phân tích những giá trị chủ đạo của lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam? Nêu phương hướng vận dụng những giá trị đó đối với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay - Pdf 33

Câu 1: Đồng chí hãy phân tích những giá trị chủ đạo của lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam?
Nêu phương hướng vận dụng những giá trị đó đối với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay?
Bài làm:
Trong mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, từ thời đại các vua Hùng đến thời đại HCM, dân tộc ta
đã tích lũy được những tư tưởng chính trị quý báu. Những giá trị ấy đã trở thành một trong những
nguồn gốc quan trọng để hình thành tư tưởng HCM, đường lối, chính sách của Đảng và thẩm thấu trong
đời sống chính trị của nhân dân ta.
Những tư tưởng chính trị quý báu đó được hình thành và phát triển được quy định từ những nhân tố
về đặc điểm địa lý, hình thành, phát triển dân cư và nhà nước ta.
Thật vậy, khi nghiên cứu môn học chính trị học ta thấy: Một là, với đặc điểm địa lý-chính trị của
nước ta: Việt Nam đất không rộng, người không đông, tài nguyên phong phú, dồi dào, có vị trí địa lý
quan trọng, địa bàn chiến lược lợi hại vùng Đông Nam Á, luôn đứng trước hiểm họa của thiên nhiên và
của giặc ngoại xâm. Cho nên cuộc đấu tranh chống lại sức mạnh thiên nhiên, khai thác tài nguyên thiên
nhiên để không ngừng cải thiện và nâng cao cuộc sống vận chất và tinh thần của cả cộng đồng luôn là
thử thách đối với sự tồn vong suốt cả chiều dài lịch sử của dân tộc. Đồng thời, chiến đấu chống ngoại
xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia dân tộc trở thành quy luật
sống còn của con người Việt Nam trong lịch sử cũng như hiện tại. Hai là, về đặc điểm hình thành phát
triển dân tộc và nhà nước: Việt Nam là đất nước đa dân tộc, đa tôn giáo-tín ngưỡng, đa sắc thái văn hóa
bản địa và là quốc gia sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước nên công việc thủy lợi, bao giờ cũng nổi lên
hàng đầu và yêu cầu phải thường xuyên chống kẻ thù ngoại xâm, đó là hai yếu tố tạo nên truyền thống
ĐK của dân tộc Việt Nam, đồng thời in dấu ấn nổi bật lên mối quan hệ giữa các dân tộc cùng sống
trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là một khối thống nhất, tính cộng đồng chung đã đạt đến mức
độ tương đối bền vũng, cùng giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Thực tế lịch sử Việt Nam đã chứng minh
chính CN yêu nước Việt Nam là ngọn cờ ĐK các dân tộc anh em trên đất nước này; vượt lên lòng tự
hào dân tộc của người dân mỗi dân tộc, tất cả họ chung sống hòa thuận, cùng chung lưng đấu cật để xây
dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Như vậy, dân tộc và Nhà nước Việt Nam hình thành và phát triển
ngoài tính quy luật chung mà còn do nguyên nhân chủ yếu là yêu cầu tập hợp sức mạnh cộng đồng
chống trả với thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm. Cho nên, sự tồn tại, phát triển của Nhà nước và dân
tộc Việt Nam không tách rời nhau.
Những đặc điểm trên đã làm cho lịch sử Việt Nam nói chung, lịch sử tư tưởng chính trị nói riêng
phát triển một cách đặc thù trong dòng chảy của sự phát triển tư tưởng chính trị nhân loại.

gian chống ngoại xâm cộng lại trên 12 thế kỹ, nhưng bằng chính sức mạnh của mình, dân tộc Việt Nam
vẫn giữ được nền độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ. Do đó, để tồn tại và phát triển, dân tộc ta phải tự
vươn lên bảo vệ các quyền thiêng liêng của mình, tự xây dựng và phát triển đất nước bằng chính sức
của mình.
Ba là, thực thi nền chính trị nhân bản vì con người và quốc gia dân tộc. Thực tế lịch sử dân tộc đã
chỉ ra rằng, chỉ có nền chính trị chăm lo đến con người, đại diện cho quyền lợi của quốc gia, dân tộc
mới hợp đạo lý của con người Việt Nam, mới tập hợp và khơi dậy được sự đồng tâm hiệp lực của cả
cộng đồng chống lại giặc ngoại xâm và chế ngự thiên nhiên. Dân tộc và giai cấp luôn đứng trước thử
thách sống còn của giặc ngoại xâm và tai họa của thiên nhiên nên một nền chính trị thuần túy phục vụ
cho lợi ích của giai cấp sẽ trở thành xa lạ với quãng đại quần chúng nhân dân; sẽ không huy động được
sức mạnh của toàn dân để vượt qua thách thức. Thiên nhiên khắc nghiệt, kẻ thù hùng hãn và tàn bạo,
con người phải thương yêu, che chở và nương tựa vào nhau mà tồn tại và chiến đấu. Chính nhân bản
còn là vũ khí vô cùng lợi hại để chiến thắng kẻ thù và là phương thức cơ bản để nhân hóa chính mình.
Cho nên, đường lối chính trị “khoan dân” - “nhân nghĩa” đã tạo nên thế trận lòng dân vững chắc cho
những cuộc chiến tranh nhân dân mang tính lịch sử của dân tộc. Chỉ có nền chính trị nhân bản mới đáp
ứng được yêu cầu tồn tại và phát triển của đất nước
Như vậy, lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam là lịch sử của sự phát triển đường lối chính trị đấu
tranh cho nền độc lập dân tộc, chủ quyền của quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; đấu tranh vì
những giá trị của con người. Những giá trị ấy soi sáng con đường xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ
quốc thân yêu của chúng ta suốt mấy ngàn năm lịch sử.
Từ những giá trị chủ đạo của lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam, cùng với CN Mác-Lênin và tư
tưởng HCM, Đảng ta đã vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo và đạt được những kết quả to lớn. Qua
thực tiển 20 năm đổi mới, Đảng ta càng tích luỹ thêm nhiều kinh nghiệm. Những phương hướng vận
dụng của Đảng ta trong công cuộc đổi mới là:
Thứ nhất: Tiếp tục thực hiện và thực hiện có hiệu quả cao hơn về “Đại đoàn kết toàn dân tộc trên
nền tảng liên minh GCCN với GCND và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là đường lối
chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa
quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đồng thời, “vấn
đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Các
dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng

phong cách trọng dân, gần dân và có trách nhiệm với dân.
Năm là: Cán bộ phải là người có phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với
Đảng, hết lòng phấn đấu vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc; có bản lĩnh chính trị vững vàng, không
dao động trước những khó khăn, thử thách; có năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao; có nhân cách
và lối sống mẫu mực, trong sáng; có ý thức tổ chức kỷ luật cao, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân.
Khắc phục những biểu hiện cá nhân, cục bộ, không công tâm, nể nang, tuỳ tiện trong công tác cán bộ.
Cụ thể hoá và thể chế hoá nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán
bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của tổ chức và người đứng đầu của tổ chức trong hệ thống chính trị
về công tác cán bộ.
Tóm lại: Lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam là lịch sử của sự phát triển đường lối chính trị đấu
tranh cho nền độc lập dân tộc, chủ quyền của quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; đấu tranh vì
những giá trị của con người. Những giá trị ấy soi sáng con đường xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ
quốc thân yêu của chúng ta suốt mấy ngàn năm lịch sử. Những giá trị bất hủ đó cũng đã góp phần tạo
nên sức mạnh cho cả dân tộc làm nên Cách mạng tháng Tám - lập nên Nhà nước dân chủ cộng hòa đầu
tiên ở Đông Nam Á, góp phần cho chiến thắng Điện Biên Phủ và đại thắng mùa xuân 1975 - thống nhất
Tổ quốc. Ngày nay, dân tộc ta đang tiếp tục xây dựng đất nước “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh”.
Câu 2: Đồng chí hãy làm rõ các giá trị cơ bản của lịch sử tư tưởng chính trị phương Tây từ cổ đại
đến cận đại? Nêu phương hướng vận dụng các giá trị đó vào việc xây dựng nhà nước pháp quyền
XHCN ở nước ta hiện nay?
Bài làm:
Tư tưởng chính trị phương Tây từ cổ đại đến cận đại được thể hiện ra bằng nhiều học thuyết, trường
phái khác nhau. Mặc dù có không ít hạn chế, sai lầm, song từ bản chất hướng tìm các khách quan, duy
lý, tư duy chính trị phương Tây đã đóng góp cho nhân loại nhiều giá trị manh tính phổ biến cho việc tổ
chức và xây dựng NNPQ trong các chế độ xã hội.
Ở phương Tây thời cổ đại (TK IV TCN - TK III) với những cuộc đấu tranh một mất một còn giữa
chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc mà biểu hiện của nó là những cuộc cải cách dân chủ ở các thành bang
là đặc trưng cơ bản nổi bật của hệ tư tưởng lúc bấy giờ; trong cuộc đấu tranh đó, những tư tưởng chính
trị tiến bộ hình thành và phát triển khá mạnh mẻ, đặt nền móng hết sức căn bản cho sự phát triển tư
tưởng chính trị nhân văn của nhân loại về sau. Thời trung cổ (TK IV - TK XV) là sự kết hợp và xuyên

duy nhất xứng đáng là chính phủ được nắm giữ bởi các thủ lĩnh thực sự có khoa học chính trị và có
những tính khí phù hợp. Đó còn là con người không vướng bận vế sở hữu tài sản hay lo âu giàu nghèo,
một con người luôn ở trung điểm và biết uốn mình theo những lời khuyên của các bên. Người cầm
quyền phải biết hướng quyền lực chung vào phục vụ cho dân, biết chỉ huy mình trước khi chỉ huy
người khác, phải biết xa lánh và làm cho nhân dân phải xa lánh việc ăn chơi xa xỉ. Có thể thấy, yêu cầu
về thủ lĩnh chính trị khá toàn diện.
Thứ hai, về vấn đề nguồn gốc quyền lực nhà nước. Ổ thời kỳ cổ đại và trung đại, một số quan
điểm nổi bậc của các học giả tiêu biểu ở thời cổ đại như: Heraclit (530 -470 TCN), Aristote (384 - 322
TCN), Ciceron (106 - 43 TCN), Qguystanh (357 - 430), Tomat Dacanh (1225 - 1274), … xuất phát từ
việc xem trạng thái tự nhiên của con người tự nó đã hoàn hảo nên Heraclit cho rằng, quyền lực xã hội
là quy luật vĩnh viễn, pháp luật nhằm thực hiện tính tất yếu của quyền lực và là điều kiện tối cần thiết
cho sự thống nhất xã hội … Ciceron, thì quan niệm tổ chức quyền lực là tất yếu bắt nguồn từ bản chất
của con người, là kết quả của một quá trình lịch sử bởi nhân dân, chứ không sinh ra bởi cá nhân người
thực hành. Phát triển cao hơn tư tưởng quyền lực tự nhiên của các triết gia tiến bộ thời cổ đại,
Qguystanh (357 - 430), khẳng định do bản chất tự nhiên, con người cần đến một xã hội và một xã hội
cần đến quyền uy, nên quyền lực phải có hai phẩm chất quan trọng, trước hết, quyền lực là sở hữu
chung của cộng đồng xã hội; nếu quyền lực là sở hữu của cá nhân thì là một sai lầm cơ bản. Và hai là,
sứ mệnh của quyền lực là làm cho sự công bằng ngự trị, không có công bằng thì quyền lực đó sẽ trở
nên sai biệt …
Thời kỳ cận đại, tiêu biểu thời kỳ này là J.Locke (1632 - 1704), Mongteskyơ (1689 - 1755),
J.J.Rutso (1712 -1778) … Phát triển cao hơn tư tưởng về quyền lực tự nhiên thời cổ đại và trung đại,
J.Locke luận giải về nguồn gốc và bản chất của nhà nước, của quyền lực nhà nước như sau: Một là,
quyền lực nhà nước về bản chất là quyền lực của nhân dân; quyền lực của nhân dân là cơ sở, nền tảng
của quyền lực nhà nước; trong quan hệ với dân, nhà nước không có quyền riêng mà chỉ thực hiện sự ủy
quyền của nhân dân. Hai là, nhà nước-xã hội chính trị-xã hội công dân, thực chất là một “khế ước xã
hội”; trong đó, công dân nhượng một phần quyền của mình mà hình thành quyền lực chung - quyền lực
nhà nước để điều hành, quản lý… xã hội nhằm bảo toàn quyền tự nhiên của mỗi cá nhân con người. Ba
là, bảo toàn quyền tự nhiên của mỗi cá nhân con người, đó cũng là tiêu chí căn bản xác định giới hạn và
phạm vi hoạt động của nhà nước; đi quá giới hạn này, chính quyền trở thành chuyên chế, kẻ thù của tự
do, đối tượng của cách mạng … Từ phân tích trạng thái tự nhiên lý tưởng của con người, J.J.Rutso

hướng công bằng vì lợi ích chung, chăm lo cho nhân dân. Tuy nhiên, nhược điểm của thể chế này là do
có số đông người ít học cầm quyền thì khó có khả năng chống độc tài, chuyên chế, dễ rơi vào tiểu tiết
mà quên đi tầm chiến lược, thường thấy những chuyện trước mắt mà không thấy trước những chuyện
lâu dài và dễ bị kẻ xấu kích động lôi kéo. Tuy nghiêng về thể chế quân chủ, nhưng theo Ông, loại hình
thể chế chính trị tốt nhất là thể chế hổn hợp những đặc trưng (ưu điểm) của ba loại hình cơ bản nói trên.
Theo Aristote (384 - 322 TCN), Ông cho rằng thể chế nhà nước dân chủ là thể chế người giàu, người
nghèo không bên nào số lượng tuyệt đối. Và cho rằng mọi thể chế đều có nguy cơ biến chất, thay đổi
bằng cuộc cách mạng. Ông là người đầu tiên phân loại quyền lực nhà nước: Lập pháp, hành pháp, tư
pháp; đề cao vai trò của pháp luật đối với việc ổn định xã hội. Nhà nước có chức năng bảo đảm cho xã
hội được sống hạnh phúc. Polybe (201 - 120 TCN), kế thừa tư tưởng trước đó vào thể chế nhà nước,
ông cho rằng thể chế nhà nước là phải kết hợp những ưu điểm các thể chế chứ không theo một tiêu chí
thuần túy nào bởi vì trong thuần túy đã chứa đựng mầm mống sự yếu kém khi phát huy tối đa sẽ bộc lộ
yếu kém.
Thời kỳ cận đại, phát triển tư tưởng về thể chế nhà nước thời cổ đại, J.Locke (1632 - 1704) cho
rằng, nhà nước-xã hội, chính trị-xã hội công dân, thực chất là một “khế ước xã hội”; trong đó, công dân
nhượng một phần quyền của mình mà hình thành quyền lực chung - quyền lực nhà nước để điều hành,
quản lý… xã hội nhằm bảo toàn quyền tự nhiên của mỗi cá nhân con người. Để chống độc tài, phải
thực hiện phân quyền và quyền lực phải được phân chia theo ba lĩnh vực: Lập pháp, hành pháp và liên
hợp (quan hệ quốc tế). Đặc biệt “bằng mọi giá phải tách việc soạn các luật pháp ra khỏi việc thi hành
chúng”. Còn Mongteskyơ (1689 - 1755), từ phân tích các hình thức nhà nước cụ thể, tiếp thu và phát
triển tư tưởng phân quyền ở J.Locke, Ông đã xây dựng học thuyết phân quyền với mục đích tạo dựng
được những thể chế chính trị bảo đảm tự do chính trị cho các công dân và Ông cho rằng, cách hữu hiệu
nhất để chống lạm quyền và chống độc quyền là phân chia để sao cho “quyền lực kềm chế quyền lực”,
đó là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Tư tưởng phân quyền của Mongteskyơ ảnh
hưởng sâu rộng trong lịch sử chính trị nhân loại, nó mở đường cho thể chế lập hiến - thể chế Hiến pháp
1791 ở Pháp và nền Cộng hòa Tổng thống ở Mỹ với Hiến pháp Philadenphia 1787. Ở J.J.Rutso (1712
-1778), các quan điểm của Ông về chính trị cấp tiến hơn nhiều so với Mongteskyơ. Mongteskyơ bảo vệ
tư tưởng quân chủ lập hiến, tư tưởng đại diện nhân dân, còn J.Rutso thì tiến xa hơn, coi nguyên tắc cơ
bản trong học thuyết của mình là tư tưởng chủ quyền nhân dân. Ông chủ trương quyền lực nhà nước
phải tập trung thống nhất, theo Ông, nếu quyền lực có phân ra các cơ quan nắm giữ các nhiệm vụ khác

mới - Đại hội VI (12/1986). Đây là Đại hội đổi mới về chất của Đảng CSVN về mọi mặt, trong đó có
cả quan điểm về Nhà nước XHCN. Báo cáo chính trị của Đại hội khẳng định: "Nhà nước ta là công cụ
của chế độ làm chủ tập thể XHCN. Trong TKQĐ, đó là Nhà nước chuyên chính vô sản thực hiện chế
độ dân chủ XHCN. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chức năng của Nhà nước là thể chế hóa bằng pháp luật
quyền hạn, lợi ích, nghĩa vụ của nhân dân lao động và quản lí kinh tế, xã hội theo pháp luật ". Ta thấy
rằng, mặc dù Đảng vẫn xem Nhà nước ta là Nhà nước chuyên chính vô sản nhưng vè chức năng của nó
đã được Đảng ta chỉ rõ là xây dựng pháp luật, quản lí xã hội và pháp luật đó phải "thể chế hóa quyền
hạn, lợi ích, nghĩa vụ của nhân dân", tức pháp luật phải là pháp luật dân chủ. Tư tưởng về pháp quyền
của Đảng được thể hiện trong Đại hội này là ở chỗ đó. Tại Đại hội VI cũng đã nêu ra phương châm "lấy
dân làm gốc" và cơ chế "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" thể hiện chếư độ nhân dân lao động
tự quản lí Nhà nước của mình, coi trọng công tác vận động quần chúng, phát huy quyền làm chủ của
nhân dân.
Tiếp tục tư tưởng đó, tại Đại hội VII (06/1991), lần đầu tiên, khái niệm Nhà nước chuyên chính vô
sản không còn đề cập đến nữa, mà thay vào đó là "xây dựng Nhà nước XHCN, Nhà nước của nhân dân,
do nhân dân, và vì nhân dân" và nền "dân chủ XHCN". Đây được xem là của tòan bộ tổ chức và hệ
thống chính trị của nước ta trong giai đọan mới. Đảng ta cũng khẳng định Nhà nước là "tổ chức thực
hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, Nhà nước ta phải có đủ quyền lực
và đủ khả năng định ra luật pháp và tổ chức quản lí mọi mặt đời sống xã hội bằng luật pháp. Sửa đổi hệ
thống tổ chức Nhà nước, cải cách bộ máy hành chính, kiện tòan các cơ quan lập pháp để thực hiện có
hiệu quả chức năng quản lí Nhà nước". Đảng ta xác định: "Tiếp tục cải cách bộ máy hành chính theo
phương hướng: Nhà nước thực sự là của dân, do dân, vì dân. Nhà nước quản lí xã hội bằng pháp luật,
dưới sự lãnh đạo của Đảng, tổ chức và họat động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện thống
nhất quyền lực nhưng phân công, phân cấp rành mạch; bộ máy tinh giản, gọn nhẹ, và họat động có chất
lượng cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật quản lí". Đảng cũng khẳng định: "Nhà
nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp với sự phân công rành mạch ba
quyền đó". Đây là lần đầu tiên các chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp được định danh đúng với
nó trong VK của đảng - các quyền. Đây có thể được xem là những dấu hiệu đầu tiên trong việc xây
dựng NNPQ của Đảng ta. Và tại Hội nghị đại biểu tòan quốc giữa nhiệm kỳ, khóa VII (năm 1994) đã
chính thức đưa vấn đề xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam vào VK của Đảng. Trong VK của Đảng tại
Hội nghị này đã nêu ra nhiệm vụ: "Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền

lược “diễn biến hoà bình” mà các thế lực chống đối đang ráo riết tiến hành.
Muốn thế, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta cùng nhau ra sức xây dựng nhà nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam là nhà nước “của dân, do dân và vì dân”, “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân”; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức phải vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung
thành của nhân dân, vừa “Hồng”, vừa “Chuyên”, mà trước hết, mỗi cán bộ, công chức hàng giờ, hàng
ngày phải ra sức phấn đấu học tập, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức HCM./.
Câu 3: Từ lý luận về quyền lực chính trị, đồng chí hãy nêu những giải pháp cơ bản để phát huy
quyền lực chính trị của nhân dân lao động ở nước ta hiện nay?
Bài làm:
Chính trị học là khoa học về đấu tranh cho quyền lực, là khoa học về giành, giữ và thực thi quyền
lực trong xã hội có giai cấp. Quyền lực chính trị là vấn đề trung tâm của mọi cuộc đấu tranh giai cấp,
mục tiêu trực tiếp của mọi chủ thể chính trị. Không nắm lấy được quyền lực chính trị thì lợi ích của giai
cấp hay dân tộc không thể nào thực hiện được. Song quyền lực chính trị chỉ xuất hiện và tồn tại khi xã
hội có sự phân chia giai cấp, còn quyền lực đã xuất hiện cùng với loài người được tổ chức thành xã hội
và sẽ tồn tại cùng với đời sống xã hội.
Quan niệm về quyền lực, ngay từ thời cổ đại, trong tác phẩm “Chính trị Aten”, Arixtốt đã nghiên
cứu vấn đề quyền lực và xem xét những đặc điểm cơ bản của nó; theo Ông, quyền lực không chỉ là cái
vốn có của mọi sự vật biết cảm giác, mà của cả giới tự nhiên vô cơ. Trong thời trung cổ, các nhà thần
học đưa “quyền lực thượng đế” lên vị trí hàng đầu; họ xem loài người chỉ là cái phát sinh từ quyền lực
thượng đế. Các nhà không tưởng và các nhà bách khoa thời phục hưng đã đặt vấn đề lật đổ quyền lực
PK để xác lập quyền lực tư sản là nhiệm vụ trung tâm của lực lượng dang lên đương đại (GCTS). Còn
ngày nay, quyền lực bao gồm quyền và lực, quyền lực chính là sức mạnh bắt người khác phải phục
tùng. Theo quan điểm chính trị học từ lập trường triết học xã hội, đặc biệt triết học DVBC, cho thấy:
Quyền lực là phạm trù rút ra từ hoạt động của con người, từ các quan hệ của họ khi xuất hiện giai cấp
Trang 8


và nhà nước. Quyền lực hiểu theo một cơ cấu xã hội, nó thuộc về quyền lực xã hội, bao gồm rất nhiều
“nhánh” khác nhau xuất phát từ tính đa dạng của các quan hệ xã hội.
Nhưng sự hiện diện của quyền lực không phải lúc nào cũng nằm trong tay của một thế lực. Nó có sự

chức năng thống trị giai cấp và chức năng xã hội.
Ngày nay, hình thức biểu hiện của quyền lực chính trị được biểu hiện ở hai hình thức: Một là, tuyệt
đại bộ phận các nước tư bản, hình thức biểu hiện của quyền lực chính trị được tổ chức theo kiểu phân
lập quyền lực, gắn với chế độ đa đảng đối lập, đa nguyên chính trị. Hai là, các nước XHCN và một số
nước tư bản, hình thức biểu hiện của quyền lực chính trị lại được tổ chức theo kiểu tập trung thống
nhất, gắn liền với chế độ nhất nguyên chính trị.
Qua nghiên cứu chính trị học ta thấy, trong các chế độ có bản chất chính trị - xã hội khác nhau thì
nội dung quyền lực chính trị cũng biểu hiện khác nhau vì cơ sở xuất phát của quyền lực chính trị là xuất
phát từ nền tảng chế độ kinh tế-xã hội và xuất phát từ lợi ích giai cấp và bảo vệ giai cấp.
Trong chế độ TBCN, sau khi lật đổ chế độ phong kiến thiết lập nên nhà nước tư sản của GCTS. Về
PTSX có tiến bộ hơn trước tuy nhiên PTSX TBCN là bóc lột giá trị thặng dư do QHSX dựa trên cơ sở
chiếm hữu tư nhân TBCN về TLSX. Do GCTS chiếm giữ TLSX nên GCTS nắm quyền lực chính trị.
Vì thế trong chế độ TBCN quyền lực chính trị không thuộc về nhân dân lao động. Đặc biệt để duy trì
bản chất bóc lột, CNTB sử dụng quyền lực chính trị bảo vệ GCTS là thiểu số và trấn áp đa số nhân dân
lao động. Vậy trong chủ nghĩa TB quyền lực chính trị thuộc vê một số ít người (giai cấp tư sản) chứ
không thuộc về đa số nhân dân lao động. Quan niệm quyền lực chính trị ”thuộc về nhân dân lao động “
đã xuất hiện từ thời cổ đại và được tuyên bố, ghi nhận một cách phổ biến trong hiến pháp của các nước
cộng hoà dân chủ tư sản nhưng trên thực tế cũng chỉ là hình thức rất hạn chế.
Xét chung cho các chế độ xã hội có giai cấp đối kháng thì giai cấp bóc lột không ngừng củng cố và
xây dựng quyền lực nhà nước để quyền lực nhà nước có đầy đủ sức mạnh trấn áp các giai cấp khác. Do
Trang 9


vậy, trong các chế độ xã hội có giai cấp đối kháng, quyền lực chính trị cơ bản thuộc về giai cấp bóc lột,
còn nhân dân lao động về cơ bản không nắm được quyền lực chính trị.
Khác với các chế độ XH nói trên, trong CHXH xét về mặt lợi ích thì quyền lực chính trị cơ bản
thuộc về GCCN, GCND, tầng lớp trí thức (hay nói khái quát là thuộc về nhân dân lao động) vì nó xuất
phát từ hai cơ sở : Một là xuất phát từ bản thân của chế độ XHCN mà nét đặc trưng nhất là chế độ công
hữu về tư liệu sản xuất,nhân dân lao động là người nắm giữ TLSX chủ yếu nên nắm quyền lực kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội từ đó nắm được quyền lực nhà nước làm công cụ xây dựng xã hội mới; Hai là

Một là, quyền tổ chức quyền lực nhà nước. Nhân dân thông qua ý chí chung lập ra Hiến pháp và
bầu ra QH. HP quy định những nguyên tắc cơ bản, kết cấu tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của quyền
lực nhà nước và từng cơ quan quyền lực nhà nước. QH là cơ quan quyền lực cao nhất có quyền lập
Hiến và lập pháp. Toàn bộ việc tổ chức quyền lực nhà nước từ TW đến địa phương và từng cơ sở đều
được quy định bởi pháp luật do nhân dân lập ra.
Hai là, quyền lãnh đạo quyền lực nhà nước. Nhân dân tổ chức ra quyền lực nhà nước nên phải
thực hiện sự lãnh đạo đối với quyền lực đó. Để sự lãnh đạo tập trung và thống nhất , nhân dân trao
quyền lãnh đạo nhà nước cho đội tiên phong của giai cấp và dân tộc; đội tiên phong đó chính là Đảng
CSVN. Nhưng để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng luôn đúng ý nghuyện của mình, nhân dân không chỉ
tham gia vào quá trình hình thành đường lối, chủ trương mà còn phải thực hiện quyền phản biện và
giám sát đối với hoạt động lãnh đạo của Đảng, nhà nước, giám sát đối với mọi cán bộ đảng viên và
công chức nhà nước..
Ba là, quyền quản lý quyền lực nhà nước. Để đại biểu cho mọi tổ chức và hoạt động của nhà nước
luôn xuất phát từ và vì lợi ích chung. Thông qua các tổ chức đại diện, các đại biểu do mình bầu ra và
qua các tổ chức chính trị-xã hội và bằng quyền làm chủ trực tiếp của mình, nhân dân phải thực hiện
Trang 10


quyền giám sát, kiểm tra, kiểm soát việc các cơ quan nhà nước sử dụng quyền lực mà mình ủy thác để
kịp thời điều chỉnh, uốn nắn khi phát hiện có những biểu hiện lệch lạc. Đồng thời, thông qua sự tác
động của xã hội công dân, nhân dân buộc nhà nước phải luôn phục tùng chủ quyền tối thượng của
mình.
Bốn là, quyền phán quyết và tự quyết, Tuy thông qua các đạo luật, các quyết nghị của cơ quan
quyền lực của mình, nhân dân ủy nhiệm quyền quản lý, điều hành công việc thường xuyên của đất
nước cho các cơ quan nhà nước. Song, đối với những vấn đề lớn có liên quan đến sự hưng suy của quốc
gia dân tộc phải do toàn thể nhân dân trực tiếp phán quyết thông qua các cuộc trưng cầu dân ý. Đối với
những việc liên quan trực tiếp đến từng bộ phận dan cư, là vấn đề chính yếu của bộ phận nhân dân đó
thì chỉ có họ mới có quyền tự quyết cho chính mình. Không một ai có thể thay thế quyền phán quyết và
quyền tự quyết này của nhân dân khi chưa được nha ủy thác.
Năm là, quyền chấp hành nhà nước. Nhà nước thực thi quyền lực của nhân dân đã trao cho nên

chủ chốt chưa thực hiện đều đặn việc đối thoại trực tiếp, tự kiểm điểm trước dân và nghe dân góp ý phê
bình xây dựng. Chế độ tự phê bình chưa được thực hiện rộng rãi, chưa trở thành nền nếp ở cơ sở.
Hiện nay, để phát huy quyền lực chính trị thuộc về nhân dân lao động, đảng ta khảng định: “Dân chủ
xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,
thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Nhà nước đại diện quyền làm chủ của
nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối chính trị của Đảng. Mọi đường lối, chính sách
của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân”
và “Xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó cán bộ, đảng viên và công chức phải thực sự là công bộc
của nhân dân. Xác định các hình thức tổ chức và có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền dân chủ trên
các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Đề cao trách nhiệm của các tổ chức Đảng, Nhà nước đối
với nhân dân. Bộ máy nhà nước, các thiết chế khác trong hệ thống chính trị có nhiệm vụ đề xuất ý kiến
Trang 11


với Đảng trong quá trình xây dựng, hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng”.
Tuy nhiên, để hiện thực hóa điều đó đòi hỏi phải giải quyết hàng loát các vấn đề, trong đó xét từ sự
lãnh đạo của ĐCSVN hiện nay, ít nhất phải tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản sau:
Một là, để đảm đương vai trò lãnh đạo xã hội, vai trò cầm quyền trong chế độ dân chủ, Đảng phải
thật sự là lực lượng đại diện cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc, thời đại (Lê-nin) hay là ''đội
tiên phong dũng cảm và bộ tham mưu sáng suốt của giai cấp vô sản, của nhân dân lao động và của cả
dân tộc”, như vậy, nhiệm vụ đầu tiên cần đặc biệt lưu tâm là nâng cao trình độ trí tuệ, tư duy lý luận
của Đảng. Vấn đề này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, bởi chỉ có Đảng nào được vũ trang bằng lý luận
tiên phong của một giai cấp tiên phong thì mới làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong trong thực tế. Ở đây
có nhiều nội dung, nhưng điều cấp thiết nhất hiện nay là các loại vấn đề sau: Thứ nhất, nhận thức và
xử lý đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa bản chất giai cấp và vai trò lực lượng đại diện cho lợi ích
của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và lợi ích của cả dân tộc của ĐCSVN. Đảng phải lãnh đạo
xã hội theo lập trường giai cấp công nhân, nhưng phải vì lơi ích của nhân dân, sống trong sự đùm bọc,
chở che của nhân dân, của dân tộc thì mới trường tồn. Thứ hai, cụ thể hóa thành những nội dung có
tính thể chế và cơ chế để thực hiện đúng đắn nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Chỉ có thể dựa
vào những quy định có tính thể chế và thông qua cơ chế rõ ràng mới kịp thời phát hiện được những cá

Sức mạnh của đất nước, của dân tộc là sức mạnh của toàn dân, của chế độ. Phương thức và con
đường để tạo dựng và phát huy sức mạnh đó chính là sự đồng thuận, sự kết hợp thống nhất giữa ''ý
Đảng'' và ''lòng dân''.
Trong điều kiện một Đảng cầm quyền, dân chủ trong xã hội chỉ được đảm bảo thực thi có hiệu quả
khi trước hết phải thực hành dân chủ trong Đảng. Trong xã hội, lúc này, có thể xem việc thực hiện Quy
chế dân chủ ở cơ sở là khâu đột phá để hoàn thiện nền dân chủ XHCN ở nước ta.
Chỉ khi nào quần chúng nhân dân lao động ở nước ta cảm nhận được những giá trị đích thực của nền
Trang 12


dân chủ XHCN dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN mang lại cho họ thì lúc đó dân chủ XHCN, nguyên tắc
quyền lực thuộc về nhân dân lao động mới trở thành hành động chung của toàn xã hội, từng bước được
hiện thực hóa..
Tóm lại, chúng ta đã và đang sống trong chế độ XHCN, nhiệm vụ của chúng ta là phát huy quyền
lực chính trị của nhân dân lao động, để đảm bảo vững chắc cho việc củng cố và đổi mới hệ thống chính
trị ở nước ta hiện nay. Muốn vậy chúng ta cần ra sức quán triệt tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng và
thực hiện có hiệu quả di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh : “Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích
đều vì dân”. Và Người đã từng nói: ''Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới,
không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân... Trong xã hội không có gì tốt đẹp vẻ vang
bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân''
Câu 4: Vận dụng quan điểm của CN Mác-Lênin về mối quan hệ giữa chính trị với kinh tế để
phân tích luận điểm sau: “Không có một lập trường chính trị đúng đắn thì một giai cấp nhất định
nào đó không thể giữ sự thống nhất của mình và do đó, cũng không thể hoàn thành được nhiệm
vụ của mình trong lĩnh vực sản xuất”
Bài làm:
Chính trị và kinh tế là hai lĩnh vực quan trọng trong đời sống xã hội có Nhà nước. Vai trò lãnh đạo
của chính trị đối với kinh tế là một vấn đề mà mọi chủ thể kinh tế và chính trị đều quan tâm. Mối quan
hệ giữa chúng tác động trực tiếp đến quá trình phát triển của lịch sử xã hội loài từ khi có sự phân chia
giai cấp nói chung và của từng quốc gia dân tộc nói riêng. Vì vậy, việc hình thành những quan điểm
đúng đắn về chính trị và kinh tế, xử lý tốt mối quan hệ giữa chúng là vấn đề sống còn của một chế độ

của KTTT, vì vậy các quan hệ kinh tế quy định các quan hệ chính trị. Về mặt thực tiễn: Ở hình thái
kinh tế xã hội CHNL thì với QHSX của chế độ CHNL, thể chế chính trị thuộc về giai cấp chủ nô, ở
hình thái kinh tế xã hội TBCN thì với QHSX của chế độ TBCH, thể chế chính trị thuộc về GCTS ở
Trang 13


CNXH thì thể chế chính trị thuộc về GCCN.
Kinh tế thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của chính trị, thậm chí một vấn đề kinh tế không lớn nhưng
có thể trở thành một vấn đề chính trị phức tạp, có thể làm đảo lộn đời sống chính trị, xã hội. Lực lượng
nào, giai cấp nào nắm kinh tế thì lực lượng đó, giai cấp đó nắm quyền lực chính trị, chi phối đời sống
xã hội. Ngược lại, nếu một giai cấp, lực lượng xã hội đã làm chủ về quyền lực chính trị mà không xây
dựng và giữ được địa vị chủ đạo về kinh tế thì sớm muộn cũng sẽ không thể duy trì được quyền lực
chính trị. Chính vì vậy, Lênin viết “Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế”. Luận điểm này chỉ
rõ nguồn gốc chính trị là từ kinh tế, chính trị chỉ hình thành tồn tại và phát triển trên cơ sở đòi hỏi
khách quan bởi sự phát triển kinh tế. Từ thực trạng kinh tế, kết cấu giai cấp xã hội, mà hình thành nên
một chế độ tương ứng. Nền chính trị của một nước bao giờ cũng là sản phẩm trực tiếp của khuynh
hướng kinh tế chủ đạo, QHSX thống trị. Tính quy định của kinh tế đối với chính trị còn thể hiện ở chỗ
nền chính trị của một nước tuy là phản ánh tổng thể các xu hướng kinh tế nhưng bao giờ cũng là sản
phẩm trực tiếp của xu hướng kinh tế chủ đạo.
Khẳng định tính quyết định của kinh tế đối với chính trị, chúng ta càng nhận thức rõ rằng trong quá
trình đổi mới ở nước ta hiện nay đang tồn tại một nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó có cả thành
phần kinh tế XHCN lẫn TBCN và nền kinh tế này sẽ duy trì suốt thời kỳ quá độ; nếu như trong nền
kinh tế nhiều thành phần đó chúng ta không củng cố, xây dựng thành phần kinh tế XHCN trở thành một
thành phần kinh tế mạnh, chủ đạo, có khả năng chi phối các thành phần kinh tế khác thì khó đảm bảo
được định hướng XHCN. Đây cũng là vấn đề nguyên tắc trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay
cũng như trong suốt thời kỳ quá độ, bởi vì thành phần kinh tế XHCN đóng vai trò chủ đạo trong nền
kinh tế sẽ là cơ sở cho tồn tại vững chắc của hệ thống chính trị XHCN.
Hai: Vai trò chính trị đối với kinh tế: Kinh tế của vai trò quyết định đến chính trị, tuy nhiên chính
trị luôn mang tính độc lập của nó và có tác động trở lại đến kinh tế một cách toàn diện. Chính trị thực
hiện khả năng nhận thức các qui luật kinh tế khách quan, nhận thức được thực trạng kinh tế của đất



Thứ tư: Vai trò của chính trị tác động đến các chủ thể kinh tế. Chính trị của giai cấp cầm quyền
không thể không tác động đến chủ thể kinh tế. Bởi sự tác động này sẽ tạo điều kiện cho các chủ thể
kinh tế phát triển và trong đó sẽ góp phần mang lại lợi ích nhất cho giai cấp cầm quyền. Hiện nay, mỗi
thành phần kinh tế được coi là chủ thể kinh tế. Vậy chính trị phải tác động lên các chủ thể, để đảm bảo
tất cả các chủ thể này đều phát triển tốt, trên cơ sở phát huy mặt tích cực và hạn chế của từng chủ thể
kinh tế. Tạo điều kiện cho chủ thể thực hiện lợi ích riêng, đồng thời góp phần thực hiện lợi ích chung
của quốc gia dân tộc trên cơ sở định hướng chính trị, vì vậy không thể không có sự tác động của chính
trị vào các chủ thể kinh tế.
Thứ năm: Vai trò của chính trị trong việc quản lý chính trị-XH, con người trong các cơ sở sản xuất.
Nói đến vấn đề quản lý sản xuất, quản lý kinh tế tức là là quản lý con người, quản lý xã hội, chính trị.
Quản lý này nhằm đem lại điều kiện tốt nhất để kinh tế phát triển. Đặc biệt, đối với nền kinh tế nhiều
thành phần trong điều kiện đổi mới ở nước ta hiện nay, mà hệ thống chính trị của chúng ta không thể
không chi phối, kiểm soát đến tất cả các thành phần kinh tế, đặc biệt là các thành phần kinh tế tư bản tư
nhân. Vì vậy, để quản lý xã hội, quản lý con người của nước ta hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước
hoặc doanh nghiệp tư nhân phải có tổ chức Đảng, các tổ chức quần chúng trong các doanh nghiệp để
phát huy được vai trò của nhân tố con người.
Sự tác động của chính trị đối với kinh tế có thể theo hai hướng: Một là, nếu chính trị tác động cùng
chiều với sự phát triển kinh tế, khi đó chính trị có vai trò tích cực, thúc đẩy phát triển LLSX và phân
công lao động xã hội theo hướng chuyên môn hóa, hợp tác hóa. Hai là, nếu chính trị tác động ngược
chiều với sự phát triển kinh tế, khi đó chính trị là vật cản đối với sự phát triển kinh tế
Từ những tác động trên của chính trị đến kinh tế, Lênin cho rằng “Chính trị không thể không giữ địa
vị ưu tiên so với kinh tế”. Luận điểm này khẳng định tính ưu tiên cho chính trị so với kinh tế, là hợp lý
vì ưu tiên cho chính trị là ưu tiên cho vấn đề cơ bản nhất, quyết định đến sự phát triển của bản thân kinh
tế. Theo luận điểm này, kết quả đạt được về phát triển kinh tế phải tính đến việc bảo vệ củng cố và phát
triển thành quả chính trị đạt được (củng cố và phát triển hệ thống chính trị) bởi vì có ổn định chính trị
thì kinh tế mới phát triển. Luận điểm này cũng cho thấy phải có quan điểm chính trị khi giải quyết các
vấn đề kinh tế và phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước đối với phát triển
kinh tế là tất yếu khách quan. Chính trị phải được ưu tiên và giữ hàng đầu so với kinh tế vì chính trị có

Nhìn lại quá trình Đảng lãnh đạo đất nước từ trước năm 1986, chúng ta thấy rằng tình hình nước ta
nói riêng và các nước XHCN nói chung đã có thời gian khá dài do tuyệt đối hóa vai trò của đường lối
chính trị, duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã dẫn đến sự kiềm hãm sự phát triển kinh
tế và dẫn đến khủng hoảng trầm trọng. Chúng ta đã hành động trái quy luật “kinh tế quyết định chính
trị” khi cho rằng mâu thuẫn nổi lên ở đầu thời kỳ quá độ là mâu thuẫn giữa chế độ chính trị tiên tiến
với QHSX lạc hậu, do đó phải đẩy mạnh cải tạo QHSX (mà trong đó chủ yếu là cải tạo xóa bỏ các
thành phần kinh tế phi XHCN) nhằm làm cho QHSX phù hợp với chế độ chính trị tiên tiến. Từ đó nảy
sinh ra mâu thuẩn chủ yếu giữa QHSX với LLSX , nhiệm vụ công nghiệp hóa được đẩy lên một cách
duy ý chí trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết. Từ những sai lầm về đường lối chỉ đạo này, dẫn
đến nền kinh tế chậm phát triển, xã hội rơi vào khủng hoảng.
Trên cơ sở đánh giá đúng những nguyên nhân sai lầm trên, Đảng và Nhà nước ta đã có những quyết
sách quan trọng để cải cách đổi mới toàn diện tất cả các lãnh vực của đời sống KT-XH, đưa đất nước ra
khỏi khủng hoảng và phát triển ngày càng vững chắc. Để tiếp tục đưa công cuộc đổi mới tiến lên, làm
cho đất nước ta phát triển nhanh, vững bền theo định hướng XHCN trong thời kỳ đổi mới đòi hỏi phải
nâng cao hơn nữa tính tự giác trong sự lãng đạo chính trị đối với kinh tế. Xử lý mối quan hệ chính trị
với kinh tế trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, cần chú ý một số vấn đề sau:
Thứ nhất: Xác định mối quan tương quan giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị. Chủ
trương của Đảng là lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, xây dựng Đảng là khâu then chốt, tùy theo thành
quả và yêu cầu của đổi mới kinh tế mà từng bước đổi mới về chính trị. Thực hiện quan điểm đó, chúng
ta chuyển từng bước nền kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp với tình trạng QHSX bị quan liêu hóa, LLSX
trong tình trạng vô chủ ở nhiều cấp độ khác nhau sang nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế thị trường
với các bước đi thích hợp, biến nền kinh tế về cơ bản dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và tập thể đối với
TLSX thành nền kinh tế dựa trên sự đa dạng hóa các hình thức sở hữu TLSX. Đổi mới cơ chế quản lý
từ trạng thái kế hoạch hóa tập trung cao độ, mệnh lệnh hành chính sang cơ chế thị trường có sự quản lý
của nhà nước theo định hướng XHCN … Trên cơ sở của những thành tựu mà Đảng ta thực hiện từng
bước đổi mới về chính trị, để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo; Nhà nước đổi mới để đảm bảo vai trò quản lý
nền kinh tế có hiệu quả nhất. Các tổ chức chính trị-xã hội của quần chúng nhân dân từng bước hoàn
thiện để góp phần tích cực vào công việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội và góp phần quản lý kinh tế
đổi mới nói chung.
Thứ hai: Định hướng XHCN với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Mục tiêu kiên định

cực và tiêu cực. Vai trò của nhà nước tác động vào kinh tế là hạn chế mặt tiêu cực (sự phân hóa giàu
nghèo, ngược đãi công nhân, tình trạng thất nghiệp …) và phát huy cao nhất mặt tích cực (giải quyết
việc làm, phát triển kinh tế, phát triển LLSX tiên tiến, hiện đại …). Muốn đạt hiệu quả cao trong quá
trình tác động phải xuất phát từ thực trạng kinh tế của đất nước và nhận thức đúng, đầy đủ các quy luật
khách quan của kinh tế. Nhà nước tác động vào kinh tế còn phải thể hiện rõ vai trò của mình trong việc
tạo môi trường, định hướng cho kinh tế, điều tiết hoạch định chính sách xã hội, quản lý, phân phối
nguồn tài nguyên quốc gia …
Hiện nay, sự quản lý nhà nước đối với kinh tế vẫn còn nhiều hạn chế. Đó là sự thiếu đồng bộ của cơ
chế và chính sách kinh tế, mặc dù chuyển từ kinh tế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường
nhưng vẫn còn 1 số chính sách quay lại chính sách kinh tế thời bao cấp, nhiều hoạt động SX-KD chưa
có cơ chế thích hợp, nhiều lĩnh vực kinh tế thiếu khung pháp lý, việc ban hành các văn bản và hướng
dẫn thực hiện nhiều khi không khớp nhau và chậm. Sự yếu kém của cán bộ trực tiếp quản lý kinh tế,
kém về trình độ năng lực, sa sút về đạo đức, bản lĩnh yếu trong quan hệ kinh tế đối ngoại, nhiều cán bộ
do thiếu bản lĩnh nên bị mắc lừa. Việc thực hiện đường lối chủ trương của Đảng và pháp luật của nhà
nước về kinh tế chưa nghiêm, tình trạng tự do, tuỳ tiện, bất chấp pháp luật, tự đặt ra quy định mà chỉ có
lợi cho việc quản lý , còn không quan tâm đời sống của nhân dân như thế nào. Tình trạng trên nói dưới
không nghe, hiện tượng làm láu báo cáo hay, hiện tượng quên lãng nghị quyết, quên lãng pháp luật.
Việc cải cách hành chính mà nhất là hành chính về kinh tế còn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nền
kinh tế. Vì vậy, tăng cường sự lãnh đạo chính trị đối với nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN
ngày càng trở nên vấn đề trọng yếu trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
Thứ năm: Đổi mới hệ thống chính trị cho phù hợp với đổi mới kinh tế. Trong thời kỳ quá độ tiến
lên CNXH ở nước ta hệ thống chính trị XHCN do ĐCS VN lãnh đạo. Để đảm bảo chính trị là động lực,
là mở đường cho kinh tế phát triển, thì hệ thống chính trị phải tiến hành đổi mới,. Không làm được điều
đó hệ thống chính trị sẽ không thể định hướng cho kinh tế và như thế nguy cơ chệch hướng kinh tế
hoàn toàn có thể xảy ra. Nghị quyết Đại hội VII đã chỉ rõ nguy cơ chệch hướng kinh tế có thể bắt đều
từ chính hình thái chính trị. Đổi mới nâng cao hiệu lực hoạt động của hệ thống chính trị. Chính là yếu
tố quyết định đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp đổi mới ở nước ta. Đổi mới hệ thống chính trị và từng
bước xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ XHCN có quan hệ biện chứng với nhau. Thực chất đổi mới và
kiện toàn hệ thống chính trị ở nước ta là xây dựng nền dân chủ XHCN. Dân chủ là quy luật hình thành,
phát triển và tự hoàn thiện hệ thống chính trị XHCN. Làm tốt việc này chính là góp phần tạo ra động

điểm, đường lối của Đảng về kinh tế chính trị. Ngược lại các nhà chính trị nắm vững hơn thực trạng xu
hướng phát triển của đất nước.
Bốn là, chính trị phải hạn chế đến mức tối thiểu mặt trái của kinh tế thị trường. Chính trị phải giải
quyết tốt các vấn đề kinh tế, phải trong sạch hóa đội ngũ cán bộ, nâng cao trình độ năng lực, nâng cao
bản lĩnh và đạo đức. Chính trị phải đấu tranh có hiệu quả với hoạt động kinh tế bất chính, đồng thời
trừng trị nghiêm những hoạt động kinh tế phi pháp, phê phán mạnh mẽ những hoạt động kinh tế bất
chính. Hạn chế đến mức tối thiểu sự phân hóa xã hội, phải rút ngắn khoảng cách thu nhập giữa các tầng
lớp, trước hết là thu nhập kinh tế, phải làm cho mọi người hiểu hết nến kinh tế thị trường.
Tóm lại: Chính trị với kinh tế là những lĩnh vực cơ bản trong đời sống XH, vì vậy giải quyết đúng
đắn mối quan hệ chính trị-kinh tế sẽ tạo ra những động lực lớn quyết định đến quá trình phát triển của
chế độ xã hội. Đối với nước ta hiện nay, việc nắm vững mối quan hệ biện chứng giữa chính trị với kinh
tế và vận dụng đúng đắn mối quan hệ giữa chúng trong thực tiễn sẽ là động lực quan trọng để thực hiện
định hướng XHCN với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”. Đồng
thời sẽ góp phần trong việc thực hiện chiến lược phát triển KT-XH mà Đại hội toàn quốc lần thứ IX đã
khẳng định “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước
ta trở thành một nước công nghiệp, ưu tiên phát triển LLSX, đồng thời xây dựng QHSX phù hợp theo
định hướng XHCN; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế, phát triển nhanh có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát
triển văn hoá, từng bước cải thệin đời sống vật chất và tinh thấn của nhân dân, thực hiện tiến bộ và
công bằng XH, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với tăng cường quốc
phòng an ninh”./.
Câu 5: Vận dụng lý luận về quyết sách chính trị để phân tích và chứng minh bài học sau: “Đường
lối đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới”
Bài làm:
Các chủ thể của quyền lực chính trị thường đưa ra những quyết định dưới các hoạt động khác nhau
vì mục đích đã định trước. Trong đời sống chính trị, ta thường gặp các quyết định chính trị với các hình
thức khác nhau như: Cương lĩnh, đường lối, sách lược của Đảng; các quyết định pháp lý của nhà nước;
các nghị quyết, chủ trương, khẩu hiệu hành động của các đoàn thể, tổ chức quần chúng. Toàn bộ những
hình thức trên chính là quyết sách chính trị. Quyết sách chính trị là những quyết định chính trị có khả
năng định hướng, điều chỉnh hành vi chính trị của các chủ thể, dự báo khuynh hướng phát triển xã hội.

giành thắng lợi trong cuộc xây dựng CNXH ở nước ta. Những quyết sách chính trị đúng đắn đó như:
Kiên định ĐLDT gắn liền với CNXH, thực hiện chế độ một Đảng, nhất nguyên chính trị; xác định đổi
mới kinh tế là trọng tâm, chính trị là khâu then chốt; đổi mới phát triển kinh tế với nhiều thành phần sở
hữu đan xen theo định hướng XHCN; Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước …; gia nhập tổ chức kt
quốc tế WTO, APEC…, hiệp hội ASEAN … những quyết sách đó đã tạo thế và lực cho công nhân Việt
Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, nền kinh tế nước ta không ngừng phát triển, đời sống xã
hội từng bước được nâng lên và có nền chính trị ổn định… Đạt được những thành quả cách mạng trên
là do Đảng ta là do có quyết sách chính trị đúng đắn trên cơ sở quán triệt tư tưởng của Lênin: " Đường
lối đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới”.
Vậy quyết sách chính trị là gì và vai trò của nó như thế nào đối với Đảng cầm quyền. Qua nghiên
cứu Chính trị học chúng ta thấy: Vai trò của từng quyết sách không giống nhau, song tất cả đều là sự
định hướng cơ bản, xác định đối tượng chủ yếu, định tính và định hướng chung, nội dung và hình thức
chính yếu, biện pháp đặc trưng cho từng cuộc vận động chính trị. Quyết sách của Đảng cầm quyền trở
thành đường lối hoạt động của nhà nước, quy định chiều hướng vận động cơ bản của xã hội, nhất là chế
độ độc đảng như nước ta hiện nay. Chính vì vậy quyết sách chính trị có vai trò quan trọng đặc biệt đối
với một Đảng. Nó bảo đảm tính tự giác, tính định hường đúng đắn và tính hiệu quả của hoạt động chính
trị nhằm biến đổi xã hội một cách thực tế theo hướng tiến bộ. Tầm quan trọng của quyết sách chính trị
được qui định bởi chính nội dung của nó. Nội dung của quyết sách chính trị được thể hiện ở ba nội
dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Quyết sách chính trị trước hết đó là đề ra mục tiêu của cách mạng bằng cương lĩnh
đường lối. Trên thực tế đối với một Đảng để hoàn thành SMLS của mình thì phải giải quyết nhiều
nhiệm vụ, nhưng nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là đề ra mục tiêu cho cách mạng, tức là phải đề ra được
cương lĩnh đường lối đúng. Minh chứng là quyết sách chính trị cùa Đảng ta được thể hiện đúng đắn với
chính cương vắn tắt và sách lược vắn tắt của Đảng tại hội nghi thành lập Đảng 3/02/1930, tuy còn sơ
lược nhưng đã vạch ra đường lối cơ bản, đúng đắn cho cách mạng Việt Nam, và là cương lĩnh đầu tiên
của Đảng, đó là: “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội
cộng sản”. Với cương lĩnh của Đảng, nhiệm vụ vủa cách mạng tư sản dân quyền là đánh đuổi đế quốc
pháp xâm lược và bọn phong kiến tay sai, làm cho nước nhà độc lập, tự do; tịch thu ruộng đất của bọn
đế quốc, phong kiến chia cho dân cày nghèo, quốc hữu hoá toàn bộ xí nghiệp của bọn đế quốc, thành
lập chính phủ công nông binh và tổ chức quân đội công nông. Đồng thời cương lĩnh xác định lực

mạng XHCN, Đảng ta đã chủ quan, nóng vội mắc phải nhiều sai lầm về một số vấn đề có tính chiến
lược như mô hình kinh tế, CNH, hợp tác hoá, cải tạo XHCN…, chúng ta đã xác định sai lầm bước đi,
không tập trung phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ mà thiên về xây dựng công nghiệp nặng,
ham làm nhanh, làm nhiều, không tận dụng và phát triển LLSX đã có, cải tạo ồ ạt, nhanh chóng xoá bỏ
thành phần KTTN để xác lập một cách phổ biến hình thức sở hữu tập thể và toàn dân đối với TLSX
ngay cả khi LLSX còn thấp kém…, duy trì quá lâu mô hình kinh tế tập trung quan liêu bao cấp đã đưa
đến sự trì trệ và khủng hoảng về KT-XH. Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đánh giá thực trạng
tình hình đất nước, thẳng thắn chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm, những khó khăn về kinh tế và đời
sống nhân dân. Đảng đề ra đường lối đổi mới đúng đắn, đề ra con đường biện pháp và bước đi thích
hợp, phản ánh đúng quy luật vận động khách quan của lịch sử và thực trạnh tình hình kinh tế của nước
ta, nhờ đó nền kinh tế dần dần ổn định và phát triển.
Thứ hai: Quyết sách chính trị đúng thì chính là xu hướng chính trị tiến bộ, tạo điều kiện cho kinh
tế phát triển nhanh và ngược lại. Trong điều kiện Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, để xây dựng xã hội
mới, xã hội XHCN. Những quyết sách sai lầm tất nhiên sẽ gây ra những phản ứng dây chuyền, nẩy sinh
những hậu quả nghiêm trọng. Quyết sách đúng hay không đúng có liên quan đến sự tồn vong, hưng suy
của một đơn vị, thậm chí một sự nghiệp. Quyết sách chính trị của Đảng từ TW đến cơ sở đều trở thành
quyết định của các đoàn thể nhân dân, trở thành cơ sở của các chính sách và pháp luật cùa nhà nước,
tác động trực tiếp đến đời sống của nhân dân và của toàn dân tộc. Vì vậy, mỗi sai lầm nhỏ của quyết
sách chính trị đều có ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của nhân dân và của toàn dân tộc. Xuất phát từ
các cơ sở trên, Lênin đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của quyết sách chính trị: “Đảng không được
phạm sai lầm về chính trị” và Đảng ta khảng định: “Đường lối đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết
định thành công của sự nghiệp đổi mới”. Vì vậy, để tìm ra quyết sách hợp lý đòi hỏi người lãnh đạo
chính trị có một sự nhìn nhận toàn diện (từ toàn cục đến cục bộ, từ trước mắt đến lâu dài, từ giá trị kinh
tế đến hiệu quả xã hội), tìm ra vấn đề then chốt trong mối quan hệ phức tạp ... và tiến hành luận chứng
chặt chẽ, chi tiết các phương án, nêu ra quyết đoán có hiệu quả và khả thi. Để quyết sách chính trị của
Đảng (đường lối, nghị quyết) biến thành những nhân tố góp phần cải biến hiện thực thì phải đưa nó vào
nhân dân, làm cho quyết sách chính trị có được sức mạnh của nhân tố hoạt động thực tiễn và có tính vật
chất của nhân dân. Có nghĩa là quyết sách chính trị của Đảng phải xuất phát từ thực tiễn và được kiểm
chứng từ thực tiễn sinh động của quần chúng nhân dân, và điều này cho thấy nếu xây dựng mục tiêu sai
thì không bao giờ có hành động đúng.

lại càng quan trọng và khó khăn hơn. Do vậy, Đảng chính trị cần thực hiện tốt các yêu cầu sau: Một là,
trong quá trình tổ chức thực hiện quyết sách chính trị Đảng cần luôn thống nhất và thực hiện phương
châm: "lời nói đi đôi với việc làm, kiên quyết tránh chủ nghĩa hình thức, phô trương lý thuyết suông".
Hai là, Đảng luôn luôn kết hợp chặt chẽ giữa việc kiên trì thực hiện mục tiêu với việc linh hoạt sử dụng
các biện pháp, loại trừ chủ nghĩa giáo điều máy móc và hết sức khắc phục tư tưởng nôn nóng, dao động
trước những biến cố của lịch sử. Ba là, Đảng luôn chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ là nhịp cầu nối
giữa quyết sách chính trị với nhân dân, phải là tấm gương cho nhân dân noi theo. Bốn là, để tổ chức
thực hiện quyết sách chính trị Đảng luôn coi trọng việc tổng kết đúc rút kinh nghiệm để từ đó góp phần
cho việc xây dựng quyết sách chính trị tiếp theo.Năm là, quyết sách chính trị của Đảng chỉ trở thành
sức mạnh của quần chúng một khi quyết sách đó được thể chế hóa thành qui định, chính sách của Nhà
nước để buộc mọi công dân phải chấp hành.
Việc vận dụng lý luận vế quyết sách chính trị ở nước ta trong tiến trình cách mạng Việt Nam, nhất là
trong công cuộc xây dựng CNXH sau khi đã giành được trọn vẹn chính quyền cho thấy: Ngay từ khi ra
đời đến nay Đảng ta luôn lấy CN Mác-Lê nin làm kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của
Đảng, nhờ vậy mà trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng CSVN luôn đề ra được quyết sách chính
trị đúng đắn, hơn nữa Đảng ta đã biến được sức mạnh quyết sách chính trị của Đảng thành sức mạnh
của triệu triệu quần chúng và đạt được những thắng lợi vẽ vang, hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng
dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Tuy nhiên, trong tiến trình xây dựng CNXH ở nước ta, cũng có lúc Đảng
ta mắc phải những sai lầm trong việc xây dựng các chủ trương, đường lối, chính sách. Qua thực tiễn
cách mạng ở nước ta 10 năm đầu sau khi thống nhất đất nước, cả nước quá độ đi lên CNXH, chúng ta
cũng đã có những sai lầm trong việc đề ra các đường lối, chính sách chính trị thời kỳ này. Việc đề ra
quyết sách chính trị thời kỳ này không bám sát những nguyên tắc khách quan của CN Mác-Lênin, tư
tưởng HCM và thực trạng của đất nước nên từ Đại hội lần IV và lần V, những chính sách, đường lối mà
Đảng đề ra có những khiếm khuyết, những sai lầm. Trước hết đó là những sai lầm trong việc giải quyết
mối quan hệ giữa LLSX và QHSX. Đánh giá những sai lầm, khuyết điểm về đường lối kinh tế giai
đoạn trước đổi mới, Đảng đã chỉ rõ đó là “chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp
giữa quan hệ SX với tính chất và trình độ của LLSX”. Hơn nữa, cả một thời gian dài, chúng ta đã hành
động trái quy luật khi cho rằng mâu thuẫn nổi lên ở đầu thời kỳ quá độ là mâu thuẫn giữa chế độ chính
trị tiên tiến với QHSX lạc hậu, do đó phải đẩy mạnh cải tạo QHSX (mà trong đó chủ yếu là cải tạo xóa
bỏ các thành phần kinh tế phi XHCN), làm cho QHSX phù hợp với chế độ chính trị tiên tiến. Từ đó nảy

tế-xã hội với tăng cường quốc phòng an ninh”, “Phát triển một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,
vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN” là một chủ
trương nhất quán của Đảng ta trong suốt thời kỳ quá độ. Chủ trương, đường lối kinh tế này là hợp lý,
phù hợp với quy luật khách quan, cho phép giải phóng được tối đa mọi năng lực sản xuất vì vậy trên
thực tế nó đã tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của KT-XH, tạo được một nền
kinh tế phát triển năng động, giàu sức sống và hiệu quả cao. Bên cạnh đó, Đảng luôn có ý thức đổi mới
sáng tạo, dám từ bỏ những cái cũ không còn thích hợp, cả trên lĩnh vực kinh tế cũng như trên lĩnh vực
văn hóa-xã hội, cả đối nội và đối ngoại, giải quyết tốt mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, quốc gia
và quốc tế, mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, tập trung sức cho công cuộc xây dựng
và bảo vệ đất nước. Nói cách khác, Đảng CSVN kiên trì nắm vững nguyên tắc và phương pháp biện
chứng duy vật, không phiến diện, cực đoan hoặc giản đơn từ cực này nhảy sang cực kia.
Từ những đường lối chính trị đúng đắn đó, thông qua việc thể chế hóa đường lối bằng những chủ
trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các tổ chức chính chính trị xã hội, việc thực hiện đường
lối chính trị của Đảng thời gian qua đã được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân nhờ tính đúng đắn của
đường lối, phản ánh được xu thế vận động của lịch sử, đồng thời phù hợp với nguyện vọng và lợi ích
chân chính của đa số nhân dân. Chính đường lối cách mạng của Đảng có vai trò to lớn trong việc thống
nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức, củng cố niềm tin vào Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi những khuynh
hướng sai lầm về chính trị và tư tưởng làm cho Đảng ngày càng vững mạnh.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay để có được quyết sách chính trị đúng đắn phù hợp với điều kiện
đất nước và xu thế thời đại đòi hỏi Đảng ta nói chung và các nhân tố trong hệ thống chính trị nói riêng
phải quán triệt sâu sắc yêu cầu, nội dung cơ sở phương pháp luận về quyết sách chính trị để đề ra
đường lối NQ, chủ trương đúng đắn phù hợp để đưa đất nước không ngừng phát triển theo con đường
mà Đảng và Bác Hồ lựa chọn là con đường xây dựng chủ nghĩa XH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt
Nam XHCN./.
Câu 6: Từ lý luận về văn hóa chính trị, đồng chí hãy phân tích những giải pháp cơ bản nhằm nâng
cao phẩm chất, năng lực của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay?
Bài làm:
Nếu văn hóa là phương thức nhân hóa con người thì văn hóa chính trị là phương thức cơ bản và trực
tiếp nhân đạo, văn minh hóa và thẩm mỹ hóa hoạt động thực tiển của chủ thể chính trị. Trong đời sống
chính trị hiện đại, văn hóa chính trị là một nhân tố hết sức quan trọng góp phần thúc đẩy hoạt động

chính trị. Ngoài ra còn nhiều yếu tố khác tham gia vào sự hình thành văn hóa chính trị, đóng góp vào
cấu trúc của văn hóa chính trị (như bầu không khí tâm lý, đạo đức, tôn giáo …).
Song, văn hóa chính trị bao giờ cũng mang tính giai cấp; phản ảnh quan hệ quyền lực chính trị; vừa
mang tính lịch sử lại vừa mang tính kế thừa; là sự tổng hòa tất cả các hình thái văn hóa cơ bản của xã
hội. In đó đặc trưng cơ bản nổi bật là văn hóa chính trị luôn luôn được đo bằng lập trường, quan điểm
và lòng trung thành với lý tưởng chính trị, tính trung thực và khiêm nhường, kiên quyết, khéo léo, mưu
lược, lòng nhân ái và vị tha; hướng về nhân dân và phục vụ nhân dân một cách có hiệu quả … Với
những đặc trưng đó kàm rõ bản chất của văn hóa chính trị.
Văn hóa chính trị với tư cách là sản phẩm của hoạt động thực tiển chính trị của các chủ thể, định
hướng của nó là những giá trị, những mục tiêu chính trị nhất định cho hoạt động của từng cá nhân, từng
giai cấp hoặc nhân dân nói chung. Văn hóa chính trị góp phần quan trọng trong việc điều chỉnh, nâng
cao chất lượng chính trị của các chủ thể, nâng cao hiệu quả vận hành của hệ thống chính trị. Đó chính
là những chức năng cơ bản của văn hóa chính trị. Tuy nhiên, tiêu chí cao nhất để xác nhận bản chất
nhân văn của bất kỳ hoạt động chính trị cụ thể nào chính là khả năng giải phóng con người với mọi góc
cạnh và mọi cấp độ.
Từ những trình bày trên cho thấy con đường hình thành và phát triển văn hóa chính trị trong xã hội
nhất định là sự hoàn thiện chế độ xã hội cùng các tổ chức thiết chế chính trị và việc nâng cao năng lực
chính trị của xã hội. Việc kế thừa và phát triển những giá trị vật chất, giá trị tinh thần do hoạt động
chính trị sáng tạo ra của nhân loại, của dân tộc là yêu cầu tất yếu trong quá trình phát triển văn hóa
chính trị ở nước ta hiện nay.
Nền văn hóa chính trị Việt Nam là một nền Văn hóa chính trị gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ
nước lâu dài đã tạo lập nên được nhiều truyền thống quí báu, đến hôm nay vẫn đang tiếp tục phát huy
tác dụng to lớn trong những hình thức và biểu hiện mới. Những giá trị tiêu biểu của truyền thống văn
hóa chính trị Việt Nam bao gồm:
Thứ nhất, nền văn hóa chính trị VN đề cao tinh thần yêu nước, độc lập dân tộc và chủ quyền quốc
gia; chủ nghĩa yêu nước là kết tinh những giá trị tiêu biểu nhất của Văn hóa chính trị VN. Khắc phục
thiên tai và chống giặc ngoại xâm là hai đặc điểm truyền thống tạo nên tính cố kết cộng đồng trong đời
sống của con người VN. Chính trong quá trình dựng nước và giữ nước, trí tuệ, nhân cách và sức mạnh
sáng tạo của dân tộc VN được kết tinh. Tình cảm và tư tưởng yêu nước là tình cảm và tư tưởng lớn
nhất, bao trùm nhất của nhân dân, của dân tộc VN. Giáo sư Trần Văn Giàu viết: “Chủ nghĩa yêu nước

Tóm lại, ngày nay trong sự nghiệp đổi mới nhằm đưa đất nước đi lên theo hướng CNH-HĐH đất
nước, nhiệm vụ của các chủ thể chính trị hiện đại, mà trên hết là các chủ thể lãnh đạo vừa phải biết kế
thừa các giá trị tốt đẹp của dân tộc và nhân loại, mặt khác phải tìm cách hạn chế và khắc phục những
ảnh hưởng tiêu cực để góp phần tạo nên một môi trường văn hóa chính trị VN tiên tiến, hiện đại, thúc
đẩy quá trình phát triển đất nước trên con đường CNH, HĐH. Cụ thể, nhiệm vụ của văn hóa chính trị
hiện đại ở VN là văn hóa chính trị được xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, trong đó Đảng cộng sản VN là hạt nhân lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối các lĩnh
vực đời sống xã hội, biết kế thừa và phát huy một cách hợp lý những cái hay cái đẹp trong truyền
thống, đồng thời tiếp thu những cái hay cái đẹp của văn hóa chính trị hiện đại (kể cả của nước ngoài).
Thực trạng phát huy văn hóa chính trị ở nước ta: Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng với
mục tiêu định hướng XHCN là “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh” dựa trên
sức mạnh của văn hóa truyền thống, của văn minh nhân loại mà đỉnh cao là CN Mác-Lênin và tư tưởng
HCM đã kết tinh được một cách nhuần nhuyễn tinh hoa văn hóa thế giới; lý luận cách mạng và khoa
học của CN Mác-Lênin với nền văn hóa truyền thống của dân tộc và sự nghiệp cách mạng của nước ta
từ những năm 30 đến nay và sau này - đó là sức mạnh Văn hóa chính trị VN.
Trong nhiều năm qua, văn hóa chính trị ở nước ta đã xác lập được những giá trị căn bản làm nền
tảng, là tiền đề văn hóa và là động lực mạnh mẽ của công cuộc đổi mới. Dân tộc Việt Nam rất nhạy
cảm về chính trị và nhiệt tình tham gia vào công việc nhà nước. Trong thực tiễn những ưu điểm trong
việc hình thành giáo dục nâng cao văn hoá - chính trị cho nhân dân được thể hiện qua một số kết quả cụ
thể trong phạm vi cả nước, cũng như từng địa phương, như báo cáo của Ban chấp hành trung ương
Đảng đã đánh giá là dân chủ được phát huy, lòng tin của nhân dân đối với chế độ và tiền đề của đất
nước, với Đảng và với nhà nước được khẳng định, trình độ dân trí và mức hưởng thụ văn hoá của nhân
dân khá hơn trước. Những thành tựu văn hóa chính trị có thể kể như: Đã có bước tiến quan trọng trong
phát triển tư duy lý luận, có bước tiến quan trọng trên con đường hiện thực hóa quyền lực chính trị của
nhân dân, đã có một đội ngũ cán bộ có trình độ văn hóa chính trị ngày một cao.
Mặc dù vậy, văn hóa chính trị nước ta đang đứng trước những vấn đề bức xúc phải giải quyết,
những khó khăn trong công tác giáo dục đào tạo, việc nâng cao mặt băng dân trí, nhất là ở vùng sâu,
Trang 24



phương hướng cơ bản như sau:
Thứ nhất: Phải nâng cao trình độ học vấn, trình độ văn hóa nói chung cho nhân dân, bởi lẽ trình độ
học vấn, trình độ văn hóa chính là cơ sở của Văn hóa chính trị. Việc nâng cao trình độ Văn hóa chính trị
cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân tại các địa phương, đơn vị trước nhất phải được xem là
nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng trên 3 mặt (chính trị, tư tưởng và tổ chức), mà cụ
thể là tiếp thu quán triệt và tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), khóa VIII về một số
vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay, đặc biệt là về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối
sống của cán bộ, đảng viên; và thực hiện tốt Nghị quyết TW 5, khóa VIII về xây dựng và phát triển nền
văn hóa VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Xây dựng gia đình văn hóa trong thời kỳ CNH, HĐH cũng là một giải pháp rất quan trọng để phát
huy những giá trị truyền thống tốt đẹp, làm cho những giá trị đó không chỉ thuộc về quá khứ mà còn trở
thành nhân tố trực tiếp xây dựng gia đình văn hóa mới.
Thứ hai: Phải đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị để góp phần hình thành thế
giới quan khoa học và niềm tin trong nhân dân, đặc biệt là đối với cán bộ, đảng viên, trí thức, văn nghệ
sỹ, thanh niên, sinh viên ở các trường đại học và cao đẳng… Yêu cầu trong đổi mới cần chú ý những
nội dung sau: Coi trọng giáo dục tính cách mạng và khoa học của CN Mác Lênin, giáo dục phải phù
hợp với từng loại hình cụ thể, giáo dục trên cơ sở sáng tạo, khắc phục giáo điều trong thực tiễn, khuyến
khích tìm tòi trên một số định hướng đúng, trong quá trình học tập lý luận chính trị, học tập nghị quyết
thì cần phải khuyến khích tìm tòi và dân chủ trong tranh luận, phải đầu tư cho các mặt giáo dục lý luận
chính trị (Phương tiện, tài liệu, giáo viên, báo cáo viên, tài liệu học tập, giảng dạy, trường lớp…)
Thứ ba: Phải sử dụng tối đa các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền trong đông đảo
quần chúng nhân dân những nhận thức mới mẻ về CNXH, những triển vọng và thành tựu trong công
cuộc đổi mới đất nước, những thành tựu về kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của nhân loại, gương
Trang 25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status