BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA THỦY SẢN
LUẬN VĂN TỐT
NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
CỬA HÀNG KINH DOANH CÁ CẢNH
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGÀNH : NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
KHÓA : 2001 – 2005
SINH VIÊN THỰC HIỆN : HUỲNH THỊ THU TRANG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÁNG 8/2005
HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CỬA HÀNG KINH
DOANH CÁ CẢNH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thực hiện bởi
Huỳnh Thò Thu Trang
Luận văn được đệ trình sẽ hoàng tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Thuỷ Sản
Giáo viên hướng dẫn: TS. Vũ Cẩm Lương
Thành Phố Hồ Chí Minh
Tháng 8 - 2005
TÓM TẮT
Đề tài “ Hiện trạng hoạt động của các cửa hàng kinh doanh cá cảnh ở Thành
Phố Hồ Chí Minh” được thực hiện từ tháng 3/2005 đến tháng 7/2005. Qua điều tra,
phỏng vấn trực tiếp theo bản điều tra soạn sẵn ở 27 cửa hàng kinh doanh cá cảnh ở
Tp.HCM, kết quả điều tra thu được như sau:
- Có 64 loài cá cảnh nước ngọt được bày bán tại các cửa hàng được khảo sát,
trong đó 27 lồi có thể sản xuất giống nội địa, 19 lồi được khai thác trong tự
nhiên, còn lại là cá nhập ngoại. Các lồi cá nhóm một được đa số các cửa hàng
bodies; and the others are imported species. The first group was sold in all of
stores (100%), while the third group was sold in most of stores of group A.
- Besides ornamental fish, others activities were involded, including natural and
pellet fish feed, aquarium tanks, aquatic plants, etc. In the orther hand,
breeding and nursing the fish were also carried out in some stores.
- The area of stores is rather limited (21.39 m
2
for stores of group B, and 31.15
m
2
/group A).
- Experiens in management of business and techniques are rather well, thanks to
their long – term operation time.
- Tap water and well – water were used, in which 77.78% of stores using tap –
water.
- Disease happen in most stores, but not a serious problems, because of their
good management and taken – care.
- The fish were taken from Dist 8, 12, Hoc Mon, Cu Chi, Dong Nai Province,
Mekong Delta, and from importing.
- The business was practiced rather well, with high profit, but in unstable.
iii
LỜI CẢM TẠ
Tác giả xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- Ban giám hiệu, Ban Chủ nhiệm Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm
Tp.HCM đã tạo điều kiện tốt cho em thực hiện đề tài này.
- Quý thầy cô cùng các cán bộ công nhân viên Trường Đại Học Nông Lâm
Tp.HCM đã tận tình dạy bảo, truyền đạt và trang bò cho em kiến thức
trong suốt những năm tháng trên giảng đường đại học.
- Bộ môn Sinh học Thủy Sản cùng Thầy Cô trong khoa đã tận tình giúp đỡ và
tạo điều kiện cho em hoàn thành đề tài.
2.3 Hiện Trạng Nuôi và Sản Xuất Cá Cảnh ở Thành Phố Hồ Chí Minh 5
2.4 Hiện Trạng Kinh Doanh Cá Cảnh ở Thành Phố Hồ Chí Minh 6
2.5 Tình Hình Xuất Nhập Khẩu Cá Cảnh Thành Phố Hồ Chí Minh 7
2.6 Khái Quát về Các Điều Kiện của Tp.HCM để Phát Triển Ngành
Công Nghiệp Cá Cảnh 8
2.6.1 Điều kiện tự nhiên 8
2.6.2 Điều kiện kinh tế 9
2.6.3 Điều kiện xã hội 10
2.6.4 Cơ cấu dân cư 12
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
3.1 Thời Gian và Đòa Điểm Thực Hiện Đề Tài 14
v
3.2 Phương Pháp Thu Thập Số Liệu 14
3.3 Số liệu thứ cấp 14
3.3.1 Số liệu sơ cấp 14
3.4 Phân Tích Kết Quả và Xử Lý Số Liệu 16
IV. KẾT QUẢ THẢO LUẬN 17
4.1 Các Nhóm Cửa Hàng Kinh Doanh Cá Cảnh và Mặt Hàng Kinh Doanh Chính17
4.2 Tình Hình Kinh Doanh ở Các Cửa Hàng Cá Cảnh Tp.HCM 18
4.2.1 Hình thức kinh doanh 18
4.2.2 Đối tượng kinh doanh 20
4.3 Cách Thức Quản Lý ở Các Cửa Hàng Kinh Doanh Cá Cảnh ở Tp.Hcm 31
4.3.1 Trình độ học vấn của chủ hộ kinh doanh 31
4.3.2 Kinh nghiệm kinh doanh 32
4.3.3 Tình hình phân bố lao động 32
4.3.4 Nguồn tín dụng 33
4.3.5 Nguồn hàng 33
4.3.6 Hiệu quả kinh tế 35
4.3.7 Hiện trạng cơ sở vật chất của các cửa hàng 36
4.4 Kỹ Thuật Vận Hành được Các Cửa Hàng Cá Cảnh Tp.HCM Áp Dụng 41
Bảng 2.7 Cơ cấu mức sống dân cư hàng năm 12
Bảng 4.1 Các nhóm cửa hàng bán sỉ và bán lẻ 17
Bảng 4.2 Hình thức kinh doanh của các cửa hàng cá cảnh 18
Bảng 4.3 Danh mục các loài cá cảnh được bày bán tại các cửa hàng 21
Bảng 4.4 Các loài cá cảnh nước ngọt phổ biến ở các cửa hàng kinh doanh
cá cảnh ở Tp.HCM 23
Bảng 4.5 Tình hình kinh doanh thức ăn tự nhiên ở các cửa hàng 26
Bảng 4.6 Các loại thức ăn chế biến và thức ăn viên được bày bán 27
Bảng 4.7 Các loại thuốc được bày bán tại các cửa hàng kinh doanh cá cảnh 28
Bảng 4.8 Hoạt động kinh doanh vật tư trang trí của các cửa hàng cá cảnh 30
Bảng 4.9 Trình độ học vấn của chủ hộ kinh doanh 31
Bảng 4.10 Kinh nghiệm kinh doanh của các cửa hàng 32
Bảng 4.11 Lực lượng lao động ở các cửa hàng 32
Bảng 4.12 Thông tin về nguồn hàng cung cấp cho các cửa hàng cá cảnh 34
Bảng 4.13 Tỉ lệ các nguồn hàng cung cấp đến các cửa hàng kinh doanh cá cảnh 35
Bảng 4.14 Ý kiến về hiệu quả kinh doanh của các cửa hàng 35
Bảng 4.15 Tỉ lệ các loại bể được sử dụng ở các cửa hàng 36
Bảng 4.16 Thiết bò giữ cá ở hai nhóm cửa hàng 38
Bảng 4.17 Tình hình sử dụng máy lọc trong ở hai nhóm cửa hàng 39
viii
Bảng 4.18 Diện tích mặt bằng kinh doanh ở các cửa hàng 40
Bảng 4.19 Kỹ thuật giữ cá khoẻ mạnh được các cửa hàng áp dụng 42
Bảng 4.20 Các loại bệnh/triệu chứng thường gặp ở các cửa hàng 45
Bảng 4.21 Quan hệ cung cầu ở các cửa hàng 47
ix
DANH SÁCH ĐỒ THỊ VÀ HÌNH ẢNH
ĐỒ THỊ NỘI DUNG
TRANG
Đồ thò 4.1 Các nhóm cửa hàng bán sỉ và bán lẻ 17
Đồ thò 4.2 Hình thức kinh doanh ở các cửa hàng cá cảnh 19
lý do mà nghề nuôi cá cảnh Tp.HCM trong những năm gần đây rất khởi sắc.
Thành phố Hồ Chí Minh có nghề nuôi – sản xuất cá cảnh từ rất lâu đời. Trước
1975 đã từng có thời kỳ giữ một vai trò nhất đònh ở khu vực Đông Nam Á. Sau năm
1975 do điều kiện kinh tế còn khó khăn nên nghề nuôi – sản xuất – kinh doanh cá
cảnh dần dần giảm sút. Những năm trở lại đây việc vui chơi – sản xuất – kinh doanh
cá cảnh bắt đầu “nhộn nhòp trở lại”.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (2004), điểm nổi bật là
Tp.HCM bước đầu đã khôi phục, phát triển nghề sản xuất cá cảnh với sản lượng 13
triệu con/năm và cũng sắp tới đây xây dựng dự án làng nghề nuôi cá kiểng tại xã Phú
Hòa Đông, huyện Củ Chi Tp.HCM.
Cá cảnh đã trở thành một ngành, một thò trường kinh doanh thật sự mang lại lợi
nhuận đáng kể cho khá nhiều gia đình và cho cả quốc gia. Như chúng ta đã biết nghề
sản xuất – kinh doanh không đòi hỏi mặt bằng diện tích đất nông nghiệp lớn, nhu cầu
vui chơi thưởng ngoạn cá cảnh ngày càng tăng của cư dân đô thò … Nhưng bên cạnh đó
cũng còn nhiều bất cập như: nguồn cá đã thoái hóa, lạc hậu, lỗi thời không đáp ứng thò
hiếu hiện nay, kỹ thuật sản xuất, vận chuyển cá xuất khẩu chưa cao. Chính điều đó
mang lại lợi nhuận thấp so vơi các nước trong khu vực. Mặc khác việc nuôi và sản
xuất cá cảnh vẫn còn mang tính tự phát, nặng tính “Cha truyền con nối”. Và cũng
chưa có tổ chức như Hội hay Hiệp Hội cá cảnh để bảo vệ quyền lợi cho họ và làm cầu
nối giới thiệu cá cảnh Việt Nam ra thế giới. Thông tin và cơ sở dữ liệu của ngành
công nghiệp cá cảnh ở Tp.HCM còn thiếu thốn tản mạn. Với thực trạng như trên,
2
bước đầu khảo sát hoạt động kinh doanh các cửa hàng kinh doanh cá cảnh Tp.HCM là
cần thiết nhằm nắm bắt xu hướng nuôi – sản xuất – kinh doanh và những khuynh
hướng trong ngành công nghiệp cá cảnh ở Tp.HCM.
Được sự phân công của khoa Thủy sản Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố
Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của Thầy Vũ Cẩm Lương, chúng tôi tiến hành thực
hiên đề tài “HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CỬA HÀNG KINH DOANH
CÁ CẢNH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”.
1.2 Mục Tiêu Đề Tài
2
thuộc huyện
Phương Thôn của tỉnh Quảng Châu và dự kiến đi vào hoạt động vào cuối năm nay
nhằm chiếm giữ 5 tỷ USD lợi nhuận trong ngành kinh doanh đầy tiềm năng này. Nơi
đây, hằng năm đạt doanh số 1 tỷ NTD và chiếm 60 - 70% thò phần của thò trường cá
cảnh nước này.
Nhờ sự đột phá về kỹ thuật vào những năm 30 của thế kỷ XIX của nhiều nước,
các hiệp hội cá cảnh thu hút được nhiều người ưa thích, và cuối những năm 40, nhiều
cuộc triển lãm được tổ chức thu hút người xem và trao đổi tạo ra một công chúng rộng
lớn cho nghề nuôi cá cảnh trên thế giới.
Tổng cộng có 1600 loại cá cảnh trên thò trường, trong đó có 750 loài cá nước
ngọt. Khoảng 90% cá cảnh là từ nuôi, còn 10% là khai thác tự nhiên, 5 % là do sinh
sản nhân tạo mà có (Thông tin KHCN và KTTS, 5/2004).
4
Ngày nay, cá cảnh nước ngọt cũng như nước mặn đã được các nhà nuôi cá
cảnh trên thế giới thu thập, tìm tòi, thuần dưỡng, khoảng 600 loài thuộc nhiều họ khác
nhau.
Theo thống kê, tới năm 1977 trong số lượng cá cảnh được tiêu thụ hàng năm
trên thò trường thế giới, nguồn cá từ Đông Nam Á chiếm 60%, Nam Mỹ chiếm 30%
còn lại là Châu Phi và một số nước vùng Caribe (Mao, 1977).
Theo Thông tin Khoa Học Công Nghệ - Kinh Tế Thuỷ Sản (5/2004), tính trong
năm 2001 Châu Á là khu vực xuất khẩu cá cảnh lớn nhất trên thế giới, ước tính trò giá
107,96 triệu đôla. Châu Âu cũng là khu vực xuất khẩu cá cảnh đáng kể (20,6% tương
đương 37,68 triệu đôla), Nam Mỹ (10% tương đương 18,34 triệu đôla), Bắc Mỹ (3,9%
tương đương 7,06 triệu đôla) và Trung Đông (3,2% tương đương 5,81 triệu đôla).
Singapore là nước xuất khẩu cá cảnh lớn nhất thế giới, thứ hai là Malaysia
chiếm 7,9% doanh thu của toàn thế giới, tiếp đó là Indonesia với doanh thu13,72 triệu
đôla tương đương 7,5% doanh thu của toàn thế giới, tiếp theo là Cộng Hoà Séc, Peru,
Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Xrilanka (thông tin Khoa Học Công Nghệ – Kinh Tế
Thuỷ Sản, 5/2004).
thời gian ngắn họ đã về nước vì kinh doanh không hiệu quả (Nguyễn Văn Lãng,
2003).
Trải qua những năm tháng lận đận và thăng trầm, ngành cá cảnh ngày càng có
những bước tiến mới. Năm 1995 xuất khẩu cá cảnh nước ngọt (Cá Dóa) có cơ sở phát
triển mạnh. Ngày nay, giống loài cá cảnh xuất ngày càng đa dạng: Cá Dóa, cá Bảy
Màu, cá Ông Tiên, cá Nàng Hai, cá Chép Nhật, … và một vài loài cá cảnh biển.
Về nguồn giống chỉ có cá Dóa là tương đối đầy đủ để có thể nhân giống ra
nhiều. Còn hầu hết các loại cá khác không được nhập khẩu nên sẽ thua xa các nước
trong khu vực. Thời gian vừa qua các nhà buôn cá cảnh chỉ đem vào các loại cá theo
thò hiếu của người Việt Nam chứ không nhập vào Việt Nam giống để xuất cho khách
hàng Châu Âu, Châu Mỹ, … Từ đó dẫn đến Việt Nam lẫn quẩng vài chục loại cá đã
lỗi thời không còn đáp ứng được thò hiếu hiện nay.
2.3 Hiện Trạng Nuôi và Sản Xuất Cá Cảnh ở Tp.HCM
Nhìn chung, nghề nuôi cá cảnh Tp.HCM đã có từ lâu và đã từng giữ vai trò
quan trọng ở khu vực Đông Nam Á.
Theo Sở NN & PTNT (2003), trên đòa bàn Thành Phố có khoảng 100 - 150 hộ
làm nghề nuôi và sản xuất cá cảnh. Qua khảo sát thực tế 100 hộ thì có 300 lao động,
trong đó có 260 lao động gia đình và 40 lao động thuê mướn, tập trung nhiều nhất ở
Quận 8, Quận 12 và rải rác ở một số quận ven khác như : Quận 9, Gò Vấp, Bình
Thạnh, huyện Bình Chánh, 100% các hộ sản xuất cá cảnh nước ngọt, với diện tích 15 -
20 ha mặt nước ao nuôi, 25 - 30 ngàn m
2
bể xi măng và khoảng 3000m
2
bể kiếng.
Hằng năm số lượng sản xuất và tiêu thụ khoảng 15-17 triệu con. Doanh số bình quân
hằng năm mỗi hộ 80 - 100 triệu, thấp nhất là 20 triệu đồng, cao nhất là 300 triệu
đồng.
Đối Tượng Sản Xuất Loài Cá
6
hồ nuôi cá cảnh trên đòa bàn Thành phố, có đăng ký hoặc không đăng ký kinh doanh
tùy quy mô đầu tư của cửa hàng với 160 lao động, trong đó: 120 lao động gia đình, 40
lao động thuê mướn.
Cá cảnh nước ngọt là đối tượng kinh doanh chính, chiếm tỷ lệ 95% vì dễ nuôi,
dễ chăm sóc; cửa hàng kinh doanh cá cảnh biển chiếm 5% vì cần phải có nguồn nước
mặn để thay và bổ sung, chăm sóc phức tạp nên người chơi cá cảnh biển cũng rất hạn
chế. Cá cảnh biển được đầu tư nhiều cho các khu du lòch dạng thủy cung như : Đầm
Sen, Suối Tiên, Kỳ Hoà, …
Những năm trước đây, các cơ sở kinh doanh này chủ yếu là cung cấp cá cảnh
cho cư dân đô thò và cá Đá cho học sinh tiểu học.
7
2.5 Tình Hình Xuất Nhập Khẩu Cá Cảnh ở Thành Phố Hồ Chí Minh
2.5.1 Xuất Khẩu
Theo Sở Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Tp.HCM (2004), cho biết
trong năm 2001 và sáu tháng đầu năm 2003, Thành Phố đã xuất khẩu hơn 10 triệu con
cá cảnh tương đương 8 - 10 triệu USD, bình quân 3 - 4 triệu USD. Từ đầu năm 2004
đến tháng 8/2004 các thành viên của câu lạc bộ cá cảnh Thành Phố đã xuất khẩu được
trên 2 triệu con cá cảnh các loại với tổng kim nghạch ước đạt gần 3 triệu USD.
Theo các nghệ nhân nuôi cá, xuất khẩu cá cảnh có thể cho hiệu quả kinh tế
cao hơn nếu người nuôi ký được hợp đồng xuất khẩu trực tiếp đến người tiêu dùng.
Hiện nay, hầu hết các hộ nuôi cá cảnh đều xuất khẩu qua trung gian và luôn bò ép giá.
Cá xuất khẩu được chia làm hai nhóm chính: như nhóm cá nước ngọt chiếm
90% tỉ trọng xuất khẩu, nhóm sinh vật biển chiếm 10% tập trung một số loại như : cá
Nóc, cá Khoang Cổ, Hải Quỳ, San Hô, Ốc Biển các loại, … (Sở NN & PTNT, 2003).
Thò trường xuất khẩu đa dạng, phong phú nhưng rải rác ở các châu lục như :
Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Á và thực tế số lượng xuất khẩu đi mỗi nước không lớn ,
không tập trung, nhiều chủng loại, nhiều kích cỡ và cũng mang tính cá thể riêng lẻ
chưa có tính quy mô.
Những năm gần đây, một số nước trong khu vực Châu Á như: Hồng Kông,
Singapore, … và một số nước Châu Âu như: Pháp, Đức, … và cả thò trường Mỹ, Canada
2
, trong đó diện tích nội
thành là 442,13 km
2
chiếm 21,1% diện tích toàn Thành Phố, diện tích ngoại thành là
1652,88 km
2
chiếm 78,89% (Cục thống kê Tp.HCM, 2002).
Độ cao trung bình của Thành Phố Hồ Chí Minh từ 5 – 10m so với mặt nước
biển, thấp dần ở Phía Bắc (Củ Chi) xuống đông Nam (Cần Giờ).
Về mặt thời tiết và khí hậu, Thành Phố Hồ Chí Minh nằm ở khu vực Đông
Nam Á có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến
tháng 11 lượng mưa trung bình là 1.829,3 mm, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 với số
giờ nắng trung bình là 2.066,5 giờ, nhiệt độ trung bình là 28,2
o
C (Niên giám thống kê
2002). Điều kiện thời tiết khí hậu nhiệt đới đã tạo ra một môi trường sống cá cảnh dễ
thích nghi vì hầu hết các loài cá cảnh đều có nguồn gốc nhiệt đới. Lượng mưa cũng
như số giờ nắng tương đối hài hòa, bên cạnh đó nhiệt độ trung bình là 28,2
o
C thích hợp
cho hầu hết các loài cá cảnh nhiệt đới.
Về tổ chức hành chánh, hiện nay thành phố có 20 quận nội thành gồm quận 1,
2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, Bình Thạnh, Gò Vấp, Tân Bình, Bình Tân, Tân Phú,
Phú Nhuận, Thủ Đức và 5 huyện ngoại thành gồm: Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh,
Nhà Bè, Cần Giờ, với 238 phường và 65 xã. Có rất nhiều quận, huyện ngoại thành, ở
nơi đây quá trình công nghiệp hóa xảy ra còn chậm. Vì thế mà rất thuận lợi cho nghề
sản xuất cũng như ương nuôi cá cảnh. Do nguồn nước ít bò nhiễm bẩn cũng như hệ
thống sông, rạch ở ngoại thành tương đối dày đặt.
2.6.2 Điều kiện kinh tế
Nguồn: Niên giám thống kê TPHCM, 2001
Cũng như tổng của sản phẩm của Tp.HCM, GDP bình quân/người/năm cũng
tăng liên tục từ 8.070.711 đồng (1995) lên 15.840.645 đồng (2001) và tốc độ giảm dần
qua các năm từ 23,2% (1995) xuống còn 8,75% (2001). Cuộc sống ngày càng ổn và
khá giả, thu nhập không ngừng tăng lên.
Bảng 2.3 GDP bình quân/người/năm của người dân Tp.HCM
Năm GDP (đồng) Tốc độ tăng (%)
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
7.968.549
9.948.835
11.363941
12.819.194
13.864.492
14.579.156
15.840.645
-
24,9
14,2
12,8
7,3
5,2
8,7
Nguồn: Niên giám thống kê Tp.HCM năm 2001
Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành
1.352
135
34.448
39.51
52.228
2,0
1,8
0,2
45,6
52,4
100,0
1.520
1.345
175
39.053
43.152
57.185
1,8
1,6
0,2
46,6
51,6
100,0
1.632
1.370
262
45.045
49.853
96.530
1,7
67,1
32,9
5.285.454
2.546.514
2.738.940
3.527.334
1.758.120
100,0
48,2
51,8
66,7
33,3
5.449.217
2.625.433
2.823.784
3.604.557
1.884.660
100,0
48,2
51,8
66,15
33,85
Nguồn: Niên giám thống kê, 2002
Từ số liệu Bảng 2.5 ta thấy dân số Tp.HCM rất cao 5.449.217 người (2002)
điều này cho chúng ta thấy rõ Tp.HCM sẽ là một thò trường lớn cho nghề kinh doanh
cá cảnh. Ở nội thành mức sống cũng như thu nhập khá cao so với ngoại thành. Nội
thành chiếm 66,15% dân số, điều này sẽ một phần thúc đẩy cho việc kinh doanh cá
cảnh ngày càng khởi sắc vì hầu hết các cửa hàng lớn, kinh doanh cá ngoại nhập, cá
nội đòa hình dáng đẹp tập trung các quận nội thành.
Bảng 2.6 Dân số tại các quận huyện thuộc Tp.HCM
Bình Chánh
Nhà Bè
Cần giờ
303
238
10
11
14
15
15
14
10
16
13
15
16
10
12
20
20
15
12
65
21
10
20
7
7
2.095,01
442,13
265.806
132.319
347.262
160.012
247.465
246.217
215.476
370.814
664.149
410.305
185.081
234.190
994.522
260.702
214.952
389.075
67.688
62.105
2.601
10.076
29.852
2.174
45.646
47.829
49.745
36.969
3.707
18.105
1.404
43.263
Tổng
10,6
27,9
36,2
19,0
6,3
100,0
10,7
28,1
35,9
18,9
6,4
100,0
9,8
16,0
21,0
23,9
29,3
100,0
9,9
15,0
21,5
24,7
28,9
100,0
10,2
15,8
20,0
24,2
29,8
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời Gian và Đòa Điểm Thực Hiện Đề Tài