21
LỜI MỞ ĐÀU
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, em sẽ đi sâu hơn vào nghiên cứu thực
Như chúng ta đã biết thì BHXH là sự to chức bảo đảm bù đắp hoặc thay thế
trạng và tình hình thực hiện chế độ hiru trí trong 6 năm từ đầu năm 2004 đến năm
một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ nghề
nghiệp
do đó
bị rút
giảm
hoặc mất
lao động
lao hay
động
không
sử
2009. Từ
ra những
điềmkhả
đã năng
đạt đuợc
và cầnhay
đạtsức
đuợc,
những
vấnđược
đề bất
dụng, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của
cập bên
nghịkinh
giải tế
pháp
nâng
hơnvàviệc
độ thòi
huxi góp
trí. phần bảo đảm an
toàn xã hội.
Ngoài
và kết
luận,
của đề
baongười
gồm 3lao
phần:
BHXHlờiđãmở
trởđầu
thành
nhu
cầukết
vàcấu
quyền
lợitài
của
động và được thừa
nhận là một nhu cầu tất yếu khách quan, một trong những quyền lợi của con người
Chuơng
I ngôn
: Chế
thời chế
gianđộ
dàihuu
tổ chức
thựchệ
hiện,
chếcác
độ hưu
trí
III : Giải
pháp hoàn
trí trong
thống
chế độ
cùng các chế độ BHXH khác đã đảm bảo đòi sống cho người lao động, tạo điều
Viêt
Nam
kiện cho họ yên tâm của
lao BHXH
động sản
xuất
nâng cao chất lượng cuộc sổng, giừ vững ổn
định chính trị xã hội. Nhà Nước ta đang từng bước hoàn thiện chính sách BHXH
qua việc ban hành các Văn bản, Nghị định, Thông tư và gần đây nhất là Luật
BHXH, Luật BHYT cùng các văn bản hướng dẫn thực hiện đê phù hợp với sự phát
triến của đất nước và xu thế hội nhập kinh tế như hiện nay.
Tuy nhiên, trong điều kiện mới thì việc tổ chức thực hiện hay ban hành các
chính sách về điều kiện hưởng, thời hạn nghỉ hưu, mức hưởng, thời gian đóng góp,
độ tuổi nghỉ hưu... của chế độ hưu trí vẫn còn nhiều hạn chế và vướng mắc cần
được xem xét, nghiên cún và giải quyết một cách kỹ lường.
2. Trợ cấp ốm đau.
3. Trợ cấp thất nghiệp.
4. Trợ cấp tuổi già.
5. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
6. Trợ cấp gia đình.
7. Trợ cấp thai sản.
8. Trợ cấp tàn phế.
9. Trợ cấp cho người còn sống
Mồi nước ít nhất phải có 1 nhánh bắt buộc trong số 3 chế độ: Trợ cấp thất
nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Tùy theo trình
độ phát triển, thế chế chính trị, đường lối lãnh đạo và chính sách mỗi quốc gia có sự
khác nhau nên chế độ BHXH khác nhau. Ớ Việt Nam Quỳ BHXH được sử dụng để chi
trả cho 5 chế độ sau:
- Chế độ trợ cấp ốm đau.
- Chế độ trợ cấp thai sản.
- Chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
- Chế độ hưu trí.
4
- Chế độ tử tuất.
Trong hệ thống 9 chế độ BHXH thì chế độ trợ cấp hưu trí là 1 trong những
chế độ quan trọng nhất vì nó liên quan đến tất cả mọi người lao động trong xã hội từ
khi bước vào độ tuổi lao động cho đến khi chết, đặc biệt mức đóng, mức hưởng chế
độ này luôn luôn chiếm tỉ trọng cao nhất trong tổng mức phí và tổng quỹ BHXH.
Ngoài ra hoạt động thu, chi cho chế độ này cũng liên quan đến toàn bộ hoạt động
của tất cả cơ quan BHXH. Chính vì vậy, chế độ hưu trí được tuyệt đại đa số các
nước áp dụng và cũng là một trong những chế độ được thực hiện sớm nhất.
Chế độ hun trí là chế độ mà người lao động sẽ trích một phần thu nhập khi
5
-
Chế độ hưu trí là chế độ mang tính chất hoàn trả và ít nhiều có sự tách
biệt
giũa đóng và hưởng vì người tham gia bảo hiểm đóng suốt thời kỳ lao động được
hưởng trợ cấp khi về hưu điều này thể hiện tính kế thừa liên tục giữa những người
lao động để hình thành quỳ hưu trí. Thời gian đóng và hưởng có thể chênh lệch
nhau nhiều hay ít phụ thuộc vào tuổi thọ cũng như số năm tham gia công tác.
Nhừng người nào mà có tuổi thọ cao thì thời gian được hưởng chế độ hưu trí càng
dài và ngược lại. nên việc xác định mức đóng mức hưởng rất phức tạp ảnh hưởng
rất lớn đến nguồn quỹ huu trí.
1.2 . Cơ sở hình thành chế độ huu trí.
- Cơ sở sinh học:
Theo thời gian khả năng của con người cũng sẽ giảm dần, không một ai có
thể khoẻ mạnh
để
lao động sản xuất ra của cải vật chất suốt cả
CUỘC
đời. Khi già yếu
khoản thu nhập mà họ dùng để chi tiêu cho cuộc sống sẽ hoặc là do tích góp trong
quá trình lao động hoặc do được con cháu chu cấp... Những nguồn thu nhập này
không thường xuyên và phụ thuộc vào điều kiện của từng người. Để đảm bảo lợi ích
cách khác, chế độ hưu trí lấy đóng góp của thế hệ sau chi trả cho các thế hệ trước.
Vì vậy, nó tạo ra sự ràng buộc và đoàn kết giữa các thế hệ, làm cho mọi người trong
xã hội quan tâm và gắn bó với nhau hơn thể hiện mối quan tâm sâu sắc giữa người
với người trong xã hội.
1.3 . Nội dung chế độ hưu trí.
1.3.1.
Mục đích:
- Chế độ hưu trí là một trong những chế độ ra đời sớm nhất và quan trọng
nhất trong hệ thống các chế độ BHXH. Con người sinh ra ai cũng phải lao động,
làm việc cống hiến cho xã hội cũng như thông qua đó phục vụ cho nhu cầu của bản
thân. Nhưng theo quy luật của tạo hóa thì không ai có thê làm việc được mãi cũng phải
đến một lúc nào đó họ già đi không đủ sức làm nữa và họ phải được nghỉ ngơi. Khi
không thể tạo ra thu nhập nữa thì cuộc sống của họ sẽ trở nên khó khăn. Chính lúc này,
chế độ hưu trí sê bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người lao động sau khi đã hoàn
thành nghĩa vụ lao động đối với xã hội. Những người về hun sẽ được xã hội ưu tiên
trong các hoạt động của xã hội ngoài tiền trợ cấp hun hàng tháng.
- Cũng như các chế độ khác quỳ hun trí được hình thành do sự đóng góp từ 3
phía đó là: Người lao động, người chủ sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Chính
phủ. Qua đây thế hiện được sự quan tâm của Chính phủ, của chủ sử dụng lao động
đối với người lao động không chỉ khi họ còn trẻ, khỏe mà cả khi họ đã già yếu
không thê lao động được nữa. Sự quan tâm này không chỉ là nghĩa vụ và trách
nhiệm mà còn là đạo lý của mỗi dân tộc, mỗi nền chính trị và xã hội. Nó thề hiện
truyền thống “uổng nước nhớ nguồn” tốt đẹp của dân tộc ta. Qua đây, thể hiện được
7
- Tham gia BHXH, người lao động sẽ phải trích ra một phần thu nhập của
tại Điều 50, Luật Bảo hiểm xã hội. Đó là nhũng đối tượng là người làm việc theo
họp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba
tháng trở lên; Cán bộ, công chức, viên chức; Công nhân quốc phòng, công nhân
công an; Người làm việc có thời hạn ớ nước ngoài mà trước đó đã đóng bảo hiêm
xã hội bắt buộc.
có các điều kiện sau
a) Nam đủ sáu mươi tuôi, nữ đủ năm mươi lăm tuôi.
b) Nam từ đủ năm mươi lăm tuôi đên đủ sáu mươi tuôi, nữ từ đủ năm mươi
tuổi đên đủ năm mươi lăm tuổi và có đủ mười lăm năm làm nghê hoặc công việc
nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do “Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội” và “Bộ Y tế” ban hành hoặc có đủ mười lăm năm làm việc ở nơi có phụ cấp
khu vực hệ số 0,7 trở lên. Tuổi đời được hưởng lương hưu trong một số trường hợp
đặc biệt khác do Chính phủ quy định.
- Người lao động Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, quân đội nhân; sĩ quan,
hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, công an nhân dân;
người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an
nhân dân - có đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu
khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Nam đủ năm mươi lăm tuổi, nữ đủ năm mươi tuổi, trừ trường hợp Luật sĩ
quan quân đội nhân dân Việt Nam hoặc Luật công an nhân dân có quy định khác.
b) Nam từ đủ năm mươi tuổi đến đủ năm mươi lăm tuổi, nừ từ đủ bổn mươi
lăm tuổi đến đủ năm mươi tuổi và có đủ mười lăm năm làm nghề hoặc công việc
nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do “Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội” và “Bộ Y tế” ban hành hoặc có đủ mười lăm năm làm việc ở nơi có phụ cấp
khu vực hệ số 0,7 trở lên.
- Cũng theo Điều 51 của Luật BHXH thì Điều kiện hưởng lương hưu khi suy
giảm khả năng lao động là:
Người lao động đủ điều kiện hưởng hưu như đã nêu trên, đã đóng bảo hiếm
lương hưu hàng tháng của người lao động. Tỷ lệ này được tính dựa trên rất nhiều
các yếu tố tác động khác nhau. Ớ mỗi quốc gia thì tỷ lệ này cũng khác nhau và
người lao động được hưởng thêm các chế độ trợ cấp, phúc lợi tuỳ theo từng quốc
gia và vũng lãnh thổ.
Tại Việt Nam, tỷ lệ hưởng lương hưu hàng tháng của người lao động đủ điều
kiện được tính bàng 45% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH
tương ứng với 15 năm đóng BHXH, sau đó cứ thêm mỗi năm (đủ 12 tháng) đóng
BHXH thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.
Trường hợp khi tính mức lương hưu hàng tháng (kể cả trợ cấp một lần khi
nghỉ hưu và trợ cấp BHXH một lần), nếu thời gian đóng BHXH có tháng lẻ dưới 3
tháng thì không tính; từ đủ 3 tháng đến đủ 6 tháng tính là nửa năm; từ trên 6 tháng
đến 12 tháng tính tròn là một năm.
Tỷ lệ hưởng lương hưu hàng tháng của người lao động đối với trường họp
nghỉ hun sớm do suy giảm khả năng lao động được tính như trên, sau đó cứ mỗi
năm nghỉ hun trước tuôi quy định thì giảm 1%.
Yeu tổ tiếp theo cần nói đến là mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH.
Mbqtl =
72 tháng
Mbqtl =
120 tháng
10
Đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà
nước quy định và có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương này thì
tính như sau:
động
quyết
địnhtừ
quy
định
Người lao động tham gia BHXH
ngày
01được
thángtính
01 như
nămsau:
2007 trở đi:
tiền BHXH
lương, tiền
công
Tổng số tiền lươngTống
thángsốđóng
của 10
của cáccuối
tháng
đóng
năm (120 tháng)
trước
khiBHXH
nghi việc
Mbqtl
Tống số tháng đóng BHXH
Đối với người lao động vừa có thời gian đóng BHXH thuộc đối tượng thực
hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng BHXH theo
độ.
1.3.4.2.Thời gian hưởng.
Ngươi lao động khi đủ các điều kiện đế hưởng chế độ hưu trí sau khi về hưu
sẽ được nhận lương hưu từ khi về hưu cho đến khi qua đời. Đây chính là thời gian
hưởng chế độ hưu trí. Với mỗi người thì thời gian hưởng lương hưu sẽ khác nhau
do độ tuổi nghỉ hưu, thời điểm nghỉ hưu và tuổi thọ là khác nhau. Những yếu tố này
lại phụ thuộc vào chính sách lao động và BHXH trong từng giai đoạn, vào mức
sống và điều kiện sống của dân cư cũng như tình hình kinh tế chính trị xã hội của
từng quốc gia.
Trong thực tế, độ tuổi nghỉ hưu của người lao động theo quy định thường được
cố định trong một thời gian dài, tuy nhiên độ tuổi này cũng có thể được điều chinh tuỳ
thuộc vào điều kiện làm việc cũng như nhũng hoàn cảnh đặc biệt. Do cố định về tuồi
nghỉ hưu, trong khi tuoi thọ trung bình con người ngày càng được kéo dài do điều kiện
sống tốt lên nên thời gian hưỏng lương him của người nghỉ hưu cũng có xu hưóng tăng
lên theo thời gian. Đây là một vấn đề mang tính quy luật cần được xem xét đến đe các
12
1.4. Quy trình giải quyết chế độ trợ cấp hun trí.
Quy trình giải quyết hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội là trình tự từ khi lập hồ
sơ hưởng chế độ BHXH, xét duyệt hồ sơ hưởng BHXH đến khi ban hành quyết
định hưởng chế độ bảo hiểm xã hội. Việc lập hồ sơ, xét duyệt hồ sơ phải do tổ chức
hoặc cá nhân thực hiện, do vậy quy trình giải quyết bao gồm cả quy trình trách
nhiệm của từng tổ chức hoặc cá nhân (đối với giải quyết chế độ BHXH thì trách
nhiệm gồm người lao động, chủ sử dụng lao động và tổ chức bảo hiểm xã hội).
Theo đó quy trình giải quyết hưởng bảo hiểm xã hội bao gồm: Lập hồ sơ;
thấm định xét duyệt; giải quyết chế độ; lun trữ hồ sơ hưởng. Tương tự như phân
loại hồ sơ hưởng BHXH thì quy trình giải quyết hưởng các chế độ cũng chia ra
thành quy trình giải quyết hưởng các chế độ ngắn hạn (ốm đau, thai sản, dưỡng sức
a- Sổ bảo hiểm xã hội của người lao động đã xác định thời gian đóng bảo
hiêm xã hội đên tháng nghỉ việc;
b- Quyết định nghỉ việc của người sử dụng lao động hoặc văn bản chấm dứt
hợp đồng lao động hoặc hợp đồng lao động hết hạn;
c- Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng Giám
định y khoa (đổi với người nghỉ việc hưởng lương hưu quy định tại Điều 51 Luật
Bảo hiêm xã hội);
d- Người bị nhiễm HIV thuộc đối tượng quy định tại Điều 26 Nghị định số
152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ nghi việc hưởng chế độ hưu trí
thì hồ sơ có thêm giấy chứng nhận bị nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp do
cơ quan có thẩm quyền cấp theo quy định;
đ- Bản quá trình đóng bảo hiểm xã hội theo sổ bảo hiếm xã hội (mẫu số 04CHSB).
e- Bản điêu chỉnh tiên lương đóng bảo hiêm xã hội đê tính hưởng bảo hiêm
xã hội (mẫu số 06-HSB);
13
a- Sổ bảo hiểm xã hội của người lao động đã xác định thời gian đóng bảo
hiếm xã hội đến tháng nghỉ việc;
b- Đơn đề nghị của người lao động có xác nhận của chính quyền địa phương
nơi cư trú (mẫu sổ 12-HSB);
c- Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng Giám
định y khoa (nếu có);
d- Bản quá trình đóng bảo hiểm xã hội theo sổ bảo hiểm xã hội (mẫu sổ 04CHSB).
đ- Bản điều chinh tiền lương đóng bảo hiềm xã hội đế tính hưởng bảo hiểm
xã hội (mẫu số 06-HSB);
Ngoài hồ sơ hưởng lương hưu nêu trên, nếu là người lao động thuộc quy
định tại khoản 6 Mục D Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30/01/2007 của
hồ sơ gồm:
a- Đơn đề nghị hưởng tiếp lương hưu, trợ cấp bảo hiềm xã hội hàng tháng có
xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú sau khi chấp hành xong hình phạt
tù hoặc xuất cảnh trở về nước định cư hợp pháp hoặc toà án tuyên bố mất tích trở về
(mẫu số 13B-HSB);
b- Bản sao giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù hoặc bản sao quyết
định trở về nước định cư hợp pháp hoặc bản sao quyết định của Toà án tuyên bố
mất tích trở về;
c- Hồ sơ hưởng chế độ hưu trí hoặc hồ sơ hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội
hàng tháng;
d- Quyết định hưởng tiếp chế độ hưu trí, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng
của Giám đốc Bảo hiêm xã hội tỉnh, thành phố (mẫu số 10-HSB).
- Di chuyên hồ sơ hưởng chế độ hưu trí, trợ cấp bảo hiêm xã hội hàng tháng:
1- Người lao động bắt đầu hưởng chế độ hưu trí, trợ cấp bảo hiêm xã hội
hàng tháng chuyên đến hưởng ớ nơi cư trú, hồ sơ gồm:
a- Hồ sơ hưởng chế độ hưu trí, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng;
b- Giấy giới thiệu trả lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội (mẫu số C77-HD).
c- Giấy giới thiệu di chuyển (mẫu số 17-HSB).
2- Người đang hưởng lương hun, trợ cấp bảo hiếm xã hội hàng tháng chuyển
đến hưởng ở tỉnh, thành phố khác, hồ sơ gồm:
a- Đơn đề nghị gửi Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố nơi đang hưởng lương
hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng (mẫu số 16-HSB);
b- Hồ sơ hưởng chế độ him trí, trợ cấp bảo hiêm xã hội hàng tháng;
c- Giấy giới thiệu trả lương him và trợ cấp bảo hiêm xã hội (mẫu số C77-HD).
15
+ Giao 2 bộ hồ sơ cho người sử dụng lao động để lưu trừ 1 bộ và giao cho
người lao động 1 bộ gồm: Quyết định hưởng lương hưu, sổ bảo hiểm xã hội, giấy
16
18 quy định này (không bao gồm bản điều chỉnh tiền lương đóng bảo hiểm xã hội
đe tính hưởng bảo hiếm xã hội; quyết định hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng, tiền
tuất một lần của Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố hoặc Bảo hiểm xã hội
Bộ Quốc phòng, Bảo hiềm xã hội Bộ Công an, Bảo hiểm xã hội Ban Cơ yếu Chính
phủ), chuyển đến Bảo hiềm xã hội huyện đối với người sử dụng lao động do Bảo
hiểm xã hội huyện quản lý và thu bảo hiểm xã hội; đổi với người sử dụng lao động
do Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố quản lý và thu bảo hiểm xã hội thì người sử
dụng lao động nộp hồ sơ cho Bảo hiềm xã hội tinh, thành phố.
3. Nhận lại hồ sơ đã giải quyết từ Bảo hiểm xã hội huyện hoặc Bảo hiểm xã hội
tỉnh, thành phổ để giao cho người lao động hoặc thân nhân người lao động,
c. Trách nhiệm của cơ quan Bảo hiểm xã hội.
1 - Bảo hiểm xã hội huyện: Tiếp nhận hồ sơ từ người lao động hoặc thân nhân
người lao động hoặc từ người sử dụng lao động theo trách nhiệm quy định tại Điều
22 và khoản 2 Điều 23 quy định này; kiểm tra, đối chiếu về hồ sơ, nếu đủ và đúng
theo quy định thì chuyển Bảo hiềm xã hội tỉnh, thành phổ giải quyết; nhận hồ sơ đã
giải quyết từ Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phổ để trả cho người lao động hoặc thân
nhân người lao động hoặc người sử dụng lao động.
2- Bảo hiêm xã hội tỉnh, thành phô:
a- Tiếp nhận hồ sơ và giải quyết hướng chế độ bảo hiếm xã hội: Chế độ hưu
trí, trợ cấp bảo hiêm xã hội một lần; trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ
cấp tử tuất theo khoản 2 Điều 23 quy định này và hồ sơ do Bảo hiểm xã hội huyện
chuyển đến; tiếp nhận đơn và lập hồ sơ di chuyển hưởng lương hưu, trợ bảo hiểm xã hội
hàng tháng đối với đổi tượng quy định tại khoản 2 Điều 20 Mục 1 Chương này.
b- Căn cứ sổ bảo hiểm xã hội của người lao động đang làm việc, người lao
động đã nghỉ việc lập bản điều chỉnh tiền lương đóng bảo hiểm xã hội đế tính
hưởng bảo hiểm xã hội (mẫu số 06-HSB); lập đầy đủ nội dung bản quá trình đóng
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và giới thiệu thân nhân ra Hội đồng Giám định y
khoa trong thời hạn 2 tháng kể từ ngày người lao động chết để xét hưởng chế độ tử
tuất hàng tháng đối với trường hợp con đủ 15 tuổi trở lên, vợ hoặc chồng, cha mẹ
đẻ, cha mẹ vợ hoặc cha mẹ chồng hoặc người khác mà người chết khi còn sống có
trách nhiệm nuôi dưỡng chưa đủ 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ bị suy giảm
khả năng lao động.
h- Thời hạn giải quyết hưởng bảo hiểm xã hội:
- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ đối với trường họp
hưởng trợ cấp bảo hiêm xã hội một lần, chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
và chế độ tử tuất.
- Trong thời hạn 30 ngày kê từ ngày nhận đủ hồ sơ họp lệ đối với người
hưởng chế độ hưu trí.
i- Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được đơn đề nghị di chuyên hưởng
lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng đối với đối tượng quy định tại khoản
2
Điều 20 Mục 1 Chương này.
18
D. Trách nhiệm của Bảo hiếm xã hội Bộ Quốc phòng, Bảo hiêm xã hội Bộ Công an,
Bảo hiêm xã hội Ban Cơ yếu Chính phủ:
1- Căn cứ hồ sơ và thời hạn giải quyết hưởng bảo hiểm xã hội tại quy định
này để giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội đổi với người lao động thuộc đối
tượng quy định tại Điều 2 và khoản 12 Điều 50 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP.
2- Quy định quy trình giải quyết hưởng các chế độ bảo hiềm xã hội cho phù
hợp với quy định về quản lý lao động thuộc bộ, ngành mình.
3- Hàng quý lập báo cáo theo mẫu số 02-HSB, gửi 01 bản về Bảo hiểm xã
hội Việt Nam
2.1.1.
Chính sách BHXH
Bảo hiểm xã hội là một chính sách trong hệ thống an sinh xã hội, nó là sự
cần thiết khách quan của bất kỳ quốc gia nào. Đối với Việt Nam, chính sách bảo
hiểm xã hội đã được Đảng ta hoạch định tù’ lâu, nhưng việc triển khai còn muộn.
Khi bước vào xây dựng nền kinh tế thị trường hội nhập với kinh tế thế giới và khu
vực nhiều vấn đề nảy sinh và cần sự hoạch định chính sách. Trong những vấn đề đó
là chính sách xã hội, cụ thê là Bảo hiêm xã hội. Trong những năm qua, chính sách
bảo hiểm xã hội đã có nhiều thay đổi cho phù hợp với điều kiện của nước ta mà nổi
bật nhất là Luật Bảo hiềm xã hội đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt nam khóa XI, ký họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 06 năm 2006 đã tạo ra
một cơ sở pháp lý vừng chắc. Với sự cổ gắng nỗ lực của toàn ngành Bảo hiềm xã
hội đã đạt một số thành tựu nổi bật song cũng không thể tránh được những tồn tại.
Chúng ta phải biết nhìn thẳng vào những tồn tại mà khắc phục, không được né tránh
hay giải quyết một cách qua loa, đại khái. Làm sao cho chính sách Bảo hiểm xã hội
thể hiện là công cụ bảo vệ hữu hiệu nhất đối vói người lao động. Đồng thời cũng thể
hiện tính ưu việt của chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Một xã hội của dân do
dân và vì dân.
Phân phối trong BHXH là phân phối không đều, nghĩa là không phải ai tham
gia BHXH cũng được phân phối với số tiền giống nhau. Phân phối trong BHXH
vừa mang tính bồi hoàn vừa không mang tính bồi hoàn. Những biến cố tất nhiên đối
với con người như thai sản đối với lao động nữ, tuổi già và chết, BHXH phân phối
mang tính bồi hoàn, và người lao động đóng BHXH chắc chắn được hưởng các
khoản trợ cấp đó. trợ cấp do những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động,
mất việc làm, những rủi ro xảy ra trái với mong muốn của con người như ốm đau,
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, là sự phân phối mang tính không bồi hoàn; có
nghĩa là chi khi nào người lao động gặp phải tổn thất do ốm đau, tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp... thì mới được hưởng khoản trợ cấp đó.
trong năm 2009 đã có 9,1 triệu người tham gia BHXH bắt buộc, tăng 6.6% (tương
úng 561.573 người) so với năm 2008 và bảo hiếm tự nguyện tăng 28.559 người,
tăng gấp 5 lần so với năm 2008. Năm 2009 cũng là năm đầu tiên chế độ BHTN
được ban hành với số người tham gia là 5,411,886.
Số thu trong năm 2009, đạt 39,872 tỷ đồng (trong đó thu từ BHXH bắt buộc là
37,011.3 tỷ đồng, có 65.6 tỷ đồng thu BHXH tự nguyện; 2,795.0 tỷ đồng thu từ bảo
hiểm thất nghiệp), tăng 29.4% tương ứng 9051 tỷ đồng so với năm 2008. Điều này
cho thấy BHXH Việt Nam đã có những khởi sắc sau khi luật BHXH có hiệu lực. Có
Số người đóng BHXH
Năm
2004
2005
2006
2007
2008
2009
Số tiền đóng BHXH
Tăng
Tăng (%)
Số
người
Tổng số (tỷ
(người) (người)
đồng)
22
21
đồng/người/tháng
lên 650.000
8,545,577 373,075
29.36
kiện tối thiếu 30,821
có 20 năm tham gia
BHXH, số lao động trong khu vực phi chính thức,
14,547,959 năm2009.
6,002,382
39,872
đặc
biệt là nông
dân nông thôn,29.36
lao động trẻ tham gia chưa nhiều do nhận thức về
sự cần thiết tham gia BHXH tự nguyện không cao và công tác tuyên truyền thông
Công tác thu BHXH đã có nhiền chuyển biến tốt, số nợ, chậm đóng có xu
tin còn yếu.
hướng giảm năm 2008 sổ tiền nợ đọng của BHXH bắt buộc là. 2,286.2 còn sang
- Thiết kế mức đóng, hưởng và điều kiện hưởng chưa linh hoạt, chưa phù
năm
sau điều
năm 2009
thì thu
số nợ
nàythấp
đã giảm
0,1925
đồngcủa
tứcngười
là cònlao2,093.7
do giản
yêu cầu
đóngtácđủgiải
20 năm
hưởng
trí.Theo
được
địnhđến
rõ tuổi
ràngvềvàhưu
đơn
hơn.phải
Công
quyếtđề chế
độ hưu
BHXH
cho
qui định của luật lao động hiện hành, tuôi về hưu của nữ là 55 và nam là 60.
người lao động đã nhanh chóng, kịp thời và đảm bảo quyền lợi cho người tham gia
- Sự khác biệt về các chế độ và điều kiện được hưởng của hai quỹ BHXH bắt
BHXH;
trạng vi
tại các
doanh
đã giảm
buộc và tình
tự nguyện
gâyphạm
khó pháp
khăn luật
thấp Minh,
hơn mức
lương
trong
khiLuật
mứcBHXH
hưởng và
hưukiện
trí
BHXH
Hồ Chí
Đồng
Nai,tối
Hàthiểu
Nội chung,
... đã áp
dụng
của BHXH tự nguyên không khổng chế mức thấp nhât.
toàn hồ sơ và đưa ra các vụ kiện các doanh nghiệp vi phạm, trốn tránh và nợ đóng BHXH
- Thiếu cơ chế đe thu hút và hỗ trợ người lao động khu vực phi chính thức, đặc biệt
của người lao động và thu về được hàng tỷ đồng cho người lao động và Nhà nước.
là
người lao
điều sách
kiện BHXH
người không
về tuổi...
tham
Bênđộng
cạnh nghèo,
lý vàkhoảng
thực hiện
cáctrong
nghiệp
vụ BHXH.
triệu đối tượng buộc phải tham gia. Đối tượng tham gia BHXH chủ yếu là lao động
- Công tác theo dõi giám sát đối tượng tham gia còn gặp nhiều khó khăn. Đặc
làm
trong BHXH
khu vụcsẽnhà
nước
và khó
khu vực
vốnsốđầu
tu - nước
ngoài.được
Tỷ lệdựtham
biệt, việc
hệ thống
gặp
nhiều
khăncókhi
lượng
đối tượng
báogia
là
sẽ
tăng
nhanh
trong
là 290 nghìn đồng/người/tháng; tháng 10/2005 là 350 nghìn đồng/người/tháng;
tháng 10/2006 đến hết 2007 là 450 nghìn đồng/người/tháng và từ 1/1/2008 là 540
nghìn
đồng/người/tháng
đến
năm
2009
thì
mức
lương
là
650.
nghìn
đồng/người/tháng . Theo các Nghị định vừa được Chính phủ ban hành, từ 1/5 mức
lương tối thiểu chung sẽ là 730.000 đồng/tháng, trong khi lương hưu, trợ cấp bảo
hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng cũng sẽ được tăng thêm 12,3%. Song mức tăng
này chủ yếu vẫn là do luật BHXH đã mở rộng tham gia BHXH với khá nhiều đối
tượng khác nhau.
Công tác thu BHXH được coi là vấn đề quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến
với chính quyền các cấp khai thác tối đa số người trong diện phải tham gia BHXH
theo quy định tránh tình trạng khai man số lao động đóng ít hơn số phải đóng.
Đồng thời thường xuyên cử cán bộ trực tiếp xuống từng đơn vị sử dụng lao động để
kiềm tra, đôn đốc việc thu nộp BHXH, cùng đơn vị giải quyết kịp thời những khó
khăn, vướng mắc và tích cực trong việc truy thu tiền đóng BHXH do đổ ngoài danh
sách đối tượng phải tham gia, tiền chậm đóng, nợ đọng BHXH kéo dài.
Đe đảm bảo thu đúng thời hạn BHXH Việt Nam có quy định kể từ ngày hạn
nộp trong vòng 30 ngày người tham gia BHXH phải nộp BHXH. Khoảng thời gian
30 ngày này là khoảng thời gian ân hạn, nếu quá thời gian ân hạn mà chưa chuyển
tiền thì được coi là vi phạm pháp luật BHXH và sê bị xử phạt. Những trường họp vi
phạm như: Nợ gối đầu, nợ chậm đóng và nợ đọng đều sẽ bị xử lý theo luật định. Hai
hình thức được áp dụng chủ yếu trong trường hợp này là truy thu và xử phạt. Truy
thu đảm bảo cho luật BHXH được tuân thủ, xử phạt được BHXH thực hiện và xác
định theo tỉ lệ % so với tiền đóng BHXH hàng tháng dựa trên cơ sở tích luỹ. Ngoài
ra thì BHXH Việt Nam còn có một số biện pháp nhằm thúc đây, đôn đốc nguời
tham gia BHXH thực hiện nghĩa vụ của mình:
- Thường xuyên nhắc nhở bằng văn bản trong thời gian ân hạn.
- Cử người xuống tận địa bàn, đơn vị sử dụng lao động để trực tiếp đôn đốc
nhắc nhở.
- Sẽ có hình thức xử lý nghiêm khắc hơn theo luật định đối với nhũng đơn vị
cố tình nộp chậm hoặc trì hoãn, gây nợ đọng phát sinh làm ảnh hưởng đến việc
quản lý.
- Cá biệt có trường họp phải khởi kiện ra tòa án dân sự đổ đòi nợ (như trường
họp BHXH Thành phố Hồ Chí Minh, BHXH Thái Bình đã làm thời gian gần đây).
Nhìn chung các chế tài xử phạt của Việt Nam hiện nay chưa thực sự nghiêm
khắc, mới chỉ mang tính hành chính chưa đủ đe răn đe hành vi vi phạm trên. Hiện
nay sổ lượng các doanh nghiệp tư nhân tăng mạnh nhưng quy mô nhỏ và hoạt động
thiếu ổn định. Doanh nghiệp được thành lập từ nhiều hộ cá thể và hoạt động trên
hưởng tới việc giải quyết chế độ chính sách cho người lao động bằng sô BHXH,
một số trường hợp do hồ sơ không đầy đủ nên chưa có căn cứ đê cấp số BHXH.
Việc quản lý và sử dụng quỹ đã theo đúng phát luật, không để xảy ra tình
trạng thất thoát và sử dụng không đúng mục đích đồng thời thực hiện tốt công tác
26
cho các đối tượng hưởng chế độ. Ngoài ra việc đầu tư tăng trưởng quỳ BHXH cũng
đảm bảo được nguyên tắc an toàn và hiệu quả.
Tuy nhiên trong thời gian qua khi nền kinh tế roi vào thời kỳ suy thoái và
khủng hoảng lạm phát tăng cao, thì không nằm ngoài quy luật kinh tế BHXH cũng
gặp khá nhiều nhừng khó khăn trong việc thực hiện nộp BHXH. Chính vì thế mà tỷ
lệ nợ BHXH tại các doanh nghiệp còn khá cao. Không những vậy việc quản lý
BHXH còn khá nhiều kẽ hở, quyền lợi người lao động bị xâm phạm, nhiều doanh
nghiệp nợ tiền BHXH tới hàng tỷ đồng. Năm 2009, số tiền các đon vị, doanh nghiệp
nợ BHXH lên tới 2,149.1 tỷ đồng, thế nhưng, việc thanh tra, giám sát thực hiện
Luật BHXH còn mỏng chưa khắt khao, các địa phương còn lúng túng trong việc xử
phạt. Bên cạnh đó thì khi nền kinh tế gặp khó khăn đồng tiền mất giá thì việc chi trả
mức trợ cấp cũ cho người lao động sẽ không còn hợp lý nữa chính vì thế cần có các
điều chỉnh về chính sách đặc biệt là chế độ hưu trí.
2.1.2.
Chế độ hưu trí ở Việt Nam
Ở Việt Nam, chế độ hưu trí được thực hiện từ cuối năm 1945, sau khi Nhà
nước Việt nam dân chủ Cộng hoà được thành lập. Đánh giá tổng quát thì chế độ hưu
trí là một chế độ đáng tin cậy cho cán bộ, công chức, quân nhân và người lao động..
Những qui định về hưu trí đã trở thành một quyền lợi đương nhiên của tất cả những
người lao động và đặc biệt, nhờ có chế độ này mà đời sống vật chất và tinh thần
ngày một hoàn thiện hơn theo hướng hiện đại hóa từng bước đã góp phần làm
cho công việc được giải quyết một cách nhanh chóng, tránh nhừng sai sót không
đáng có.
- Người lao động đã nhận thức đúng đắn được vai trò cũng như lợi ích to lớn
của chế độ hưu trí nên số lượng người tham gia đông hơn. Chính điều này đã giúp
cho chế độ him trí ngày càng phát triên theo đúng mục đích và bản chất của nó.
Như vậy điều kiện đê BHXH và chế độ hưu trí phát triên và hoàn thiện là rất
thuận lợi. Tuy nhiên, trong thực tế cũng đang tồn tại nhiều hạn chế cho sự phát triển
của chế độ hưu trí cũng như BHXH.
Những hạn chế đó là :
- Các quy định về hưu trí luôn thay đổi (chỉ tính từ năm 1995 đến nay đã
nhiều lần bổ sung, sửa đôi) điều này ảnh hưởng đến việc sử dụng lao động, việc xây
dựng kế hoạch cơ cấu lao động và đặc biệt là kế hoạch sống và làm việc của người
lao động.
- Các tiêu chuấn về chế độ huư trí có nhiều khác biệt với mục đích, bản chất
của chế độ hun trí. Bởi tiêu chuan quan trọng nhất đế giải quyết hưởng là độ tuôi
nghỉ hun nhưng ớ Việt Nam đã hàng chục năm nay vấn đề xác định độ tuôi nghỉ
hun có nhiều luận điềm và quy định khác nhau. Đây là vấn đề còn nhiều bất cập.
Cụ thế trong Luật lao động quy định tuối nghỉ hưu của nam là 60, của nừ là