LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Nước sạch là một nhu cầu hết sức cấp thiết trong đời sống hàng ngày của mọi
người. Hiện nay, nó đang trở thành một đòi hỏi hết sức cấp thiết trong việc bảo vệ
sức khoẻ và cải thiện điều kiện sinh hoạt cho người dân. Việt Nam là một nước
tăng dân số nhanh là quốc gia có số dân đông thứ 12 trên thế giới chủ yếu tỉ lệ
tăng dân số tập trung tại các thành phố lớn nên nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt ở
thành phố là rất lớn. Trong đó, Tp.HCM là một điển hình nhưng nhu cầu sử dụng
nước sạch của người dân ở một số khu vực ngoại thành chưa được đáp ứng đủ.
Nhiều nơi nước sạch chưa tới thì người dân phải sử dụng nước giếng cho dù chất
lượng nguồn nước không đảm bảo. Nhiều nơi, nước giếng nhiễm phèn nặng, mà
nước máy thì yếu hay chưa tới thì người dân phải mua nước máy với giá rất cao.
Cùng với tốc độ tăng dân số là lượng chất thải sinh hoạt cũng tăng và chất thải của
các khu công nghiệp được dẫn ra sông, kênh rạch làm cho tình hình thiếu nước
sạch đã thiếu càng thêm thiếu. Những câu chuyện liên quan đến nhu cầu tối thiểu
của người dân là nước sạch đang là nỗi nhức nhối của Tp. HCM.
Trước tình trạng về nhu cầu sử dụng nước sạch trong sinh hoạt, cũng như về sản
xuất của người dân nên cần phải có giải pháp hữu hiệu để giải quyết tình trạng
trên.
Vì vậy “Hiện trạng cung cấp nước sạnh tại một số phường ngoại thành tại tp.HCM.
Giải pháp khắc phục” được hình thành nhằm phần nào làm rõ hơn về thực trạng
cung cấp nước sạch tại một số phường ngoại thành Tp.HCM nhằm tìm ra giải pháp
và nâng cao hiệu quả cho vấn đề trên.
Trang 1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Góp phần cải thiện tình hình cung cấp nước tại các vùng ngoại thành
Tp.HCM.
- Điều tra hiện trạng về tình hình cung cấp nước tại một số phường ngoại
thành tại tp.HCM.
b) Phương pháp khảo sát thực đòa:
Đây là giải pháp đánh giá được thực tế và có tầm quan trọng. Phương pháp
này có thể đánh giá hiện trạng cung cấp và chất lượng nước sạch một cách rõ rệt.
Căn cứ theo các thông tin, số liệu và bản đồ các quận huyện trong Tp.HCM để xác
đònh cụ thể vùng nghiên cứu. Đề tài hiện trạng cung cấp nước tại một số vùng
ngoại thành Tp.HCM các điểm khảo sát cụ thể là:
- Quận Thủ Đức: phường Hiệp Bình Phước, phường Bình Chiểu, phường Linh
Xuân.
- Huyện Nhà Bè: Thò trấn Nhà Bè, xã Phú Xuân, xã Long Thới
- Quận Bình Tân: phường Bình Trò Đông A, phường Tân Tạo, Bình Hưng Hoà.
Trang 3
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
c) Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu:
Phương pháp này đánh giá được tình hình chung của hiện trạng cấp nước của
các vùng ngoại thành Tp. HCM. Do đó, việc thu thập các tài liệu liên quan là hết
sức cấp thiết:
- Tài liệu của các công ty cấp nước cho khu vực điều tra.
- Hiện trạng cấp nước tại khu vực điều tra.
- Tiến hành khảo sát: đi đến từng hộ dân.
- Lấy mẫu và phân tích các mẫu nước ở các khu vực khảo sát.
- Các mẫu được phân tích với các chỉ tiêu: pH, sắt tổng cộng, TS ( chất rắn tổng
cộng), nitrat, amoni, clorua, colifom, e.coli.
d) Phương pháp điều tra xã hội học:
Đây là phương pháp điều tra thông tin dưới dạng phiếu điều tra.
- Xây dựng phiếu điều tra : phiếu điều tra được xây dựng dưới hình thức đặt câu
hỏi trực tiếp đối với người dân bao gồm các phần: nguồn cấp, chất lượng nguồn
cấp, lưu lượng …
- Tiến hành điều tra: việc điều tra được tiến hành phỏng phấn trực tiếp người
dân theo các nội dung trong phiếu điều tra đã được chẩn bò trước.
5. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI :
dùng để làm nước cấp cho Tp.HCM. Theo thống kê của công ty cấp nước Sawaco
thì lượng nước cấp được lấy từ nước mặt là 93,6% với tổng lưu lượng là 1 265000
m3/ngày. Nước sông Đồng Nai được các công ty cấp nước Bình An, Thủ Đức BOO
Trang 5
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
xử lý. Nước sông Sài Gòn được công ty cấp nước Tân Hiệp xử lý. Hiện trạng chất
lượng nước sông Sài Gòn, Đồng Nai đang bò suy giảm. Đối với nước sông Sài Gòn
thì nồng độ các chất luôn biến đổi pH thấp khoang từ 5-6, hàm lượng Mn cao,
muối NH4 cao thường là 1,2 g/l. Sự ô nhiễm sông Sài Gòn, Đồng Nai gây khó
khăn cho các nhà máy xử lý nước cấp của Tp.HCM. Hiện tại thì các nhà máy vẫn
xử lý đạt tiêu chuẩn nhưng về lâu dài thì cần có các biện pháp hữu hiệu để khắc
phục tình trạng ô nhiễm của các dòng sông nhất là sông Đồng Nai, sông Sài Gòn
vì đây là nguồn nước mặt của dùng được làm nước cấp cho Tp.HCM. Hiện nay thì
cũng có những nghiên cứu về sự ô nhiễm của nước sông Sài Gòn về lâu dài thì
những nghiên cứu này sẽ giúp cho các cơ quan chức năng trong việc giải quyết
tình trạng ô nhiễm của dòng sông. Nhưng hiện tại thì vẫn chưa có biện pháp hữu
hiệu cải thiện môi trường nước tại các dòng sông.
2.1.2 Nước ngầm:
Hiện trạng nguồn nước ngầm tại Tp.HCM đang xuống cấp do tình trạng
khai thác nguồn nước ngầm tuỳ tiện ở nhiều nơi. Nên nhiều nơi có tình hình sụt lún
tầng nước ngầm, cạn kiệt nguồn nước ngầm như ở một số nơi như huyện Bình
Chánh, Củ Chi đã có hiện tượng thiếu hụt nguồn nước giếng. Mặt khác do một số
giếng khoan bỏ vì hư hỏng là con đường dẫn các chất thải xuống tầng nước ngầm
làm ô nhiễm nguồn nước ngầm.. Ngoài ra, nguồn nước ngầm bò ô nhiễm do bò
nhiễm nước thải của các khu công nghiệp. Dẫn đến chất lượng nguồn nước ngầm
giảm sút trầm trọng. Nguồn nước ngầm này sẽ ảnh hưởng đén các hộ dân sử dụng
nước giếng khoan.
Trang 6
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
2.2 HIỆN TRẠNG CUNG CẤP NƯỚC SẠCH VÀ NHU CẦU SỬ DỤNG TẠI
bồn cung cấp nước cho các khu vực trên nhưng vẫn không đủ so với tình hình sinh
hoạt của người dân. Nhiều nơi ngoại thành Tp. HCM nguồn nước máy vẫn chưa về
tới nên nhiều người dân, cơ sở, doanh nghiệp phải sử dụng nước giếng làm giải
pháp cho vấn đề thiếu nước nhưng nước giếng chỉ có thể tắm,giặt… chứ không thể
sử dụng nước làm nước ăn, uống vì nước ngầm có phèn, nồng độ sắt cao, có mùi.
Nên nhiều người dân ở nhiều khu vực ngoại thành phải bỏ công việc đi mua nước
máy từ sáng sớm vì nước bồn từ các công ty cấp nước thành phố cấp không đủ cho
tất cả người dân ở khu vực thiếu nước đó sử dụng như một số phường ở Quận Thủ
Đức, Tân Phú, Quận 8, Quận 9, Quận 7… tình trạng thất thoát nước tại Tp.HCM
khá lớn. Theo số liệu của tổng công ty Sawaco thì lượng thất thoát lên tới 40,19%.
Tình trạng thất thoát là do đường ông xuống cấp nên thường bò bể, rò rỉ đường ống.
Nếu tình trạng thất thoát nước được khắc phục thì sẽ giải quyết tình hình thiếu
nước cho nhiều hộ dân. Ngoài ra, gần đây, do tình trạng thường xuyên cúp điện
nên một số nơi nước yếu vì không bơm được nước từ các trạm bơm nước.
2.2.2 Nhu cầu sử dụng nước của người dân:
Nhu cầu sử dụng nước của người dân ngày một tăng. Chúng ta đã biết tình
hình tăng dân số ở Sài Gòn là rất cao. Là thành phố sôi động nên thu hút nhiều
người nhập cư nên nhu cầu sử dụng nước ở Tp.HCM ngày càng tăng. Nên việc
quản lý và cấp nước sinh hoạt cho người dân cũng gặp nhiều bất cập. Cho nên các
nhà máy cũng phải tăng công suất cung cấp nước cho người dân nhưng vẫn chưa
đủ cho nhu cầu sử dụng của người dân.
Trang 8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn nước:
Tình hình chất lượng nước sông Sài Gòn đang xuống cấp cũng gây ảnh
hưởng cho việc xử lý nguồn nước cấp.
Do sự biến đổi khí hậu trong những năm vừa qua làm cho mực nước biển
dâng cao. Nếu tình trạng ngập mặn do nước biển dâng cao thì việc gây bất lợi cho
việc hoạt động của các công ty cấp nước. Thì tình trạng thiếu nước ngọt của Tp.
HCM thiếu sẽ càng thêm thiếu.
Thuỷ đài
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
2.2.4.2. Quy trình công nghệ xử lý nước của công ty cổ phần cấp nước
Thủ Đức:
Hình 2.2: Quy trình công nghệ xử lý nước cấp của công ty cổ phần cấp nước
Thủ Đức.
(Nguồn: tổng công ty cấp nước Sawaco.)
Trang 11
Bể giao liên
Bể trộn sơ cấp
Bể phản ứng
Bể phân phối nước
Bể lắng ngang
Bể lọc nhanh
Nước thô từ trạm bơm tới
Bể trộn thứ cấp Bể chứa nước sạch
Đồng hồ
thu nước
Dung dòch
Clochor liquid
Clor, dung dòch
fluor liquid, dung
dòch vôi Alum
liquid
Đồng hồ đo lưu
lượng nước sạch
Bể chứa nước rửa lọc
Trạm bơm
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CHƯƠNG 3 : ĐÁNH GIÁ, KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG CẤP
Nhà Bè là một trong những huyện có hệ thống kênh rạch phức tạp nhất của
Tp.HCM, đòa bàn huyện Nhà Bè bò phân cắt, mùa mưa thường xảy ra ngập úng,
ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống người dân cùng các hoạt động sản
xuất nông nghiệp.
c) Khí hậu:
Huyện Nhà Bè nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm với các đặc điểm
sau:
- Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đén tháng 11,
mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau và không có mùa đông.
- Lượng mưa trung bình của huyện Nhà Bè thấp hơn so với lượng nước mưa
trung bình của toàn thành phố ( 10898mm so với 1979 mm).
- Nhiệt độ trung bình trong năm khá cao 27ºC, cao nhất là vào tháng 4 thấp
nhát là vào khoảng giữa tháng 12 và tháng 1.
Trang 14
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- Độ ẩm không khí trung bình 79,5%
- Nhà bè chòu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính là gió mùa Tây Nam và gió
mùa Đông Bắc.
d) Chế độ thuỷ văn:
+ Nguồn nước mặt:nước mặt ở Nhà Bè đang bò xâm mặt nên nguồn nước bò
nhiễm mặm.
+ Nguồn nước ngầm:nguồn nước phần lớn đều bò nhiễm phèn trong các
tháng mùa khô nên ảnh hưởng đến việc khai thác sử dụng.
e) Đòa chất:
Đất tại Nhà Bè thuộc loại đất trẻ, đang được hình thành, đòng thời cũng
mang niều yếu tố bất lợi cho sản xuất nông nghiệp do có tính chất phèn và mặn.
Có thể chia đất Nhà Bè thành các nhóm chính sau:
- Nhóm chất phù sa: có tổng diện tích khoảng 1873 ha, chiếm 18,96 % diện tích
toàn huyện, loại đất này phổ biến ở Bắc huyện Nhà Bè. Gồm các xã: Phước
Kiểng, Long Thới, Phú Xuân, một phần xã phước Lộc và Nhơn Đức.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
trong 5 năm 202.930 triệu đồng, bình quân mỗi năm tăng 36,16%. Riêng trong
tháng 8/2008, giá trò sản xuất ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp đạt 7,655
tỷ đồng, đạt 58,12% so với kế hoạch năm và tăng 5,99% so với cùng kỳ năm 2007.
• Thương mại – Dòch vụ:
Từ năm 1975 – 1985, Huyện đã xây dựng được một hệ thống thương nghiệp
quốc doanh và hợp tác từ xã đến nông thôn, đảm bảo lưu thông phân phối và phục
vụ đời sống của nhân dân. Từ 1986 đến 1997, mặc dù lónh vực này gặp nhiều khó
khăn nhưng sau vài năm ổn đònh và phát triển, đã có sự chuyển biến tích cực. Giai
đoạn 2001 – 2005, tổng mức thu hàng hoá và dòch vụ là ra đạt 3.633.624 triệu
đồng, bình quân mỗi năm tăng 37,97%. Trong tháng 8/2008, tổng doanh thu ngành
thương mại – dòch vụ đạt 210,562 tỷ đồng.
b) Xã hội:
• Dân cư:
Tại thời điểm tháng 4/1997, dân số Nhà Bè là khoảng 63 000 người. Năm
1999, số liệu điều tra thống nhất, dân số Nhà Bè là 63.450 người, trong đó 32.015
là nữ. Năm 2002, dân số huyện tăng lên 67. 688 người,trong đó nữ chiếm 37.773
người. Năm 2006, theo số liệu của Cục Thống kê thành phố, dân số Nhà Bè là
74,945 người. Đến năm 2010 thì huyện Nhà Bè có thể tăng lên 120 – 140 ngàn
dân, trong đó chủ yếu là tăng cơ học. Thu nhập bình quân đầu người năm 2000 là
4,051 triệu VNĐ, năm 2004 là 5,8 triệu VNĐ.
• Y tế:
Toàn bộ 7 xã và thò trấn trên đòa bàn huyện đều có trạm y tế, trong đó
100% trạm có bác só, trang thiết bò cơ bản đáp ứng được yêu cầu căm sóc sức khoẻ
Trang 17
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ban đầu. Trung tâm y tế được đạt xây dựng chuẩn vừa đưa vào sử dụng năm 2005,
năm 2007 được nâng cấp thành bệnh viện. Bình quân có 5,02 y bác só/vạn dân và
khoảng 7,83 giường/vạn dân.
• Giáo dục: