LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay với sự phát triển hết sức mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kĩ
thuật. Ngành công nghệ thông tin phát triển một cách vượt bậc, ngành ngành sử
dụng tin học, người người sử dụng tin học. Nó là động lực thúc đẩy nhiều ngành
khoa học khác phát triển. ở nước ta tin học đã đi vào ngõ ngách của cuộc sống góp
phần giải phóng đáng kể sức lao động của con người. Nên nhu cầu ứng dụng công
nghệ thông tin cũng không ngừng phát triển và phù hợp với nhiều ngành nghề.
Đặc biệt trong công việc quản lý nó không thể tách rời việc tìm hiểu hoạt
động của các cơ quan xí nghiệp và cách thức xử lý thông tin của các bộ phận trong
đơn vị đó, máy tính đang dần thay thế con người trong một số lĩnh vực công việc.
Ngày nay máy tính được xem như là một công cụ để quản lý rất có hiệu quả.
Để có được điều đó không chỉ cần kiến thức nhất định về chuyên môn mà cần phải
có kiến thức cơ bản về quản lý và nghiệp vụ hiểu rõ các chức năng, các bộ phận
cần nghiên cứu.
Mức độ hiệu quả của việc ứng dụng máy tính nhanh hay chậm còn phụ thuộc
vào sự hiểu biết của người phân tích và thiết kế hệ thống. Trong hệ thống quản lý
Bệnh viện nói chung hệ thống quản lý bệnh án ngoại nói riêng ứng dụng của máy
tính như là một công cụ để thu thập, xử lý, cung cấp các thông tin cần thiết cho các
nhà quản lý trong công việc.
Trong chương trình quản lý Bệnh án ngoại gồm có năm chương:
Chương 1. Cơ sở lý thuyết
Chương 2. Giới thiệu về Visual Basic, SQL Server 2000
Chương 3. Khảo sát hệ thống
Chương 4. Phân tích hệ thống
Chương 5. Thiết kế hệ thống
Do thời gian và kiến thức còn hạn chế, có thể còn nhiều vấn đề trong đồ án
còn trình bày chưa được rõ ràng và còn nhiều vấn đề chưa được đề cập tới.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn cô giáo đã tận tình giúp đỡ em hoàn
thành chương trình này.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1. Các bước xây dựng hệ thống thông tin quản lý
Tính mở:
Với mỗi hệ thống thông tin, xây dựng có tính mở cao là công việc hết sức
cần thiết. Trong hệ thống quản lý Bệnh án Ngoại này tính mở cần đáp ứng nội dung
sau:
Các báo có định kỳ, thường xuyên có thể sửa đổi và bổ sung với kinh phí
nhỏ.
Cập nhật thêm bệnh nhân mới vào.
Giao diện:
Với mỗi hệ thống việc giao tiếp với người sử dụng là rất cần thiết và quan
trọng. Hiệu quả của chương trình phụ thuộc rất lớn vào giao diện của chương trình.
Vì vậy để đáp ứng và nâng cao hiệu quả sử dụng, giao diện của hệ thống cần:
Sáng sủa, dễ nhìn, dễ đọc.
Thuận tiện, thân thiện với người sử dụng.
Rành mạch có khoa học.
Không yêu cầu nguời sử dụng có trình độ cao.
Kết luận:
Qua cách tổ chức và quản lý của khoa PTTK bệnh viện Việt Đức ta cần phải
xay dựng một phần mềm quản lý Bệnh án ngoại sao cho:
Đáp ứng hầu hết các chức năng cần thiết, chương trình đơn giản dễ sử dụng.
Giao diện thân thiện và có khả năng sẵn sàng đáp ứng nâng cấp.
Để xây dựng một chương trình thoả mãn các điều kiện trên, ta cần thiết kế
một hệ thống sao cho:
Thông tin đầy đủ.
Tránh dư thừa.
Không trùng lặp.
Xử lý nhanh, kịp thời.
Tuyệt đối chính xác.
Để thiết kế được chương trình ta cần phải phân tích hệ thống về dữ liệu,
muốn vậy ta phải xác định được các thực thể trong hệ thống và các mối liên kết,
quan hệ giữa chúng. Vấn đề này được thực hiện qua” Mô hình thực thể kiên kết”.
một thực thể trong kiểu thực thể A đều có tương ứng một thực thể trong kiểu thực
thể B và ngược lại .
Liên kết một- nhiều
Giữa hai kiểu thực thể A và B có liên kết một- nhiều nếu như một thực thể
trong A tương ứng với nhiều thực thể trong B. Ngược lại một thực thể của B tương
ứng duy nhất một thực thể của A.
Liên kết nhiều- nhiều
Hai kiểu thực thể A và B có quan hệ nhiều- nhiều với nhau nếu một thực thể
trong B có nhiều thực thể trong A và ngược lại
A B
A B
5. Lựa chọn công cụ
Để cài đặt hệ thống như đã phân tích trên, ta sử dụng nhiều công cụ khác
nhau, về mặt cấu hình máy tối thiểu là bộ vi xử lý: pentiumII và cài đặt hệ điều
hành từ Windown 95 trở lên.
Để thiết kế chương trình, chúng ta có thể thực hiện bằng nhiều cách khác
nhau. Tuy nhiên ở đây chúng ta sử dụng ngôn ngữ lập trình Visual Basic và ngôn
ngữ quản trị cơ sở dữ liệu Access được các nhà phát triển chiến lược coi là: Môi
trường phát triển tích hợp các ứng dụng nhanh và là cách nhanh nhất, dễ dàng để
tạo ứng dụng cho Microsoft Windown. ”Basic” là một ngôn ngữ đã được sử dụng
bởi rất nhiều nhà lập trình, hơn tất cả các ngôn ngữ lập trình trong lịch sử máy tính.
Hơn nữa ngôn ngữ Visual Basic ứng dụng bao gồm cả trong Microsoft Excel,
Microsoft Access và nhiều ứng dụng Windowns khác sử dụng cùng ngôn ngữ .
Với việc sử dụng rộng rãi của ngành tin học như hiện nay có rất nhiều hệ
quản trị cơ sở dữ liệu như: Dbase, Foxbase, Access, Microsoft SQL Server...
ở đây ta chọn hệ cơ sở dữ liệu Access để thực hiện. Bởi vì qua tìm hiểu ta
thấy Access là hệ phần mềm quen thuộc, hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ chạy
trong môi trường Windown là một trong những loại linh hoạt nhất có nhiều ưu
Visual Basic dùng khai báo biến trong trương trình như sau:
Dim< Tên biến > As < Kiểu dữ liệu>
Ta cũng có thể khai báo biến theo cách sau :
Dim< Tên biến>
Khi đó có kiểu Variant
1.2 Quy tắc đặt tên biến
Tên biến có chiều dài tối đa 255 ký tự, phải bắt đầu bằng một chữ cái, không
đặt các khoảng trống và các ký hiệu(+-*/...) trong tên biến, không được trùng với từ
khoá của ngôn ngữ, không đặt tên trùng nhau.
1.3 Phạm vi sử dụng biến
Phạm vi sử dụng biến tuỳ thuộc cách ta khai báo và chỗ ta đặt dòng lệnh khai
báo biến.
Nếu ta khai báo trong phần General thì biến là biến tổng thể có thể được
dùng ở bất kỳ đoạn lệnh nào trong chương trình.
Nếu ta khai báo trong sự kiện của một đối tượng(tức khai báo giữa Sub và
End Sub) thì biến chỉ tồn tại và dùng được trong phạm vi kiện đó. Biến như vậy gọi
lá biến riêng hay biến cục bộ.
Nếu ta dùng từ khoá Public thay cho Dim để khai báo, biến sẽ tồn tại trong
suốt thời gian thực hiện chương trình và có thể dùng được trong bất kỳ đoạn lệnh
nào của chương trình. Biến như vậy gọi là biến chung hay biến toàn cục.
2 .Các kiểu dữ liệu cơ bản trong Visual Basic.
Tên kiểu Kích thước Khoảng giá trị
Byte 1 byte 0 đến 255
Interger 2 byte -32,768 đến 32767
Long 4 byte -2,147,483,648 đến 2,147,483,647
Single 4 byte -3,402823E38 đến -1,401298E-45(các giá trị âm) và
1,401298E-45 đến 3,402823E38(các giá trị dương)
Double 8 byte -1,79769E308 đến -4,94065E-324(giá trị âm) và
4,94065E-324 đến 1,79769E308(giá trị dương)
Currency 8 byte -922337203685477,5808
Commands ; thực hiện một (hoặc nhiều) lệnh
[ ELSE ; ngược lại
Commands] ; thực hiện một[ hoặc nhiều]
ENDIF
4.2 Select Case
Select Case testexpression ;Chọn biểu thức kiểm tra
[Case expressionlist-n ;danh sách biểu thức nếu đúng thì
[statements-n]]... ;thực hiện một(hoặc nhiều) lệnh
[Case Else expressionlist-n ;trái lại thực hiện một (hoặc nhiều) lệnh
[elsestatements-n]]
End Select
4.3 Do ...Loop ;vòng lặp không xác định trước
Do[{while/Until} condition] ;Kiểm tra điều kiện lặp nếu đúng/ nếu sai
[statements] ;thực hiện một( hoặc nhiều) lệnh
[Exit Do]
[statements]
Loop ;lặp lại
hoặc
Do ;thực hiện một(hoặc) nhiều lệnh
[statements]
[Exit Do]
[statements]
Loop ;lặp lại
Do[{while/Unit}condition] ; kiểm tra điều kiện lặp nếu đúng/ nếu sai; thì lặp lại
4.4 For...Next ; Vòng lặp biết trước số lần lặp
For counter = start To end[Step step]
[statements]
[Exit For]
[statements]
1. Xây dựng các dơn thể(Modules)
Tuy rất dễ thực hiện Visual Basic với mã lệnh được gắn vào biểu mẫu đơn
nhưng để tận dụng toàn bộ ưu thế của Visual Basic, bạn cần sử dụng nhiều biểu
mẫu và có mã lệnh trên tất cả các biểu mẫu đó tương tác tron đồ án của bạn.
Để làm điều này bạn cần mã lệnh không phụ thuộc vào biểu mẫu bất kỳ nhưng
có thể dễ dàng làm việc với mọi biểu mẫu trong đồ án của bạn. Loại mã lệnh này
cho phép bạn xây dựng mã lệnh cho phép bạn xây dựng các mã tổng thể và các thủ
tục tổng thể cho một đồ án.
Các đơn thể khồng có các thành phần hiển thị. Bạn cần bổ sung đơn thể bằng
cách chọn Project/ Add Module
Bổ sung đơn thể hiện hữu bằng cách chọn Project/ Add File. Các có đuôi mặc
định là .bas
7. Để điều khiển dữ liệu để tạo giao diện người sử dụng
7.1 Giới thiệu chung
Có rất nhiều cách điều khiển dữ liệu để quản lý kết nối giữa biểu mẫu Visual
Basic với cơ sở dữ liệu như DAO( Data Acces Object ) ( thường dùng để kết nối
với cơ sở dữ liệu trên máy tính cá nhân như là Microsoft Access), RDC( dùng cho
client / Server), và ADO( Active Data Object), cho phép ta truy cập vào mọi loại
dữ liệu bao gồm nguồn dữ liệu trên máy tính cá nhân, trên hệ Client/ Server và
không thuộc mô hình quan hệ. Sau đây là cách thức của một điều khiển ADO kết
nối với cơ sở dữ liệu trong ứng dụng:
7.2 Khái quát về ADO
Kết
nối
với
Kết
nối
với
ChứaBiểu mẫu
With Cn
Provider=”SQLOLEDB.1”
ConnectionString=”SERVER=”&server&”;DATABASE=”&Dbname&”;
UID&”;PWD=&Pwd &”;”
CommandTimeout=10
Open
End With
End Sub
Đối tượng Recordset: là đối tượng bao gồm một tập các bản ghi được trả về
từ một câu truy vấn, và một con trỏ trong các bản ghi đó. Bạn có thể mở một đối
tượng Recordset không cần mở rõ ràng một đối tượng Connection bằng cách
chuyển một xâu kết nối vào phương thức Open của đối tượng Recordset. Tuy nhiên
chứa một tập các fields chứa đối tượng field. Sau đây là một ví dụ tạo Recordset
khi đã thiết lập Connection ở trên:
Dim rs ADODB.recordset
Set rs=New adodb.recordset
Rs.Souce=”Select*”&”from tblkhachhang”
Set rs.ActiveConnection=Cn
Rs.Open
8. Công cụ tạo báo cáo trên cơ sở dữ liệu
Visual Basic cho phép truy cập đến một số kỹ thuật Client/Server hỗ trợ truy
cập rất hiệu quả, đặc biệt là khi nó dùng để làm báo cáo. Có nhiều cách để tạo báo
cáo như Datareport, Microsoft Access, Crystal Report, đối tượng Visual Basic
Printer, Videosoft VsView, tuy nhiên để đạt dược tính hiệu quả và giao diện đẹp thì
phải nói đến Crystal Report, nó cho phép tạo báo cáo cơ sở dữ liệu ứng dụng viết
bằng Visual Basic. Nó gồm 2 phần chủ yếu: Trình bày thiết kế báo cáo xác định dữ
liệu sẽ đưa vào báo cáo, cách thể hiện để đưa vào báo cáo một điều khiển ActiveX
cho phép thi hành, hiển thị, in ấn lúc thi hành ứng dụng.
II. Giới thiệu tổng quan về cơ sở dữ liệu SQL SERVER 2000
1. Tổng quan
Một cơ sở dữ liệu trong Microsoft SQL Server 2000 có ít nhất một file dữ
liệu và một transactin log.file. Dữ liệu và transaction log file không bao giờ được
kết hợp với nhau trên cùng một file, và các file riêng lẻ được sử dụng bởi chỉ một
cơ sở dữ liệu.
Microsoft SQL Server 2000 sử dụng transaction log của mỗi cơ sở dữ liệu để
phục hồi các thao tác. Transaction log là một bảng ghi liên tiếp tất cả các hoạt động
chỉnh sửa đã xảy ra trong cơ sở dữ liệu cũng như thao tác đã thực hiện mỗi hoạt
động đã chỉnh sửa. Transaction log ghi lại sự bắt đầu của mỗi giao tác. Nó ghi các
thay đổi và thông tin để undo lại các hoạt động chỉnh sửa( nếu cần sau này) trong
suốt mỗi giao tác. Đối với một số hoạt động lớn như Create Index, transaction log
ghi lại hoạt động đã xảy ra. File log phát triển liên tục khi các hoạt động xảy ra
trong cơ sở dữ liệu. Transaction log ghi cấp phát và huỷ cấp phát các trang, cuộn đi
hay cuộn lại mỗi giao tác. Các tiến trình sao lưu dự phòng transaction log cho phép
phục hồi cơ sở dữ liệu vào một thời diểm nhất định hoặc có sự cố xảy ra.
1.4 Các file log ảo
Mỗi một transaction log được chia thành các đoạn nhỏ hơn một cách logic
được gọi là các file ảo.
1.5 Các vấn đề cần xem xét khi thiết kế một cơ sở dữ liệu
Bảo đảm tính toàn vẹn dữ liệu: Bao gồm tính toàn vẹn thực thể, tính toàn vẹn
Domain, tính toàn vẹn tham chiếu, tính toàn vẹn người dùng ấn định.
Bảo đảm an toàn dữ liệu: Một trong các chức năng của một cơ sở dữ liệu là
bảo vệ dữ liệu bằng cách ngăn chặn những người sử dụng gây ra những lỗi lầm
đáng kể. Hệ thống đảm bảo an toàn trong Microsoft SQL Server 2000 điều khiển
sự truy cập vào dữ liệu của người dùng, và cho phép để thực hiện các hoạt động
trong cơ sở dữ liệu.
Bảo trì: Sau khi một cơ sở dữ liệu đã được tạo, tất cả các đối tượng và dữ
liệu được bổ sung vào và đang được sử dụng sẽ những có lúc bạn cần thực hiện bảo
trì. Để bảo trì một cơ sở dữ liệu ta cần thiết kế cơ sở dữ liệu càng nhỏ càng tốt và
loại bỏ thông tin dư thừa, thiết kế các bảng phân hoạch thay vì một bảng đơn, nếu
bảng này chứa nhiều bảng.
4.Các kiểu dữ liệu
4.1 Dữ liệu nhị phân
Dữ liệu nhị phân được lưu trữ bằng cách sử dụng các kiểu dữ liệu: binary,
var binary, và image.
4.2 Dữ liệu kiểu ký tự
Dữ liệu kiểu kí tự bao gồm sự kết hợp giữa các mẫu ký tự, ký hiệu và các ký tự
số. Trong SQL Server 2000, dữ liệu ký tự được chứa bằng cách sử dụng các dữ liệu
char, varchar, text, nchar, nvarchar, ntext.
4.3 Dữ liệu ngày tháng và thời gian
Dữ liệu ngày tháng và thời gian bao gồm sự kết hợp hợp lệ giữa các ngày tháng
và thời gian, dữ liệu ngày tháng và thời gian được chứa bằng cách sử dụng các kiểu
dữ liệu datetime và small datetime.
4.4 Dữ liệu kiểu số
Dữ liệu kiểu số bao gồm chỉ các số, dữ liệu, số bao gồm các số âm và số dương,
số thập phân và phân số, và các số nguyên.
4.5 Dữ liệu kiểu số nguyên
Dữ liệu số nguyên gồm các số nguyên âm hay dương, dữ liệu số nguyên được
chứa bằng cách sử dụng các kiểu dữ liệu bigint(-2^63 đến 2^63 + 1: Kích cỡ lưu
trữ là 8 byte), int( -2147483648 đến 2147483647: kích cỡ lưu trữ là 4 byte),
smallint( 32768 đến 32767: Kích cỡ lưu trữ là 2 byte)
4.6 Dữ liệu thập phân và phân số
Dữ liệu thập phân bao gồm dữ liệu được chứa đến chữ số có nghĩa nhỏ nhất.
Dữ liệu thập phân được chứa bằng cách sử dụng các kiểu dữ liệu decimal hoặc
numberic.
4.7 Dữ liệu số gần đúng
Dữ liệu số gần đúng(dấu chấm động) bao gồm dữ liệu được bảo quản một
cách chính xác như hệ thống đánh số nhị phân cung cấp. Dữ liệu gần đúng được
chứa bằng cách sử dụng kiểu dữ liệu float và real.
4.8 Dữ liệu kiểu tiền tệ
Dữ liệu kiểu tiền tệ được chứa bằng cách sử dụng dữ liệu money(-
cột giá trị Null. Một ràng buộc duy nhất cũng có thể tham chiếu bởi một ràng buộc
khoá chính.
5.4 Các ràng buộc kiểm tra(Constraint Check)
Các ràng buộc kiểm tra tuân theo tính toàn vẹn vùng(domain) bằng cách giới
hạn các giá trịđược chấp nhận bởi một cột. Chúng tương tự các ràng buộc khoá
chính ở điểm chúng điều khiển các các giá trị được đặt trong một cột. Điểm đặc
biệt là ở cách chúng xác định các giá trị nào hợp lệ: Các ràng buộc khoá chính lấy
danh sách các giá trị từ một bảng khác, các ràng buộc kiểm tra xác định các giá trị
hợp lệ từ một biểu thức logic vốn không dựa vào dữ liệu có trong cột khác.
Các khung nhìn (View) và các trường hợp sử dụng khung nhìn
Các khung nhìn
Một khung nhìn là một bảng ảo có các nội dung được ấn định bởi một câu
nghi vấn (query). Giống như một bảng thật, một khung nhìn có một tập các cột các
hàng dữ liệu đã được đặt tên.Tuy nhiên, một khung nhìn không tồn tại với một tập
hợp các giá trị dữ liệu có sẵn trong một cơ sở dữ liệu. Các hàng và các cột dữ liệu
xuất phát từ các bảng dữ liệu được tham chiếu trong các câu truy vấn ấn định
khung nhìn và được tạo động khi khung nhìn được tham chiếu.
Một khung nhìn có tác dụng như một bộ lọc trên các bảng nền được tham
chiếu trong khung nhìn. Câu truy vấn ấn định có thể xuất phát từ một hay nhiều
khung nhìn khác trong cơ sở dữ liệu hiện hành hay các cơ sở dữ liệu khác.
Các trường hợp sử dụng khung nhìn
1.1 Tập trung vào dữ liệu nhất định
Các khung nhìn cho phép người sử dụng tập trung vào dữ liệu nhất định và
có các tác vụ nhất định mà họ đang đảm trách. Điều này cũng làm tăng tính an toàn
cho cơ sở dữ liệu.
2.2 Đơn giản hoá cách sử lý dữ liệu
Khung nhìn có thể đơn giản hoá cách xử lý dữ liệu của người sử dụng. Bạn
có thể ấn định các phép hợp, phép chiếu, và các câu truy vấn Select thường được
dùng làm khung xem để người sử dụng không cần chỉ định tất cả các điều lệnh và
tiêu chuẩn mỗi khi thực hiện một thao tác bổ sung trên cơ sở dữ liệu đó.
Chủ nhiệm khoa
Văn phòng Phòng bệnh nhân
+Chủ nhiệm khoa: Điều hành chung cho toàn bộ các công tác trong khoa.
+Văn phòng: Giải đáp các thắc mắc của bệnh nhân, nơi tiếp nhận bệnh nhân
và là nơi lưu trữ hồ sơ bệnh án của bệnh nhân trong quá trình điều trị tại khoa.
+Phòng bệnh nhân: Là nơi để bệnh nhân điều trị bệnh tật.
1.2. Qui trình của việc làm bệnh án được tiến hành như sau ở khoa Phẫu
thuật thần kinh:
1. Bác sỹ khám bệnh cho bệnh nhân, chụp chiếu bệnh nhân là do kĩ thuật
viên, xét nghiệm là do kĩ thuật viên hoặc tá.
2. Đóng tiền viện phí vào viện- tài chính kế toán sẽ thu.
3. Phân loại bệnh nhân(xem bệnh nhân thuộc về chuyên khoa nào).
4. Chuyển bệnh nhân vào khoa.
Nếu khám bệnh mà bệnh nhân phải vào viện thì bệnh án sẽ được làm từ
phòng khám sau đó chuyển theo từng chuyên khoa. Và bệnh nhân nếu phải vào
viện thì mới có phiếu vào viện và bệnh án ngoại. Trong trường hợp bệnh nhân đến
khám lại sau một khoảng thời gian được hẹn trước thì không làm bệnh án mới, còn
nếu sau một khoảng thời gian dài lại phải vào viện thì sẽ được làm tờ bệnh án mới
và tờ bệnh án cũ làm nhiệm vụ so sánh với tờ bệnh án mới.
Khi bệnh nhân vào viện sẽ được phân theo từng chuyên khoa.
Về khoa nào thì y tá văn phòng quản lý hồ sơ bệnh án đó.
Hằng ngày y tá văn phòng báo cáo bệnh nhân vào viện, ra viện lên phòng vi
tính.
Những bệnh nhân ra viện phòng vi tính sẽ in ra một bản danh sách các bệnh
nhân(ra theo ngày).
Hồ sơ bệnh án của bệnh nhân ra viện sẽ được các bác sỹ tổng kết, y tá văn
phòng kiểm tra và xin chữ ký của chủ nhiệm khoa. Sau đó sẽ xếp theo thứ tự ngày
ra hồ sơ kèm theo phim ảnh và chuyển xuống phòng lưu trữ hồ sơ.
ở đây máy vi tính chỉ nhập một số thông tin về bệnh nhân vào viện, ra viện