực vào làm việc ở
các cơ sở công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ và chuyển nghề; bộ phận nông
xuấttụcmột
giảinông
phápnghiệp
quản được
lý có đào
hiệutạoquảvề nhằm
quản và
lý kỹ
chấtnăng
lượng
dân cònĐetiếp
sản sốxuất
kiến thức
dân số
và nguồn
3. Khách thể, đốicó
tượng
vi nghiên
cúulao động lớn. Trong đó, nông
thôn Nghệ An có nguồn lao động dồi dào và tiềm năng (chiếm 70% tổng lực
lượng lao động), là nơi cung cấp nhân lực cho các khu đô thị và KCN. Tuy
nhiên,- nguồn
lao nghiên
động cứu:
này ĐTN
chủ cho
yếulao
tậpđộng
trung
xuất trong lĩnh vực nông
Khách thế
nôngsản
thôn.
nghiệp,
chưa
qua
đào
tạo;
ít
có
cơ
hội
để
Thống kê, Ke hoạch và Đầu tư, các bài viết trên các tạp chí, sách báo và trên
mạng Internet,...
5.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp thống kê, so sánh: Đê đánh giá thực trạng đào tạo nghề cho
lao động nông thôn và quản lý chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn;
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến cán bộ
quản lý, Ban Giám hiệu ở các cơ sở dạy nghề, ... về các giải pháp quản lý chất
lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
4
- Phương pháp đàm thoại: Tiến hành trò chuyện, trao đổi trực tiếp với một
số giáo viên, cán bộ quản lý có uy tín và kinh nghiệm trong công tác quản lý
nhằm thu thập thêm thông tin cho nhiệm vụ nghiên cứu.
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu thu được.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu thực hiện đồng bộ, sáng tạo các giải pháp như luận văn đã trình bày
sẽ nâng cao chất lượng ĐTN cho lao động nông thôn nói riêng và lĩnh vực ĐTN
của tỉnh nói chung.
7. Đóng góp của luận văn
- về lý luận: Góp phần cụ thể hoá một số vấn đề về khoa học giáo dục nói
chung và vấn đề quản lý chất lượng ĐTN cho lao động nông thôn nói riêng.
- về thực tiễn: Góp phần đánh giá thực trạng ĐTN cho lao động nông
thôn và đưa ra một hệ thống các giải pháp quản lý tương đối đồng bộ và khả thi
nhằm nâng cao chất lượng ĐTN cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ
An.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ
lục, luận văn được bố cục thành 3 chương:
- Chương 1: Cở sở lí luận của vấn đề quản lý chất lượng đào tạo nghề cho
nghề), “mô hình 0+4” (cả 4 năm đều học nghề); qua đó mang lại hiệu quả cao
trong công tác đào tạo tại quốc gia này. Sự kết họp hài hòa và khoa học này đã
tạo cơ hội cho những người thợ có điều kiện học lên bậc cao hơn đê nâng cao
tay nghề. Theo đánh giá của tiêu chuẩn quốc tế, hệ thống ĐTN của Na Uy khá
toàn diện và ít khiếm khuyết khi kết họp quá trình ĐTN với chương trình giáo
dục phổ thông. Sự kết hợp này đã tạo điều kiện để những người thợ có thế học
6
lên cao hơn khi họ muốn để có một tương lai sự nghiệp vững vàng hơn [21].
Nga không chỉ là quốc gia có diện tích đất nông nghiệp cũng lớn nhất thế giới. Để
có được những người nông dân tương lai gắn bó với nghề trên đồng ruộng,
Chính phủ Nga đã chú ý phát triển nhiều hình thức ĐTN khác nhau. Trước hết,
chú trọng cung cấp những kiến thức cơ bản về nghề nông cho học sinh trung học
năm cuối phố thông, gọi là hình thức đào tạo chuyên nghiệp sơ cấp, tại các
trường CĐ chuyên nghiệp. Học sinh có nhu cầu học nghề phải làm đơn nhập học
theo Quy chế đào tạo chung của nhà nước. Những người được tuyển thường là
học sinh đã tốt nghiệp phổ thông. Sau khi được tuyển vào học, các em sẽ được
học nghề từ 1 đến 3 năm tùy thuộc vào trình độ học vấn phổ thông của mình. Có
hai hình thức đào tạo: chính quy (ban ngày) và không chính quy (ban đêm). Ở
Nga, trong hệ thống đào tạo chuyên nghiệp sơ cấp cho nông dân có 280 ngành
nghề khác nhau, từ kỹ năng nuôi trồng sản phâm nông nghiệp, tới thương mại,
dịch vụ, kỹ’ thuật, giao thông trong nông nghiệp v.v..[3].
Trung Quốc là đất nước đông dân nhưng là nước có nền kinh tế ổn định
và tăng trưởng. Tuy nhiên, sự phát triển của Trung Quốc là không đồng đều. Ở
các khu vực đô thị, các trung tâm công nghiệp dịch vụ lớn có tốc độ tăng trưởng
cao. Còn ở nông thôn Trung Quốc, những nguồn lực tự nhiên, nhất là đất nông
nghiệp tương đối khan hiếm; dân số đông nhưng chất lượng thấp, kinh tế chậm
phát triển. Do đó, phát triển nguồn lao động nông thôn là giải pháp có tính quyết
định đê giải quyết vấn đề “tam nông” tại Trung Quốc. Giáo dục và dạy nghề ở
đào tạo lại người lao động ở những ngành bị mất đi để giúp họ có đủ năng lực
chuyển sang hoạt động ở các ngành kinh tế mói. Chính phủ phải chủ động đầu
tư vào sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho quốc gia với những nghề mới, bao
gồm các hoạt động dạy nghề cơ bản để tạo ra người lao động có trình độ chuyên
môn về lý thuyết và có tay nghề thực tiễn, đủ khả năng đáp ứng tốt nhất các yêu
cầu của nền kinh tế [6].
8
Trong xu thế toàn cầu và hội nhập hiện nay, việc tổng kết kinh nghiệm
quản lý ĐTN của các nước trên thế giới nhằm vận dụng vào thực tiễn ĐTN ở
Việt Nam là thực sự cần thiết và cấp bách nhằm đào tạo nguồn nhân lực đủ sức
đương đầu với cạnh tranh và hợp tác.
1.1.2. Ở trong nước
ĐTN cho lao động nông thôn là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà
nước nhằm tạo mọi điều kiện cần thiết đê người dân được học nghề và có việc
làm phù hợp tạo thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo; nâng cao chất lượng
cuộc sống của lao động nông thôn. Nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ lao động
nông thôn học nghề đã được ban hành đã thực sự đi vào cuộc sống, góp phần
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khu vực nông thôn, đáp ứng yêu cầu hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Điều này được cụ thể hóa trong “Chiến lược
phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020”, “Đề án ĐTN cho lao động nông thôn
đến năm 2020”, “Đề án hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm”, “Đề án hỗ
trợ phụ nữ học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2011-2015”....
Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước cũng đã đề
cập đến các vấn đề liên quan đến phát triển nguồn nhân lực nói chung và nhân
lực nông nghiệp nông thôn nói riêng.
Năm 2000, tác giả Phạm Đức Thành và tác giả Lê Doãn Khải đã xuất bản
cuốn: “Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng CNH-HĐH ở vùng
Bắc Bộ nước ta”. Công trình khoa học trên đã đưa ra các quan điếm và giải
còn lạc hậu.
Năm 2011, Viện nghiên cứu khoa học dạy nghề đã xuất bản cuốn “Mô hình
dạy nghề và GQVL cho lao động ở khu vực chuyển đối mục đích sử dụng đất”
[29]. Cuốn sách đã đề cập đến các vấn đề chủ yếu của đô thị hóa và những hệ
10
lụy đối với nông thôn Việt Nam; nhu cầu học nghề của người lao động và những
mô hình dạy nghề GQVL cho các nhóm lao động nông thôn khác nhau.
Ngoài ra, trên các tạp chí, các bài báo, trang Web và trang thông tin về
ĐTN nói chung, ĐTN cho lao động nông thôn nói riêng đã được đăng tải. Mỗi
bài viết đều thể hiện một cách nhìn, cách đánh giá về các vấn đề quan trọng như
thực trạng, kết quả ĐTN, những hạn chế và nguyên nhân, từ đó đề xuất những
giải pháp cần khắc phục.
Trên đây là sự khái lược kinh nghiệp của một số nước và một số công trình
nghiên cứu trong nước có liên quan đến vấn đề ĐTN cho lao động nông thôn.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đều đề cập các vấn đề ở tầm vĩ mô, chưa
đi sâu vào nghiên cứu quản lý chất lượng đào tạo nghề. Xuất phát từ điều kiện
KT-XH của địa phương, để góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông
nghiệp, nông thôn, tác giả đi sâu nghiên cứu đề tài “Một so giải pháp quản lý
chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An "
1.2. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.2.1. Quản lý
Có nhiều khái niệm về quản lý, trong phạm vi đề tài này tác giả chỉ chọn
và làm rõ một số khái niệm liên quan đến nội dung của đề tài như:
- Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể
(người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý).
- Quản lý thê hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp người, công cụ, phương
tiện tài chính... để kết họp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt mục tiêu định
hoạt động và điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu kế hoạch là nền
tảng của quản lý.
- Tổ chức: Là quá trình sắp xếp và phân bố công việc, quyền hành và các
nguồn lực khác nhau cho các thành viên đê có thể đạt được các mục tiêu của tổ
chức một cách hiệu quả. Với các mục tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc tổ chức
khác nhau. Người quản lý cần lựa chọn các cấu trúc tổ chức phù hợp với mục
tiêu nguồn lực hiện có.
- Lãnh đạo là điều hành, điều khiển đối tượng hoạt động và giúp đỡ các
cán bộ dưới quyền thực hiện nhiệm vụ được phân công.
- Kiêm tra: Là hoạt động của người quản lý đế kiếm tra các hoạt động của
đơn vị về thực hiện mục tiêu đặt ra. Các yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra là:
+ Xây dựng chuẩn thực hiện.
+ Đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với chuẩn.
I Điều chỉnh hoạt động khi có sự chênh lệch.
Các chức năng quản lý tạo thành một chu trình thống nhất. Trong đó, mỗi
chức năng vừa có tính độc lập tương đối, vừa có mối quan hệ phụ thuộc vào
chức năng khác. Quá trình ra các quyết định quản lý là qua trình thực hiện các
chức năng theo một trình tự nhất định. Nhà quản lý không được bỏ qua hay coi
nhẹ bất kỳ một chức năng nào.
Xem xét nội hàm của khái niệm quản lý, có thê thấy rõ quản lý là một
hoạt động xã hội, trong đó có sự tác động của chủ thế quản lý (người quản lý,
tổ chức quản lý), có sự chịu tác động và thực hiện của khách thể quản lý
(người bị quản lý, đối tượng bị quản lý) để đạt được mục tiêu của tổ chức.
Như vậy, theo chúng tôi, quản lý là “sự tác động có ý thức của chủ thể
quản lý đế chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt
13
động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù
hợp với quy luật khách quan”.
tiếng Việt, năm 1999 [22].
“Chất lượng là mức độ mà một tập hợp các đặc trưng vốn có đáp ứng
được các yêu cầu của khách hàng và những người khác có quan tâm” - theo
ISO 9000-2000 [28].
Trên đây là các khái niệm chung về chất lượng mà khi xét cho từng đối
tượng cụ thể thì cần xét tới cả những điều kiện lịch sử - cụ thể của đối tượng
đó.
1.2.3. Đào tạo nghề
Ngày 29/11/2006, Quốc hội đã ban hành Luật Dạy nghề số
76/2006/QH11. Trong đó viết: "Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang
bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề đê
có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thanh khóa học"
[16].
Như vậy, đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với
nhau, đó là:
- Dạy nghề: Là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý
thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự
khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp .
- Học nghề: Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực
hành của người lao động đế đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định [14].
ĐTN cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao
động để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn. Đào tạo nghề bao gồm: Đào
tạo công nhân kỹ thuật (công nhân cơ khí, điện tử, xây dựng, sửa chữa...) và
phổ cập nghề cho người lao động (chủ yếu là lao động nông thôn).
15
Qua đó, ta có thể thấy dạy nghề là khâu quan trọng trong việc GQVL
cho người lao động, tuy nó không tạo ra việc làm ngay nhưng đó là yếu tố cơ
bản tạo thuận lợi cho quá trình tìm việc làm và thực hiện công việc. Hiện nay,
viên giỏi, CBQL giỏi, cơ sở vật chất đầy đủ, học sinh giỏi, ... thì chất lượng
ĐTN được nâng cao. Cũng có quan điểm cho rằng chất lượng ĐTN được đánh
giá bằng sản phẩm của quá trình đào tạo (đầu ra), tức là bằng mức độ hoàn thành
của học viên tốt nghiệp. Một số quan điếm khác lại khắng định chất lượng ĐTN
được quyết định bởi các quá trình hoạt động bên trong, đặc biệt là hệ thống
thông tin và hệ thống các quyết định tối ưu. Chất lượng đào tạo là kết quả cuối
cùng đạt được bởi sự tác động tích cực của các yếu tố cấu thành quá trình đào
tạo. Chất lượng đào tạo nghề là sự phù hợp với mục tiêu đào tạo nghề.
Có thể khái quát quan niệm này như sơ đồ sau:
MT
GV
HV
ND
PPTP
CSVC,TC
Sơ đồ 2: Sơ đồ khát quát quan niệm chất lượng đào tạo
Trong đó:
- MT: Mục tiêu đào tạo.
17
- pp, PT: Phương pháp đào tạo, phương tiện phục vụ đào tạo.
- GV: Giáo viên và CBQL đào tạo.
viện dạy nghề và học sinh thì ưu tiên của khái niệm chất lượng phải là ở quá
trình đào tạo, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề phục vụ cho công tác dạy và
học. Còn đối với những người sử dụng lao động, ưu tiên về chất lượng của họ
lại ở đầu ra, tức là ở kiến thức, kỹ năng tay nghề, thái độ nghề nghiệp và năng
lực làm việc của người học sau học nghề... Do vậy, không thể nói tới chất lượng
như một khái niệm nhất thể, chất lượng cần được xác định kèm theo mục tiêu
hay ý nghĩa của nó, và ở khía cạnh này, một trường ĐTN có thể có chất lượng
cao ở lĩnh vực này nhưng ở lĩnh vực khác lại có chất lượng thấp.
Điều này đặt ra một yêu cầu phải xây dựng một hệ thống rõ ràng, mạch lạc
các tiêu chí với những chỉ số được lượng hóa, nêu rõ các phương thức đảm bảo
chất lượng và quản lý chất lượng sẽ được sử dụng trong và ngoài giáo dục nghề
nghiệp vói xu hướng tiếp cận dần với chuẩn của khu vực và thế giới nhằm đưa
giáo dục nghề nghiệp Việt Nam hòa nhập với giáo dục nghề nghiệp thế giới.
1.2.5. Quản lý chất lượng đào tạo nghề
Quản lý chất lượng ĐTN thực chất là quản lý các yếu tố sau theo một trình
tự, quy trình vừa khoa học, vừa phù họp với điều kiện thực tế của đơn vị, đem
lại hiệu quả trơng công tác đào tạo. Các yếu tố đó là:
- Mục tiêu đào tạo nghề.
- Phương pháp đào tạo nghề, phương tiện phục vụ đào tạo nghề.
- Giáo viên và CBQL đào tạo nghề.
- Học viên.
- Nội dung đào tạo nghề.
- Cơ sở vật chất, tài chính phục vụ đào tạo nghề.
- Chất lượng đào tạo nghề.
Các thành tố này có mối quan hệ chặt chẽ và có tác động qua lại lẫn nhau.
19
Để thực hiện có hiệu quả công tác quản lý chất lượng ĐTN cần tiến hành
các bước theo quy trình như quản lý giáo dục: kế hoạch hóa, tố chức, chỉ đạo,
lượng lao động, trong đó lao động trong độ tuổi lao động là 32,73 triệu người,
và tỷ lệ lao động nông thôn chưa qua đào tạo người là 81,32% [24].
- Đối tượng ĐTN cho lao động nông thôn rất đa dạng. Thê hiện ở độ
tuổi, trình độ học vấn, trạng thái sức khỏe, điều kiện sản xuất kinh doanh và
hoàn cảnh sống. Bởi vậy, hoạt động ĐTN cho lao động nông thôn cần được tổ
chức linh hoạt, phù hợp với điều kiện cụ thể của đối tượng tham gia học nghề.
- Lao động nông thôn mang tính thời vụ (đặc biệt là bộ phận lao động
sản xuất trực tiếp). Vì vậy, đòi hỏi việc tố chức ĐTN, tập huấn kiến thức liên
quan về cây trồng vật nuôi cũng phải được sắp xếp phù hợp và kịp thời vụ đê
đạt hiệu quả. Đặc điểm này dẫn đến một bộ phận lớn người lao động nông
nghiệp, nông thôn sẽ có thời gian rảnh rỗi, nông nhàn sau mùa vụ. Đe tăng thu
nhập, đảm bảo cuộc sống cho lao động nông thôn, công tác ĐTN không chỉ tập
trung vào việc bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng các nghề thuộc lĩnh vực nông,
lâm, ngư nghiệp, mà còn dạy nghề thuộc lĩnh vực công nghiệp, thủ công
nghiệp, thương mại, dịch vụ... nhằm giúp người lao động có thể kiếm thêm
việc làm và sử dụng có hiệu quả hơn nguồn lực lao động.
Do có những đặc điểm trên, nên các điều kiện đảm bảo để tổ chức dạy
nghề cho lao động nông thôn (cơ sở đào tạo, GVDN, chương trình đào tạo,
hình thức đào tạo...) cũng cần có sự thích ứng. Xã hội hóa các nguồn lực và đa
dạng hóa các hình thức ĐTN là giải pháp quan trọng đế nâng cao năng lực của
tổ chức ĐTN cho lao động nông thôn.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng ĐTN cho lao động nông thôn
Chất lượng giáo dục - đào tạo nói chung và ĐTN cho lao động nông thôn
nói riêng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bao gồm cả yếu tố khách quan và
chủ quan. Có thể phân các yếu tố chủ yếu thành các nhóm để xem xét như sau:
21
ĐTN nói chung và ĐTN cho lao động nông thôn chịu ảnh hưởng trước
tiên là của các nhân tố bên trong của chính quá trình đào tạo bao gồm: hệ thống
thì mới có thế giảng dạy và truyền đạt cho các học viên học nghề một cách
hiệu quả.
Một loại nhân lực khác cũng có ảnh hưởng đến chất lượng ĐTN đó là đội
ngũ CBQL dạy nghề. Trong giai đoạn trước đây, vai trò của các CBQL trong
các cơ sở đào tạo không được đánh giá cao, tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay,
nhất là trước bối cảnh hội nhập quốc tế và cạnh tranh trong lĩnh vực dạy nghề
đòi hỏi đội ngũ CBQL phải là những người thực sự có trình độ. Chất lượng
CBQL cũng có ảnh hưởng rất lớn đến ĐTN, thê hiện qua khả năng tổ chức,
quản lý, điều phối quá trình đào tạo, tìm kiếm cơ hội họp tác, hên kết đào
tạo...
1.3.3. Người tham gia học nghề
Người tham gia học nghề là nhân tố quan trọng nhất, có tính chất quyết
định đối với công tác ĐTN, nó ảnh hưởng toàn diện tới công tác ĐTN. Trình
độ văn hoá, sự hiểu biết, tâm lý, cá tính, khả năng tài chính, quỹ thời gian...
của bản thân học viên đều có ảnh hưởng sâu sắc tới quy mô và chất lượng
ĐTN. Trình độ văn hoá cũng như khả năng tư duy của người học càng cao thì
khả năng tiếp thu các kiến thức trong quá trình học nghề càng tốt, khi ấy chất
lượng ĐTN càng cao và ngược lại.
1.3.4. Mục tiêu đào tạo
Hệ thống mục tiêu đào tạo bao gồm: các mục tiêu ngành, quốc gia; mục
tiêu trường (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn); mục tiêu đáp ứng yêu cầu thực tiễn
của thị trường chung; mục tiêu đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp hợp tác đào
tạo. Các mục tiêu đào tạo càng sát thực, càng khả thi thì chất lượng ĐTN càng
được nâng cao. Do đó, khi xây dựng mục tiêu đào tạo nghề cần phải có sự khảo
sát, nghiên cứu kỹ lưỡng đối với tìmg yếu tố.
23
1.3.5. Chương trình, giáo trình đào tạo
trị, kinh tế - xã hội, qui mô - cơ cấu lao động, nhận thức xã hội về ĐTN.
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng ĐTN có thế khái quát như sơ đồ sau:
Sơ đồ 3: Các yếu tổ tác động đến chất lượng đào tạo
1.4. Phân loại và các hình thức đào tạo nghề
1.4.1. Phân loại đào tạo nghề
Có rất nhiều cách phân loại ĐTN, tùy theo mỗi loại tiêu thức ta có thể phân
loại ĐTN thành các loại hình khác nhau. Trong phạm vi bài này chỉ xét hai tiêu
thức phân loại như sau:
- Căn cứ vào thời gian ĐTN:
+ Đào tạo ngắn hạn: Là loại hình ĐTN có thời gian đào tạo dưới một năm
chủ yếu áp dụng đối với phổ cập nghề.
Loại hình này có ưu điểm là có thể tập hợp được đông đảo lực lượng lao
động ỏ mọi lứa tuổi, những người không có điều kiện học tập tập trung vẫn có
thể tiếp thu được tri thức ngay tại chỗ, với sự hỗ trợ đắc lực của các cơ quan
đoàn thể, địa phương, Nhà nước về mặt giáo trình, giảng viên.
25
+ Đào tạo dài hạn: Là loại hình ĐTN có thời gian đào tạo từ một năm trở
lên, chủ yếu áp dụng đối với đào tạo công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ.
ĐTN dài hạn thường có chất lượng cao hơn các lớp đào tạo ngắn hạn.
- Căn cứ vào nghề đào tạo đối với người học:
+ Đào tạo mới: Là loại hình ĐTN áp dụng cho những người chưa có nghề,
để đáp ứng yêu cầu tăng thêm lao động có nghề.
+ Đào tạo lại: Là quá trình ĐTN áp dụng với những người đã có nghề
song nghề hoặc chuyên môn của họ không còn phù hợp nữa.
I Đào tạo nâng cao: Là quá trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kinh
đầu tư lớn đê đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, các CBQL.
- ĐTN tại nơi làm việc (đào tạo trong công việc):
ĐTN tại nơi làm việc là hình thức đào tạo trực tiếp, trong đó người học sẽ
được dạy những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc thông qua thực tế
thực hiện công việc và thường là dưới sự hướng dẫn của những người lao động
có trình độ cao hơn. Hình thức đào tạo này thiên về thực hành ngay trong qúa
trình sản xuất và thường là do các doanh nghiệp (hoặc các cá nhân sản xuất) tự
tổ chức.
Chương trình đào tạo áp dụng cho hình thức đào tạo tại nơi làm việc
thường chia làm ba giai đoạn. Giai đoạn đầu, người hướng dẫn vừa sản xuất vừa
hướng dẫn cho học viên. Giai đoạn hai, giao việc làm thử cho học viên sau khi họ
đã nắm được các nguyên tắc và phương pháp làm việc. Giai đoạn ba, giao việc
hoàn toàn cho học viên khi họ đã có thể tiến hành làm việc một cách độc lập.
Hình thức đào tạo tại nơi làm việc có nhiều ưu điểm như: có khả năng đào
tạo nhiều người cùng một lúc ở tất cả các phân xưởng; thời gian đào tạo ngắn;
không đòi hỏi điều kiện về trường lớp, giáo viên chuyên trách, bộ máy quản lý,
thiết bị học tập riêng nên tiết kiệm chi phí đào tạo; trong quá trình học tập, người
học còn được trực tiếp tham gia vào quá trình lao động, điều này giúp họ có thể