DẠY HỌC TÍCH CỰC THÔNG QUA SỬ DỤNG
PHƯƠNG PHÁP THỰC HÀNH THÍ NGHIỆM
TRONG HÓA HỌC 8 Ở TRƯỜNG THCS
A. Phần mở đầu
I. Lý do chọn đề tài
1. Cơ sở lý luận
Một trong những nội dung quan trọng của đổi mới giáo dục phổ
thông hiện nay là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính
tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Đổi mới dạy học là một quá
trình được thực hiện thường xuyên và kiên trì, trong đó có nhiều yếu tố
quan hệ chặt chẽ với nhau. Dạy như thế nào? Học như thế nào để đạt
được hiệu quả học tập tốt nhất là điều mong muốn của tất cả thầy cô giáo.
Muốn thế phải đổi mới phương pháp dạy và học.
Theo chương trình đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường
và đổi mới sách giáo khoa hiện nay, việc sử dụng thiết bị dạy học trong
các tiết học giữ vai trò hết sức quan trọng nhằm đem lại hiệu quả cao
trong quá trình dạy học. Bộ môn Hoá học là một trong các bộ môn mà
việc sử dụng thiết bị dạy học trong các tiết học đặc biệt là trong các tiết
thực hành nhất thiết phải thực hiện thường xuyên hơn.
Bộ môn Hoá học là môn khoa học thực nghiệm vì các kiến thức
đem đến cho người học được rút ra từ các thí nghiệm thực tiễn, nhất là
qua các tiết thí nghệm thực hành. Một trong các phương pháp giáo dục
hiện nay là phương pháp lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh và để phương pháp này đạt hiệu quả
là học sinh cần trực tiếp tham gia vào việc sử dụng thiết bị dạy học trong
các giờ lên lớp trong đó có tiết thực hành.
2. Cơ sở thực tiễn
Nội dung chương trình Hoá học THCS đặc biệt là lớp 8 bao gồm
hình thành các khái niệm, định luật, ... rất trừu tượng đối với học sinh. Vì
vậy nếu giáo viên chỉ truyền thụ những lí thuyết cơ bản như sách giáo
khoa thì học sinh rất thụ động, việc tìm hiểu và phát triển kiến thức mới
hơn khi giờ học có thí nghiệm thực hành và thí nghiệm đối chứng thì tinh
thần học tập càng tốt, càng hăng say, học sinh ít nói chuyện, chú ý bài,
thích làm thí nghiệm, tiếp thu kiến thức nhanh hơn. Song không chỉ đơn
thuần là hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm hay giáo viên biểu diễn thí
nghiệm mà phải làm thế nào để một giờ học đạt hiệu quả cao, phát huy
hết vai trò của thí nghiệm, để qua đó phát huy tính chủ động tích cực của
học sinh. Bằng cách so sánh đối chiếu sẽ hình thành cho học sinh những
kiến thức cơ bản, phổ thông và cụ thể về Hoá học. Đó là vấn đề làm tôi
băn khoăn và cũng là lí do tôi chọn đề tài “Dạy học tích cực thông qua sử
dụng phương pháp thực hành thí nghiệm trong Hoá học 8 ở trường
THCS” để nghiên cứu.
II. Mục đích và phương pháp nghiên cứu
1. Mục đích nghiên cứu:
Tiết thực hành Hóa học là không thể thiếu trong chương trình bộ môn
Hóa học nói chung, mục đích nghiên cứu sáng kiến “Dạy học tích cực
thông qua sử dụng thực hành thí nghiệm ở môn Hóa học 8” của tôi nhắm
đáp ứng tốt hơn nữa yêu cầu bộ môn trong nhà trường, giúp học sinh lĩnh
hội kiến thức tốt hơn, đầy đủ hơn và toàn diện hơn.
Nhằm giúp bản thân tôi tự bồi dưỡng kiến thức, nâng cao chuyên môn
theo yêu cầu chung về bồi dưỡng chuyên môn thường xuyên, từ đó nâng
cao chất lượng giảng dạy bộ môn Hóa học trong nhà trường THCS và rút
kinh nghiệm qua các thí nghiệm thực hành.
2. Phương pháp nghiên cứu:
Xuất phát từ các tiết dạy lý thuyết, thực hành để có được những hiểu
biết, nắm được các yêu cầu khách quan chủ quan để vận dụng vào một
Trang 2
khối lớp cụ thể. Nghiên cứu, so sánh kết quả học tập nắm bắt được kỹ
năng thực hành của học sinh, hiểu biết của học sinh giúp cho việc giảng
thuật.
Thí nghiệm giúp học sinh dễ hiểu bài và hiểu sâu sắc hơn, đồng
thời còn góp phần rèn luyện cho các em phẩm chất đạo đức của người
làm công tác hóa học, từ đó góp phần nâng cao hứng thú học tập cho học
sinh.Với tầm quan trọng như trên, đặc biệt là trong việc đổi mới phương
pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh, mỗi người
giáo viên phải biết sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học và phát
huy hết vai trò của thí nghiệm hóa học, sử dụng một cách có hiệu quả,
Trang 3
khoa học, góp phần quan trọng trong học tập. Thí nghiệm tích cực giúp
học sinh khai thác nguồn kiến thức, tìm kiếm nguồn kiến thức mới dưới
nhiều hình thức khác nhau dưới sự điều khiển, chỉ đạo của giáo viên, từ
đó giúp học sinh phát huy tính tích cực. Vì vậy, giáo viên phải biết cách
tổ chức, để học sinh tìm ra kiến thức mới một cách phong phú, linh hoạt,
tiết học có hiệu quả tránh được sự nhàm chán mà trở nên sinh động hơn.
II. Cơ sở thực tiễn
Thực tế giảng dạy môn hóa học trong nhiều năm qua phần lớn học
sinh chưa biết hoặc còn lúng túng khi tiến hành thí nghiệm, chưa phát huy
được tính tích cực của mình.Vì thế chưa phát triển tư duy, óc sáng tạo,
hình thành kỹ năng kỹ xảo trong thực hành thí nghiệm hóa học để thích
ứng theo hướng học tập ngày nay học phải đi đôi với hành (lý thuyết gắn
liền với thực tiễn). Mà phần lớn các em chỉ chờ đợi những kiến thức sẵn
có của giáo viên rồi các em ghi chép một cách máy móc thụ động. Vì thế
dẫn đến tình trạng các em học yếu kém môn hóa học còn nhiều.
Ví dụ: các em học thuộc và nêu được tính chất hóa học của oxi là
oxi tác dụng với phi kim lưu huỳnh (rắn) tạo ra khí lưu huỳnh đioxit, oxi
tác dụng với photpho tạo ra điphotphopentaoxit (P 2O5). Hoặc tác dụng
với kim loại sắt tạo ra oxit sắt từ (Fe 3O4) và tác dụng với hợp chất khí
nước khấy cho tan thu được dung dịch nước đường mà giáo viên không
làm thí nghiệm kiểm chứng hoặc không cho học sinh tiến hành thí
nghiệm để rút ra kết luận. Giáo viên chỉ cho học sinh ghi nhớ thụ động,
máy móc cho nên các em chưa biết làm thí nghiệm hóa học, không biết
quan sát hiện tượng thí nghiệm. Vì vậy tình trạng học tập của học sinh
chưa đáp ứng với yêu cầu mong muốn của xã hội ngày nay.
* Thuận lợi:
- Giáo viên: Được nhà nước và các cấp quản lý quan tâm trao dồi kiến
thức, tài liệu tự học tự nghiên cứu và cung cấp trang thiết bị: dụng cụ, hóa
chất,… tương đối đầy đủ. Tạo điều kiện cho giáo viên học các lớp bồi
dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng
dạy. Ngoài ra còn được học hỏi trao đổi ở các đồng nghiệp cùng bộ môn
hoặc ở các chuyên môn khác có liên quan. Từ đó đã giúp tôi sử dụng thí
nghiệm hóa học trong dạy học tốt hơn và đạt nhiều kết quả nhằm nâng
cao chất lượng học tập của học sinh.
- Học sinh: Phần lớn học sinh có học lực từ trung bình trở lên có ý chí
nỗ lực, tích cực, có lòng say mê hứng thú học tập môn Hóa.
* Khó khăn:
- Về cơ sở vật chất còn hạn chế (chưa có phòng thí nghiệm riêng biệt)
- Phương tiện: Tranh ảnh còn hạn chế.
- Dụng cụ và hóa chất chưa đáp ứng đầy đủ 100% các thí nghiệm.
- Một số học sinh còn lười học, chưa chịu khó lại thiếu tự tin trong thực
hành thí nghiệm hóa học, chưa xác định mục tiêu học tập, thiếu ý chí
nghị lực, không phát triển năng lục tự học. Chỉ chờ đợi kết quà sẳn có từ
phía giáo viên.
IV. Các biện pháp giải quyết vấn đề
1. Đưa ra vấn đề:
Với thực trạng như trên, tôi đã cho học sinh thực hiện các câu hỏi bài
tập kiểm tra với nội dung như sau:
1/.Trong số những quá trình kể dưới đây đâu là hiện tượng hóa học,
Tỉ lệ
Số
hs
8A1
28
3
10,7%
6
8A2
25
1
4%
4
Tỉ lệ
Trung
bình
Số
7,2%
8
32%
3
12%
Với kết quả như trên, tôi nhận thấy việc sử dụng thí nghiệm hóa học
trong dạy học theo hướng tích cực là hết sức cần thiết. Bởi vì, thông qua
công việc này sẽ giúp cho học sinh nhận biết các hiện tượng hóa học một
cách dễ dàng, chính xác. Đồng thời rèn luyện cho các em kĩ năng sử dụng
thí nghiệm, quan sát và giải thích hiện tượng hóa học, vì vậy mà phương
pháp này đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao hứng thú học tập
trong bộ môn Hóa học, và quan trọng hơn là phương pháp này sẽ bồi
dưỡng năng lực tự học cho học sinh, có khả năng vận dụng kiến thức đã
học vào thực tế cuộc sống.
2.Giải quyết vấn đề
Để giúp học phát huy được tính tích cực ở môn Hóa học 8, giáo viên
phải biết lựa chọn các phương pháp thực hành thí nghiệm cho phù hợp
với từng nội dung bài học, giúp học sinh tự tìm ra kiến thức mới với sự tổ
chức, điều khiển của giáo viên. Sau đây là một số phương pháp sử dung
thí nghiệm hóa học trong dạy học ở bộ môn Hóa 8 mà tôi nhận thấy đã
mang lại hiệu quả cao trong thời gian qua. Cụ thể như sau:
2.1 Sử dụng thí nghiệm trong bài lí thuyết:
Phương pháp thí nghiệm là phương pháp hóa học mang đặc thù của
khoa học Hóa Học – khoa học thực nghiệm. Thí nghiệm hóa học được sử
dụng theo đúng mục đích và là nguồn học sinh khai thác, tìm tòi, phát
một tính chất, một quy luật mà giáo viên đã nêu ra.
*.Mức 2 (tích cực)
Giáo viên nêu vấn đề cần tìm hiểu: Tính chất hóa học, quy luật chưa
biết…
Giáo viên hoặc một học sinh biểu diễn thí nghiệm.
Học sinh: nghiên cứu thí nghiệm biểu diễn:
-Học sinh nắm được mục đích của thí nghiệm.
-Học sinh quan sát, mô tả hiện tượng.
-Học sinh giải thích hiện tượng.
Học sinh rút ra kết luận (tính chất của chất, một quy luật, một kết
luận về khả năng phản ứng)
*.Mức 3 (rất tích cực)
Giáo viên: nêu hoặc hướng học sinh phát hiện vấn đề cần tìm hiểu như
tính chất hóa học, quy luật chưa biết…
Nhóm học sinh nghiên cứu thí nghiệm đồng loạt hoặc không đồng
loạt.
Trang 7
-Học sinh nắm được mục đích của thí nghiệm.
-Học sinh làm thí nghiệm.
-Học sinh quan sát, mô tả hiện tượng.
-Học sinh giải thích hiện tượng.
-Học sinh rút ra kết luận (tính chất của chất, một quy luật, một kết
luận về khả năng phản ứng…)
Khi sử dụng thí nghiệm hóa học cần lưu ý một số vấn đề sau:
-Chú ý tới mục đích của thí nghiệm.
-Điều kiện dụng cụ, hóa chất để chọn nội dung thí nghiệm, cách tiến
hành (do giáo viên hay học sinh thực hiện)
-Chú ý hướng dẫn học sinh khai thác một cách có hiệu quả nhằm giúp
Nước lỏng
nước
Đông đặc
Hơi
Ngưng tụ
? Nhận xét về sự biến =>Trong quá trình trên có sự biến đổi về trạng
Trang 8
đổi của nước trong quá
trình trên?
?Nước có giữ nguyên là
chất ban đầu không?
-Yêu cầu học sinh làm
thí nghiệm.
+Hòa tan muối ăn vào
nước quan sát.
+Đun cạn nước muối
quan sát.
-Giáo viên ghi sơ đồ của
quá trình biến đổi.
?Qua 2 thí nghiệm trên
em có nhận xét gì?
(trạng thái, về chất)
?Các quá trình biến đổi
đó gọi là hiện tượng vật
lí. Vậy em hiểu như thế
-Quan sát thí nghiệm giáo viên biểu
diễn nhận xét
+Phần 1: Đưa nam châm lại gần thì
nam châm hút sắt
+Phần 2: Đun hỗn hợp nóng sáng
lên chuyển sang màu xám
-Giáo viên biểu diễn thí nghiệm
Yêu cầu học sinh quan sát.
-Đưa nam châm lại gần sản phẩm
phần 2 Yêu cầu học sinh nhận
xét.
-Đốt sản phẩm Học sinh quan
sát. Từ đó rút ra kết luận gì?
-Giáo viên hướng dẫn HS làm thí
nghiệm 2 đun nóng đường theo
nhóm:
=>Học sinh tự rút ra kết luận: Fe và
S đã biến đổi FeS (đó là hợp
chất sắt (II) sunfua)
=>Sản phẩm không bị nam châm
hút.
-Học sinh thực hiện theo nhóm
Đại diện của các nhóm báo cáo kết
Trang 9
?Quan sát và nhận xét hiện tượng?
nghiệm?
-Biểu diễn thí nghiệm, yêu cầu học
sinh trả lời
-Đọc thông tin sách giáo khoa trang
81 Quan sát thí nghiệm nhận xét
hiện tượng
=>1 học sinh trả lời, học sinh khác
nhận xét và bổ sung
-Đưa muỗng sắt chứa 1 ít bột lưu
huỳnh vào ngọn lửa đèn cồn nhận
xét hiện tượng ?
-Đưa lưu huỳnh đang cháy vào lọ có
chứa khí oxi. So sánh các hiện tương
lưu huỳnh cháy trong oxi và trong
không khí ?
cho học sinh viết phương trình phản
ứng
b.Với photpho
-Giáo viên yêu cầu học sinh đọc nội
Trang 10
=>Không có hiện tương hóa học xẩy
ra
=>Lưu huỳnh cháy trong không khí
với ngọn lửa nhỏ,màu xanh nhạt; cháy
trong khí oxi mãnh liệt hơn, tạo thành
khí lưu huỳnh đioxit SO2 (còn gọi là
Học sinh viết phương trình hóa học
t0
4P(r) +5O2 (k) →
2P2O5 (r)
-Qua hai thí nghiệm trên em hãy cho -Học sinh rút ra kết luận: Khí oxi là
biết khả năng phản ứng của khí oxi một đơn chất phi kim rất hoạt động,
với phi kim như thế nào?
đặc biệt ở nhiệt độ cao, dễ dàng tham
-Thế còn với các chất khác như kim gia phản ứng hóa học với nhiều phi
loại, hợp chất thì oxi sẽ phản ứng thế kim.
nào giờ sau các em sẽ học.
Ví dụ 3: Khi dạy về phương pháp tách chất ra khỏi hỗn hợp tôi đã sử
dụng thí nghiệm như sau:
Hoạt động của Giáo viên
Hoạt động của Học sinh
Giáo viên yêu cầu học sinh làm thí
làm thí nghiệm theo nhóm. đại diện
nghiệm:
nhóm báo cáo kết quả
- Bỏ muối ăn vào nước khuấy
- Bỏ muối ăn vào nước khuấy
muối tan
- Đun cạn muối thu được nước muối
- Đun cạn hỗn hợp thu được
?Nhận xét kết quả thí nghiệm?
?Dựa vào tính chất gì mà ta có thể =>Dựa vào nhiệt độ sôi khác nhau của
tách được muối ra khỏi hỗn hợp nước muối và nước.
muối?
này, khi tiến hành cần phải thực hiện theo quy trình sau:
* Đối với giáo viên:
-Cần chuẩn bị trước dụng cụ và hóa chất đầy đủ phù hợp với tính chất
nội dung của bài.
-Thí nghiệm phải đảm bảo an toàn và thành công.
-Thí nghiệm dễ thực hiện.
-Hướng dẫn học sinh quan sát thí nghiệm, nêu hiện tượng và giải
thích hiện tượng.
*Đối với học sinh:
-Thí nghiệm theo sự hướng dẫn, tổ chức của giáo viên
-Thí nghiệm theo nhóm: tích cực, an toàn, thành công
-Học sinh quan sát, mô tả hiện tượng và rút ra kết luận
-Học sinh viết tường trình thí nghiệm
-Học sinh nắm được mục đích, cách tiến hành thí nghiệm
Ví dụ 1 Khi dạy bài: “ Thực hành 2 : Sự lan tỏa của chất”
Hoạt động của Giáo viên
Hoạt động của Học sinh
*.Thí nghiệm 1: Sự lan tỏa của
ammoniac
Trang 12
-Giáo viên: chuẩn bị dụng cụ
và hóa chất như sau: Bông
thấm, ống nghiệm thủy tinh,
nút cao su, giấy quỳ tím
-Phân phát dụng cụ và hóa chất
Tên thí
nghiệm
Hiện tượng thí
nghiệm
1
Sự lan tỏa Dung
của
amoniac
amoniac
quỳ tím
nước đổi
màu xanh
2
Sự lan tỏa
của
kali
pemanganat
trong nước
dịch
làm
tẫm
sang
có tan hết không ? Quan sát
màu của dung dịch trong 2
ống nghiệm
*.Thí nghiệm 2: Thực hiện
phản ứng với canxi hiđroxit
Giáo viên chuẩn bị ống
thủy tinh, ống nghiệm đựng
dung dịch nước vôi trong,
dung dịch natri cacbonnat
Giáo viên: hướng dẫn học
sinh tiến hành thí nghiệm
a.Dùng ống thủy tinh
thổi hơi thở lần lượt vào ống
nghiệm 1 đựng nước, ống
nghiệm 2 đựng nước vôi
trong quan sát hiện tượng.
b.Đổ dung dịch natri
cacbonnat lần lượt vào ống
nghiệm 1 đựng nước và ống
ngiệm 2 đựng nước vôi trong
Quan sát trong mỗi ống
nghiệm.
Giáo viên hướng dẫn học
sinh viết tường trình theo
bảng.
Trang 14
-Học sinh thực hiện theo nhóm
at
-Ống nghiệm 1 : thấy thuốc
tím tan trong nước->Hiện
tương vật lí.
-Ống nghiệm 2 : khi đun
nóng, có sự chất mới xuất
hiện (hiện tượng hóa học)
2
Thực
hiện
phản
ứng
với
canxi
hiđro
xit
-Dùng ống thủy tinh thổi vào
trong ống nghiệm 2 đựng
nước vôi trong, thấy nước
vôi trong vẫn bị đục, thổi
vào ống nghiệm 1 đựng
nước không có hiện tượng
gì.
Phương trình : Canxi
hiđroxit +cacbon đioxit
Canxicacbonat+
thật chu đáo trước khi lên lớp, giáo viên phải làm thí nghiệm trước mới
có thể dự đoán tính toán được hàm lượng hóa chất dùng cho thí nghiệm
như thế nào là vừa đủ, vừa bảo đảm kết quả thành công nhất, vừa không
lãng phí hóa chất. Giáo viên làm thí nghiệm trước mới có thể dự đoán
những kết quả khác có thể xảy ra và biết cách xử lí những sản phẩm độc
hại trong quá trình làm thí nghiệm. Khi làm thí nghiệm trước, giáo viên
còn có thể biết trước những tình huống sẽ xảy ra, đảm bảo tính khoa học
và thực tiễn của thí nghiệm. Bởi vì khi sử dụng thí nghiệm hóa học: bắt
buộc thí nghiệm phải thành công, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho giáo viên
và học sinh; thí nghiệm phải rõ, học sinh phải được quan sát đầy đủ; thí
nghiệm phải đơn giản, dụng cụ gọn gàng mỹ thuật; số lượng thí nghiệm
hợp lí, gắn bó chặt chẽ với bài giảng.
Vì vậy, sau khi sử dụng phương pháp thí nghiệm hóa học trong dạy
học cho thấy các em dễ tiếp thu kiến thức, giúp học sinh khắc sâu kiến
thức, phát triển năng lực tự học, tư duy và sáng tạo trong học tập. Các em
biết vận dụng nội dung bài học để thực hiện giải các bài tập trong sách
giáo khoa, và một số bài tập có liên quan ở bộ môn Hóa Học 8.
Để việc học tập của các em có hiệu quả, tôi thường xuyên kiểm tra
đánh giá bằng cách kiểm tra tại lớp, cho thêm một số bài tập về nhà. Sau
đó cho các em trình bày, giáo viên nhận xét đánh giá và kịp thời sửa chữa
sai sót. Ngoài ra, còn tổ chức cho các em học tập theo nhóm, theo đôi bạn
ở trường hoặc ở nhà tạo điều kiện cho các em khá giỏi giúp đỡ các em
học yếu, kém để cùng nhau tiến bộ. Bên cạnh đó, giới thiệu cho các em
tìm đọc các sách nâng cao về Hóa Học giúp các em mở rộng thêm kiến
thức của mình. Từ đó tạo điều kiện cho các em phát huy năng lực tự học,
sáng tạo trong học tập đối với bộ môn.
V. Hiệu quả áp dụng
Qua nhiều năm giảng dạy môn Hóa Học, tôi đã rút ra được phương
pháp vừa nêu trên thấy rất cần thiết cho học sinh. Giúp cho học sinh tiếp
Trang 17
Số
hs
Tỉ lệ
Số
hs
Tỉ lệ
8A1
28
11
39,3%
12
42,9%
6
417,8%
0
0%
I. Ý nghĩa của sáng kiến đối với công tác giảng dạy
Như vậy việc sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học môn
Hóa Học có vai trò rất to lớn, nó vừa nâng cao chất lượng giảng dạy của
giáo viên đồng thời nâng cao chất lượng học tập của học tập của học
sinh. Với xu thế đổi mới hiện nay đòi hỏi học sinh phải có một kiến thức
nhất định. Cho nên việc đổi mới phương pháp học tập ngày nay giúp cho
học sinh biết tự học, tự tìm ra kiến thức dưới sự tổ chức của giáo viên, vì
thế giúp các em có khả năng phát triển tư duy, tính sáng tạo trong học tập.
Bên cạnh đó phương pháp này còn rèn luyện cho học sinh kỹ năng thực
hành thí nghiệm, kỹ năng phân tích, so sánh và giải thích các hiện tượng
hóa học. Đặc biệt hơn là thông qua phương pháp thí nghiệm này giúp các
em dễ hiểu bài, tiếp thu nhanh hạn chế tình trạng thụ động, biết hình
thành bản thân thói quen tự học để đạt kết quả cao.
II. Khả năng áp dụng sáng kiến
Trên thực tế sáng kiến này đã được đi vào áp dụng từ hơn 2 năm
qua tại trường TH-THCS Đinh Công Bê, xã Mỹ Thọ – Huyện Cao Lãnh –
Trang 18
tỉnh Đồng Tháp và đã đạt nhiều thành tựu: số học sinh biết sử dụng các
thiết bị thí nghiệm thực hành ngày càng tăng thêm rất nhiều, học sinh
ngày càng tự tin hơn, tích cực hơn trong khi làm thí nghiệm thực hành
không còn lùng túng và thực hành thí nghiệm thành công hơn.
Nếu sáng kiến được nhân rộng hơn ở nhiều bộ môn có thực hành
thí nghiệm trong trường thì sẽ đem lại hiệu quả giáo dục cao hơn.
III. Bài học kinh nghiệm, hướng phát triển
- Để cho việc học tập của học sinh có hiệu quả cao, giáo viên cần
phải có nguồn kiến thức phong phú, đa dạng biết sử dụng phương pháp
thí nghiệm phù hợp với nội dung từng bài học. Mỗi thí nghiệm giáo viên
nên chuẩn bị dụng cụ và hóa chất đầy đủ phù hợp và có thực hiện trước
Trang 19
dạy của tôi ngày càng được nâng cao và sáng kiến kinh nghiệm của tôi
được hoàn thiện hơn.
Người viết
Nguyễn Thị Diệu Hiền
Tài liệu tham khảo:
1. Phương pháp dạy học Hóa học THCS – tập 1,2 – Nguyễn Cương,
Nguyễn Mạnh Dung, Nhà xuất bản Giáo Dục.
2. Thí nghiệm thực hành Hóa học ở trường THCS. Nhà xuất bản
Giáo Dục 2004 – Trần Quốc Đắc.
3. Phương pháp dạy học thí nghiệm thực hành Háo học tập 3, Nhà
xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội 2005 – Nguyễn Cương, Nguyễn
Xuân Trường.
Trang 20