Một số giải pháp quản lý chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An - Pdf 31

1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đào tạo nghề cho người lao động, đặc biệt là khu vực nông thôn (nơi tập
trung lớn nguồn lao động chưa qua đào tạo) có vai trò hết sức quan trọng đối với
việc phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hoá, hịên đại hoá nông nghiệp nông thôn.
Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 5/8/2008 Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; một trong những nhiệm vụ
và giải pháp quan trọng của Nghị quyết là: “Hình thành Chương trình mục tiêu
quốc gia về ĐTN, phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo hàng năm đào tạo khoảng
1 triệu lao động nông thôn. Thực hiện tốt việc xã hội hoá công tác ĐTN. Đến
năm 2020 lao động nông nghiệp còn khoảng dưới 30% lao động xă hội; tỷ lệ lao
động nông thôn qua đào tạo đạt trên 50%” [2].
Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hành
chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 26/NQ-TW về nông nghiệp,
nông dân, nông thôn đã đặt ra nhiệm vụ: tập trung xây dựng kế hoạch và giải
pháp đào tạo cho bộ phận con em nông dân đủ trình độ, năng lực vào làm việc ở
các cơ sở công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ và chuyển nghề; bộ phận nông
dân còn tiếp tục sản xuất nông nghiệp được đào tạo về kiến thức và kỹ năng để
thực hành sản xuất nông nghiệp hiện đại; đồng thời tập trung đào tạo nâng cao
kiến thức cho CBQL, cán bộ cơ sở [3].
Nghệ An là tỉnh có quy mô dân số và nguồn lao động lớn. Trong đó, nông
thôn Nghệ An có nguồn lao động dồi dào và tiềm năng (chiếm 70% tổng lực
lượng lao động), là nơi cung cấp nhân lực cho các khu đô thị và KCN. Tuy
nhiên, nguồn lao động này chủ yếu tập trung sản xuất trong lĩnh vực nông
nghiệp, chưa qua đào tạo; ít có cơ hội để phát huy khả năng cống hiến của mình


2


- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài giới hạn ở đối tượng là lao động nông thôn
tham gia học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng)
trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề quản lý chất lượng ĐTN cho lao
động nông thôn.
4.2. Phân tích, đánh giá thực trạng ĐTN cho lao động nông thôn trên địa
bàn tỉnh Nghệ An.
4.3. Đề xuất các giải pháp quản lý chất lượng ĐTN cho lao động nông thôn
trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các vấn đề lý luận có liên quan đến
đề tài nghiên cứu từ các nguồn thông tin như: các niên giám thống kê của Cục
thống kê, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Quy
hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An đến năm 2020 và số liệu các ngành
Lao động - Thương binh và Xã hội, Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nghệ An, Cục
Thống kê, Kế hoạch và Đầu tư, các bài viết trên các tạp chí, sách báo và trên
mạng Internet,...
5.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp thống kê, so sánh: Để đánh giá thực trạng đào tạo nghề cho
lao động nông thôn và quản lý chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn;
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến cán bộ
quản lý, Ban Giám hiệu ở các cơ sở dạy nghề, ... về các giải pháp quản lý chất
lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn.


4


NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Ở nước ngoài
Các nước phát triển trên thế giới luôn đề cao công tác ĐTN nên học sinh
được định hướng nghề nghiệp rất tốt ngay khi còn học phổ thông. Ở Nhật, Mỹ,
Đức, Nga, Na- Uy ... người ta xây dựng nên các bộ công cụ để kiểm tra giúp
phân hóa năng lực, hứng thú nghề nghiệp ở trẻ nhằm có sự định hướng nghề
nghiệp đúng đắn từ sớm. Cho nên, với họ giáo dục không chỉ phát triển trí tuệ
thuần túy mà còn chủ ý định hướng cho học sinh về nghề nghiệp phù hợp với
năng lực bản thân, đồng thời trang bị cho học sinh kỹ năng làm việc để thích
ứng với xã hội.
Na-Uy được xem là quốc gia sở hữa nhiều mô hình dạy nghề tiên tiến trên
thế giới, lại giàu kinh nghiệm trong việc quản lý hệ thống dạy nghề. Chính vì
vậy, trong nhiều năm qua chất lượng ĐTN tại quốc gia này liên tục tăng cao,
đáp ứng hiệu quả yêu cầu hội nhập và phát triển. Nhận thức được tầm qua trọng
của công tác ĐTN cũng như vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế,
từ những năm 1994 cho đến nay, Chính phủ Na Uy liên tục có những cải cách về
giáo dục – đào tạo, có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả phát triển KT-XH của
quốc gia này. Các tổ chức ĐTN Na – Uy đã thiết lập và cây dựng nhiều mô hình
linh hoạt, uyển chuyển như: “mô hình 1+3” (1 năm học tại trường và 3 năm học
nghề), “mô hình 0+4” (cả 4 năm đều học nghề); qua đó mang lại hiệu quả cao
trong công tác đào tạo tại quốc gia này. Sự kết hợp hài hòa và khoa học này đã
tạo cơ hội cho những người thợ có điều kiện học lên bậc cao hơn để nâng cao
tay nghề. Theo đánh giá của tiêu chuẩn quốc tế, hệ thống ĐTN của Na Uy khá
toàn diện và ít khiếm khuyết khi kết hợp quá trình ĐTN với chương trình giáo


6

dục phổ thông. Sự kết hợp này đã tạo điều kiện để những người thợ có thể học

Trường dạy nghề cấp hai không chỉ cung cấp cho xã hội những công nhân lành
nghề mà họ còn được đào tạo thêm kiến thức về văn hóa để có thể thích nghi với
các khu chế xuất, KCN. Với việc học nghề kéo dài 2-3 năm, giáo dục hướng
nghiệp cấp ba ở Trung Quốc chủ yếu tuyển sinh những học viên đã từng tốt
nghiệp các trường dạy nghề cấp 2 nhằm đào tạo những công nhân có trình độ kỹ
thuật cao. Để đáp ứng nhu cầu của các nhóm người khác nhau trong việc tìm
việc làm và chuẩn bị kỹ năng để làm những nghề nghiệp khác nhau, Chính phủ
Trung Quốc đã thực hiện nhiều chương trình ĐTN. Ngoài ra, Trung Quốc cũng
đưa ra các khóa học hướng nghiệp sớm cho những tú tài đã trượt ĐH nhằm giúp
các em nắm được ký năng nghề hoặc lấy được chứng chỉ nghề trước khi bắt đầu
tìm việc [13].
Ở Hàn Quốc, chiến lược về phát triển nguồn lao động, trong đó có dạy
nghề cho người lao động được đặc biệt chú trọng. Để có nguồn nhân lực đáp
ứng được yêu cầu phát triển của kinh tế nông thôn, Chính phủ phải chủ động xây
dựng và công bố các định hướng phát triển kinh tế trong dài hạn, trung hạn và
ngắn hạn trên quy mô cả nước và đối với từng vùng, trên cơ sở đó hình thành kế
hoạch phát triển nguồn nhân lực đáp ứng cho các nhu cầu của từng ngành và
lĩnh vực kinh tế trên quy mô cả nước và đối với từng vùng, đặc biệt trong điều
kiện nền kinh tế đang trong quá trình đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ngành, lĩnh vực để thực hiện CNH-HĐH. Trong quá trình này, Chính phủ phải
thường xuyên theo dõi sự biến chuyển của cơ cấu kinh tế để điều chỉnh kịp thời
công tác đào tạo nguồn nhân lực mới cho các ngành đang và sẽ hình thành và
đào tạo lại người lao động ở những ngành bị mất đi để giúp họ có đủ năng lực
chuyển sang hoạt động ở các ngành kinh tế mới. Chính phủ phải chủ động đầu
tư vào sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho quốc gia với những nghề mới, bao
gồm các hoạt động dạy nghề cơ bản để tạo ra người lao động có trình độ chuyên


8


lao động trong điều kiện tác động của CNH-HĐH mà không đề cập đến ĐTN
với tư cách là đối tượng nghiên cứu chính [11].
Năm 2000, ĐH kinh tế Quốc dân xuất bản cuốn “Thực trạng và giải pháp
phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ CNH, HĐH ở Việt Nam”, nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia. Tuy cuốn sách đã đặt ra những vấn đề cho việc nâng cao
trình độ cho chủ trang trại, đề xuất các giải pháp liên quan đến đào tạo cho chủ
trang trại; nhưng vấn đề đào tạo cho chủ trang trại chỉ thể hiện một bộ phận rất
nhỏ của nguồn lao động nông thôn [7].
Năm 2004, tác giả Đỗ Minh Cương và tác giả Mạc Văn Tiến đã xuất bản
cuốn “Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam: lý luận và thực tiễn”. Tác giả đã
phân tích, đánh giá thực trạng phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam đến năm
2010. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu không đi sâu vào các vấn đề trực diện
của ĐTN cho lao động nông thôn [14].
Năm 2005, đề tài về “Nghiên cứu thực trạng việc làm, thu nhập và đời sống
của người dân bị thu hồi đất để xây dựng các KCN, khu đô thị và cho nhu cầu
cộng đồng, lợi ích quốc gia” do Chính phủ giao cho ĐH Kinh tế quốc dân được
triển khai [12]. Kết quả của đề tài đã được biên tập và xuất bản thành sách.
Trong đó, thực trạng đào tạo cho những người bị thu hồi đất đã được phân tích,
đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện.
Tác giả Nguyễn Xuân Bảo, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, có những
nghiên cứu về ĐTN và đưa ra những kết quả, những hạn chế của ĐTN [10].
Người viết đã chỉ ra các nguyên nhân với sự nhấn mạnh về: Hệ thống đào tạo
giáo viên nghề chưa đạt yêu cầu, năng lực chuyên môn, kỹ năng giảng dạy thực
hành còn yếu; kiến thức và kỹ năng sư phạm còn hạn chế; chương trình ĐTN
còn lạc hậu.
Năm 2011, Viện nghiên cứu khoa học dạy nghề đã xuất bản cuốn “Mô hình
dạy nghề và GQVL cho lao động ở khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất”


10



12

Lập kế hoạch là quá trình xác định thiết lập các mục tiêu hệ thống các
hoạt động và điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu kế hoạch là nền
tảng của quản lý.
- Tổ chức: Là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và các
nguồn lực khác nhau cho các thành viên để có thể đạt được các mục tiêu của tổ
chức một cách hiệu quả. Với các mục tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc tổ chức
khác nhau. Người quản lý cần lựa chọn các cấu trúc tổ chức phù hợp với mục
tiêu nguồn lực hiện có.
- Lãnh đạo là điều hành, điều khiển đối tượng hoạt động và giúp đỡ các
cán bộ dưới quyền thực hiện nhiệm vụ được phân công.
- Kiểm tra: Là hoạt động của người quản lý để kiểm tra các hoạt động của
đơn vị về thực hiện mục tiêu đặt ra. Các yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra là:
+ Xây dựng chuẩn thực hiện.
+ Đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với chuẩn.
+ Điều chỉnh hoạt động khi có sự chênh lệch.
Các chức năng quản lý tạo thành một chu trình thống nhất. Trong đó, mỗi
chức năng vừa có tính độc lập tương đối, vừa có mối quan hệ phụ thuộc vào
chức năng khác. Quá trình ra các quyết định quản lý là qua trình thực hiện các
chức năng theo một trình tự nhất định. Nhà quản lý không được bỏ qua hay coi
nhẹ bất kỳ một chức năng nào.
Xem xét nội hàm của khái niệm quản lý, có thể thấy rõ quản lý là một
hoạt động xã hội, trong đó có sự tác động của chủ thể quản lý (người quản lý,
tổ chức quản lý), có sự chịu tác động và thực hiện của khách thể quản lý (người
bị quản lý, đối tượng bị quản lý) để đạt được mục tiêu của tổ chức.
Như vậy, theo chúng tôi, quản lý là “sự tác động có ý thức của chủ thể
quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt

thay đổi của sự vật. Về căn bản, chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn với


14

tính qui định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính qui định ấy. Mỗi
sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất giữa số lượng và chất lượng” – theo Từ điển
tiếng Việt, năm 1999 [22].
“Chất lượng là mức độ mà một tập hợp các đặc trưng vốn có đáp ứng
được các yêu cầu của khách hàng và những người khác có quan tâm” – theo
ISO 9000- 2000 [28].
Trên đây là các khái niệm chung về chất lượng mà khi xét cho từng đối
tượng cụ thể thì cần xét tới cả những điều kiện lịch sử – cụ thể của đối tượng
đó.
1.2.3. Đào tạo nghề
Ngày 29/11/2006, Quốc hội đã ban hành Luật Dạy nghề số
76/2006/QH11. Trong đó viết: "Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang
bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để
có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thanh khóa học"
[16].
Như vậy, đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với
nhau, đó là:
- Dạy nghề: Là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý
thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự
khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp .
- Học nghề: Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực
hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định [14].
ĐTN cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao
động để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn. Đào tạo nghề bao gồm: Đào
tạo công nhân kỹ thuật (công nhân cơ khí, điện tử, xây dựng, sửa chữa...) và

đề cơ bản và là mục tiêu phấn đấu không ngừng của các cấp quản lý giáo dục -


16

đào tạo cũng như các cơ sở đào tạo trực tiếp. Có nhiều cách hiểu khác nhau về
chất lượng ĐTN với những khía cạnh khác nhau.
Quan điểm nguồn lực ở phương Tây cho rằng chất lượng ĐTN phụ thuộc
đầu vào của hệ thống đào tạo. Khi có các yếu tố đầu vào có chất lượng như: giáo
viên giỏi, CBQL giỏi, cơ sở vật chất đầy đủ, học sinh giỏi, ... thì chất lượng
ĐTN được nâng cao. Cũng có quan điểm cho rằng chất lượng ĐTN được đánh
giá bằng sản phẩm của quá trình đào tạo (đầu ra), tức là bằng mức độ hoàn thành
của học viên tốt nghiệp. Một số quan điểm khác lại khẳng định chất lượng ĐTN
được quyết định bởi các quá trình hoạt động bên trong, đặc biệt là hệ thống
thông tin và hệ thống các quyết định tối ưu. Chất lượng đào tạo là kết quả cuối
cùng đạt được bởi sự tác động tích cực của các yếu tố cấu thành quá trình đào
tạo. Chất lượng đào tạo nghề là sự phù hợp với mục tiêu đào tạo nghề.
Có thể khái quát quan niệm này như sơ đồ sau:
MT

GV

HV

Q

ND

PPTP
T

làm, song việc trước hết cần nâng cao nhận thức về công tác ĐTN, đồng thời đổi
mới mạnh mẽ công tác quản lý ĐTN và phương pháp thực hiện. Đây là những
khâu quan trọng góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác ĐTN.
Tóm lại, mặc dù khó có thể đưa ra một định nghĩa về chất lượng trong giáo
dục nghề nghiệp, song các nhà nghiên cứu cũng cố gắng tìm ra cách tiếp cận phổ
biến nhất. Cơ sở của các cách tiếp cận này xem chất lượng là một khái niệm


18

mang tính tương đối, động, đa chiều, và với những người ở các cương vị khác
nhau có thể có những ưu tiên khác nhau khi xem xét nó. Chẳng hạn: đối với giáo
viện dạy nghề và học sinh thì ưu tiên của khái niệm chất lượng phải là ở quá
trình đào tạo, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề phục vụ cho công tác dạy và
học. Còn đối với những người sử dụng lao động, ưu tiên về chất lượng của họ
lại ở đầu ra, tức là ở kiến thức, kỹ năng tay nghề, thái độ nghề nghiệp và năng
lực làm việc của người học sau học nghề... Do vậy, không thể nói tới chất lượng
như một khái niệm nhất thể, chất lượng cần được xác định kèm theo mục tiêu
hay ý nghĩa của nó, và ở khía cạnh này, một trường ĐTN có thể có chất lượng
cao ở lĩnh vực này nhưng ở lĩnh vực khác lại có chất lượng thấp.
Điều này đặt ra một yêu cầu phải xây dựng một hệ thống rõ ràng, mạch lạc
các tiêu chí với những chỉ số được lượng hóa, nêu rõ các phương thức đảm bảo
chất lượng và quản lý chất lượng sẽ được sử dụng trong và ngoài giáo dục nghề
nghiệp với xu hướng tiếp cận dần với chuẩn của khu vực và thế giới nhằm đưa
giáo dục nghề nghiệp Việt Nam hòa nhập với giáo dục nghề nghiệp thế giới.
1.2.5. Quản lý chất lượng đào tạo nghề
Quản lý chất lượng ĐTN thực chất là quản lý các yếu tố sau theo một trình
tự, quy trình vừa khoa học, vừa phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị, đem
lại hiệu quả trong công tác đào tạo. Các yếu tố đó là:
- Mục tiêu đào tạo nghề.

học nghề nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho
lao động nông thôn để họ có được một trình độ, kỹ năng kỹ xảo đối với nghề
nghiệp, có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa
học.
Xét về đối tượng đào tạo, ĐTN cho lao động nông thôn có các đặc điểm
chủ yếu sau:
- Đối tượng ĐTN cho lao động nông thôn có số lượng lớn. Do nguồn lao
động nông thôn không chỉ lớn về số lượng, mà còn thể hiện ở chất lượng của


20

nguồn lao động nông thôn thấp nên yêu cầu đào tạo cao. Năm 2007, lực lượng
lao động nông thôn của cả nước là 34,8 triệu người, chiếm 74,5% tổng lực
lượng lao động, trong đó lao động trong độ tuổi lao động là 32,73 triệu người,
và tỷ lệ lao động nông thôn chưa qua đào tạo người là 81,32% [24].
- Đối tượng ĐTN cho lao động nông thôn rất đa dạng. Thể hiện ở độ
tuổi, trình độ học vấn, trạng thái sức khỏe, điều kiện sản xuất kinh doanh và
hoàn cảnh sống. Bởi vậy, hoạt động ĐTN cho lao động nông thôn cần được tổ
chức linh hoạt, phù hợp với điều kiện cụ thể của đối tượng tham gia học nghề.
- Lao động nông thôn mang tính thời vụ (đặc biệt là bộ phận lao động
sản xuất trực tiếp). Vì vậy, đòi hỏi việc tổ chức ĐTN, tập huấn kiến thức liên
quan về cây trồng vật nuôi cũng phải được sắp xếp phù hợp và kịp thời vụ để
đạt hiệu quả. Đặc điểm này dẫn đến một bộ phận lớn người lao động nông
nghiệp, nông thôn sẽ có thời gian rảnh rỗi, nông nhàn sau mùa vụ. Để tăng thu
nhập, đảm bảo cuộc sống cho lao động nông thôn, công tác ĐTN không chỉ tập
trung vào việc bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng các nghề thuộc lĩnh vực nông,
lâm, ngư nghiệp, mà còn dạy nghề thuộc lĩnh vực công nghiệp, thủ công
nghiệp, thương mại, dịch vụ... nhằm giúp người lao động có thể kiếm thêm
việc làm và sử dụng có hiệu quả hơn nguồn lực lao động.

Tài chính cho ĐTN cũng là một trong những yếu tố cơ bản đảm bảo chất
lượng đào tạo, nó tác động gián tiếp tới chất lượng ĐTN thông qua khả năng
trang bị về cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị giảng dạy, khả năng đào tạo,
bồi dưỡng CBQL, giáo viên, …. Tài chính đầu tư cho ĐTN càng dồi dào thì
càng có điều kiện bảo đảm chất lượng ĐTN.
1.3.2. Đội ngũ giáo viên và CBQL
GVDN là người giữ trọng trách truyền đạt kiến thức lý thuyết cũng như
các kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm của mình cho các học viên trên cơ sở trang
thiết bị dạy học hiện có. Vì vậy, năng lực GVDN tác động trực tiếp đến chất
lượng ĐTN.


22

GVDN phải có đủ cả về số lượng và chất lượng, có đủ về số lượng thì mới
có thể tận tình hướng dẫn, theo sát học viên và đội ngũ giáo viên có chất lượng
thì mới có thể giảng dạy và truyền đạt cho các học viên học nghề một cách
hiệu quả.
Một loại nhân lực khác cũng có ảnh hưởng đến chất lượng ĐTN đó là đội
ngũ CBQL dạy nghề. Trong giai đoạn trước đây, vai trò của các CBQL trong
các cơ sở đào tạo không được đánh giá cao, tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay,
nhất là trước bối cảnh hội nhập quốc tế và cạnh tranh trong lĩnh vực dạy nghề
đòi hỏi đội ngũ CBQL phải là những người thực sự có trình độ. Chất lượng
CBQL cũng có ảnh hưởng rất lớn đến ĐTN, thể hiện qua khả năng tổ chức,
quản lý, điều phối quá trình đào tạo, tìm kiếm cơ hội hợp tác, liên kết đào
tạo…
1.3.3. Người tham gia học nghề
Người tham gia học nghề là nhân tố quan trọng nhất, có tính chất quyết
định đối với công tác ĐTN, nó ảnh hưởng toàn diện tới công tác ĐTN. Trình
độ văn hoá, sự hiểu biết, tâm lý, cá tính, khả năng tài chính, quỹ thời gian…

nội dung cũng như thời gian học.
Giáo trình là những quy định cụ thể hơn của chương trình về từng môn cụ
thể trong đào tạo. Nội dung giáo trình phải tiên tiến, phải thường xuyên được
cập nhật kiến thức mới thì việc đào tạo mới sát thực tế và hiệu quả ĐTN mới
cao.
Trên đây là các yếu tố cơ bản bên trong của quá trình ĐTN. Chất lượng của
các yếu tố này sẽ tác động quyết định tới chất lượng ĐTN.
Tuy nhiên, hệ thống ĐTN vận hành trong môi trường văn hoá, chính trị, xã
hội … nhất định và cũng chịu sự tác động qua lại của điều kiện môi trường.
1.3.6. Một số yếu tố khác
Các yếu tố khác ảnh hưởng tới chất lượng ĐTN cho lao động nông thôn
bao gồm các yếu tố thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: quy hoạch phát triển


24

KT-XH của địa phương, điều kiện tự nhiên, cơ chế chính sách thể chế chính
trị, kinh tế – xã hội, qui mô - cơ cấu lao động, nhận thức xã hội về ĐTN.
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng ĐTN có thể khái quát như sơ đồ sau:

Sơ đồ 3: Các yếu tố tác động đến chất lượng đào tạo
1.4. Phân loại và các hình thức đào tạo nghề
1.4.1. Phân loại đào tạo nghề
Có rất nhiều cách phân loại ĐTN, tùy theo mỗi loại tiêu thức ta có thể phân
loại ĐTN thành các loại hình khác nhau. Trong phạm vi bài này chỉ xét hai tiêu
thức phân loại như sau:
- Căn cứ vào thời gian ĐTN:
+ Đào tạo ngắn hạn: Là loại hình ĐTN có thời gian đào tạo dưới một năm
chủ yếu áp dụng đối với phổ cập nghề.
Loại hình này có ưu điểm là có thể tập hợp được đông đảo lực lượng lao

giai đoạn ĐTN theo diện rộng, thường chiếm từ 70% đến 80% nội dung giảng
dạy và tương đối ổn định. Còn trong giai đoạn học tập chuyên môn, người học
được trang bị những kiến thức chuyên sâu và rèn luyện những kỹ năng, kỹ xảo
để nắm vững nghề đã chọn. Ưu điểm cơ bản của hình thức đào tạo này là: Học


Trích đoạn Các hình thức đào tạo nghề Định hướng đào tạo nghề cho lao động nông thôn ĐTN cho lao động nông thôn phải gắn với sử dụng lao động, giải quyết việc làm sau đào tạo Thăm dò tính cần thiết và khả thi của các giải pháp. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1 Kết luận
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status