Áp dụng phương pháp chi phí du lịch để đánh giá giá trị cảnh quan của vườn quốc gia ba vì - Pdf 33

NUYỄN MẠNH HÙNG

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI

NGUYỄN MẠNH HÙNG

*
LUẬN VĂN THẠC SĨ

ĐỂ ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ CẢNH QUAN CỦA VƯỜN QUỐC GIA

*

LUẬN VĂN THẠC SĨ

ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU LỊCH
BA VÌ

HÀ NỘI - 2014

Hà Nội - 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT


1.3.1. Khái niệm về phương pháp chi phí du lịch....................................... 9
1.3.2. Các cách tiếp cận của phương pháp chi phí du lịch ....................... 10
1.3.2.1 Phương pháp du lịch cá nhân ........................................................ 10
1.3.2..2 Phương pháp du lịch vùng ........................................................... 11
1.3.3. Các bước thực hiện phương pháp chi phí du lịch ........................... 12
1.3.4. Ưu điểm của phương pháp .............................................................. 15
1.3.5. Nhược điểm của phương pháp ........................................................ 15
1.4. Những công trình nghiên cứu có liên quan........................................... 16
1.4.1. Trên thế giới:................................................................................... 16
1.4.2. Tại Việt Nam: ................................................................................. 19
1.5 Kinh nghiệm áp dụng phương pháp chi phí du lịch trên Thế giới và Việt
Nam .............................................................................................................. 20
1.5.1. Phạm vi áp dụng ............................................................................. 20
1.5.2. Quá trình áp dụng ........................................................................... 21
1.6. Quá trình thu thập và xử lý thông tin .................................................... 22
1.6.1. Thông tin sơ cấp.............................................................................. 22


1.6.1.1. Thiết kế bảng hỏi ......................................................................... 22
1.6.1.2. Điều tra lấy mẫu ........................................................................... 23
1.6.2. Thông tin thứ cấp ............................................................................ 25
1.6.3. Xử lý thông tin ................................................................................ 25
Kết luận chương 1 ........................................................................................ 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI VƯỜN QUỐC
GIA BA VÌ GIAI ĐOẠN 2007-2013 ............................................................. 27
2.1. Đặc điểm chung của khu vực nghiên cứu ............................................. 27
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên ........................................................................... 27
2.1.1.1. Vị trí địa lý ................................................................................... 27
2.1.1.2. Khí hậu, thủy văn ......................................................................... 28
2.1.1.3. Hệ động, thực vật ......................................................................... 29

3.3.1. Phân vùng khách du lịch ................................................................. 55
3.3.2. Xác định chi phí cho một chuyến đến vườn quốc gia Ba Vì .......... 57
3.3.2.1. Chi phí đi lại ................................................................................ 58
3.3.2.1. Chi phí thời gian .......................................................................... 60
3.3.2.1. Chi phí sinh hoạt .......................................................................... 62
3.3.2.1. Tổng hợp chi phí .......................................................................... 63
3.4. Xây dựng đường cầu giải trí ................................................................. 64
3.4.1. Tỷ lệ tham quan của vùng xuất phát ............................................... 64
3.4.2. Xác định hàm cầu và đường cầu giải trí ......................................... 65
3.4.3. Xác định thặng dư và giá trị giải trí ................................................ 67
3.4.4. Nhận xét, đánh giá .......................................................................... 68
3.5. Những hạn chế trong quá trình thực hiện áp dụng phương pháp chi phí
du lịch theo vùng tại Vườn quốc gia Ba Vì ................................................. 69
3.6. Một số giải pháp nhằm nâng cao giá trị cảnh quan môi trường tại Vườn
quốc gia Ba Vì.............................................................................................. 71
Kết luận chương 3 ........................................................................................ 72


KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................................... 73
1. Kết luận .................................................................................................... 73
2.Kiến nghị ................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 77


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (2007) Việt Nam là một trong
năm quốc gia trên thế giới chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của hiện tượng biến

Vườn quốc gia Ba Vì là đơn vị kinh tế, sự nghiệp khoa học, có chức
năng trồng, bảo tồn và phục hồi tài nguyên thiên nhiên, di tích lịch sử, nghiên
cứu khoa học kết hợp với tham quan, học tập, du lịch.
Từ trước đến nay người ta đều nhận thức được giá trị vô hình từ rừng
song việc lượng giá chúng không dễ dàng, mặc dù theo một số nghiên cứu
của nước ngoài thì chỉ riêng giá trị phi sử dụng đã chiếm khoảng 35-70% giá
trị của tài sản môi trường(Walsh 1984). Việc xác định giá trị của Vườn quốc
gia là cần thiết để khai thác hợp lý tiềm năng du lịch kết hợp với mục tiêu
bảo tồn. Đề tài “Áp dụng phương pháp chi phí du lịch để đánh giá giá trị
cảnh quan của Vườn quốc gia Ba Vì” được thực hiện nhằm xác định giá trị
giải trí của Vườn quốc gia Ba Vì bằng phương pháp chi phí du lịch, đây là
giá trị phi thị trường mà việc bảo tồn Vườn quốc gia đem lại cho thế hệ hiện
tại và cho tương lai.
2. Mục đích nghiên cứu
Luận văn áp dụng phương pháp chi phí du lịch để xác định lợi ích từ
hoạt động du lịch và giá trị môi trường hàng năm của Vườn Quốc gia Ba Vì
đem lại, qua đó làm căn cứ cho công tác qui hoạch phát triển, hướng tới phát
triển bền vững tài nguyên rừng. Quá trình thực hiện luận văn hướng tới các
mục tiêu sau:
- Phân tích thực trạng môi trường và hoạt động du lịch của Vườn quốc
gia Ba Vì.
- Ứng dụng phương pháp chi phí du lịch nhằm tính toán giá trị cảnh
quan cho Vườn quốc gia Ba Vì.


3

- Đề xuất một số giải pháp kết hợp hài hoà giữa hoạt động du lịch và
hoạt động bảo tồn của Vườn quốc gia Ba Vì.
3. Phương pháp nghiên cứu

áp dụng phương pháp chi phí du lịch để định giá giá trị cảnh quan của tài
nguyên rừng. Áp dụng tính toán xách định giá trị cảnh quan của Vườn quốc
gia Ba Vì.
b. Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Địa bàn nghiên cứu là Vườn quốc gia
Ba Vì thuộc địa phận huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội.
c. Thời gian nghiên cứu: Điều tra, phỏng vấn khách du lịch vào tháng 5
và tháng 6 năm 2014, sử dụng số liệu thống kê lượng khách du lịch đến Vườn
quốc gia Ba Vì từ năm 2007 đến năm 2013.
d. Giới hạn khoa học: Giá trị chất lượng môi trường tại Vườn quốc gia
Ba Vì bao gồm cả giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng. Tuy nhiên đề tài chỉ
nghiên cứu, tính toán giá trị cảnh quan tại đây.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
a. Ý nghĩa khoa học:
Góp phần tổng quan cơ sở lý luận về chất lượng môi trường, giá trị
kinh tế của chất lượng môi trường và phương pháp chi phí du lịch cũng như ý
nghĩa của nó trong việc định giá môi trường. Mặc dù phương pháp này chỉ
đại diện cho giá sẵn sàng chi trả cho một mức chất lượng môi trường nhưng
nó lại rất hữu dụng trong việc tính giá trị kinh tế của một khu rừng, Vườn
quốc gia hay hệ sinh thái.
b. Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu là cơ sở xác định tổng giá trị kinh tế mà Vườn quốc
gia Ba Vì đem lại cho con người, qua đó góp phần tính ra mức giá vào cửa
cho Vườn quốc gia Ba Vì, đồng thời góp phần nâng cao nhận thức của khách


5

du lịch cũng như cộng động địa phương trong việc bảo vệ các nguồn tài
nguyên thiên nhiên ở Vườn quốc gia Ba Vì.
6. Kết quả dự kiến đạt được

chất lượng môi trường với đúng giá trị của nó có vai trò rất quan trọng.
Đã một thời gian rất lâu, toàn xã hội nhìn nhận hàng hóa môi trường
không đúng với giá trị thực của nó (tổng giá trị kinh tế TEV), giá trị đó đã bị
coi thấp đi hay bị bỏ qua hoàn toàn. Chúng ta vẫn không được đo lường và
không được lượng giá, vì thế việc khai thác không hiệu quả đã diễn ra trong
một thời gian dài. Đó là thất bại của thị trường. Các hàng hóa như sông, hồ,
không khí sạch không được định giá vì chúng không được mua bán trên thị
trường. Việc tính đúng, tính đủ giá trị của chất lượng môi trường sẽ mang lại
hiệu quả rất lớn không những về giá trị kinh tế mà còn về giá trị môi trường,
giúp cho việc phục hồi, tăng trưởng và bảo tồn chất lượng tài nguyên thiên
nhiên tự nhiên và các hệ sinh thái.
1.1.2. Khái niệm về chất lượng môi trường
Chất lượng môi trường là sự cân bằng của tự nhiên, bao gồm động vật,
thực vật, tài nguyên thiên nhiên và các vật thể do con người tìm ra, phục vụ sự


2

tồn tại của nhân loại, sự sống còn của loài người và tự nhiên (Nguyễn Thế
Chinh, 2003).
Nói cách khác, chất lượng môi trường là khả năng tương đối của của
một môi trường có thể thoả mãn nhu cầu và mong muốn của một cá nhân hay
toàn xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường, mọi quan hệ đều được tiền tệ hóa, đều
được coi như hàng hóa. Và người ta cho rằng chất lượng môi trường cũng là
một loại hàng hóa, được gọi là hàng hóa chất lượng môi trường. Trong thực tế
loại hàng hóa này đã được sử dụng trong việc mua bán, trao đổi trên thị
trường dưới hình thức này hoặc hình thức khác. Tuy nhiên hầu hết các hàng
hóa môi trường vẫn không được tính giá hoặc chúng được định giá không hợp
lý. Chất lượng của không khí chúng ta thở, của nước chúng ta uống, của sông

OV: giá trị tùy chọn
NUV: là giá trị không sử dụng
Như vậy, các nhà kinh tế học môi trường đã làm được rất nhiều khi
phân loại giá trị kinh tế trong mối quan hệ của chúng với môi trường thiên
nhiên. Tuy vấn đề thuật ngữ vẫn chưa thống nhất hoàn toàn, nhưng nhìn
chung họ đều dựa trên cơ sở mối tương tác giữa con người (người định ra giá
trị) và môi trường (vật được định giá). Theo nguyên tắc để đo lường TEV các
nhà kinh tế học bắt đầu bằng việc phân biệt giữa giá trị sử dụng và giá trị
không sử dụng, và TEV đã được khái quát hóa bằng công thức sau:
TEV= UV+ NUV = (DUV+IUV+OV) + (BV + EXV)
TEV

UV

DUV

IUV

NUV

OV

BV

Hình 1.1 Sơ đồ TEV

Nguồn: Nguyễn thế Chinh (2003)
Trong đó:
TEV (Total economic values) : tổng giá trị kinh tế
UV (Use values) : giá trị sử dụng

nguồn lực hoặc một phần sử dụng nguồn lực đó, để sự dụng cho tương lai.
Đây là giá trị do nhận thức, lựa chọn của con người đặt ra trong hệ sinh thái.
Giá trị này không có tính thống nhất chung và cũng phải được định về mặt


5

tiền tệ theo tính chất lựa chọn của nó. Ví dụ, bảo tồn một khu vực tự nhiên là
một lựa chọn, cho chúng ta khả năng biến đổi khu vực đó trong tương lai hoặc
giữ lại nó, dựa vào những thông tin được thu thập về giá trị tương đối của khu
vực tự nhiên.
Giá trị phi sử dụng: thể hiện các giá trị phi phương tiện nằm trong bản chất
của sự vật, không liên quan đến việc sử dụng thưc tế hoặc thậm chí việc lựa
chọn sự vật này. Tuy nhiên thay vào đó, những giá trị này thường liên quan
nhiều về lợi ích của con người. Giá trị phi sử dụng bao gồm:
Giá trị tùy thuộc (giá trị để lại): phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong một
hàm nhiều biến và có thể có sự thay đổi trên cơ sở phát triển của khoa học
cũng như nhận thức của con người. Một số người biệt hóa giá trị tùy thuộc là
giá trị của việc để lại các giá trị sử dụng và phi sử dụng cho thế hệ sau này.
Những người khác đưa cả giá trị tùy chọn và giá trị tồn tại vào trong dạng giá
trị này.
Giá trị tồn tại: Xuất phát từ nhận thức của con người về tài nguyên và
môi trường mà người ta cho rằng sự tồn tại của một cá thể hay một giống loài
nào đó có ý nghĩa về mặt kinh tế không chỉ trước mắt mà kể cả lâu dài, buộc
người ta phải duy trì giống loài đó bằng mọi giá. Trong việc tính toán giá trị
này thì việc xác lập nhận thức về mặt giá trị rất dễ dàng.
Dưới đây là một ví dụ về tổng giá trị kinh tế của một khu rừng nhiệt
đới, từ đó giúp chúng ta hình dung rõ hơn về các thành phần của TEV:
Giá trị sử dụng trực tiếp: là gỗ , củi, hoa quả và du lịch sinh thái.
Giá trị sử dụng gián tiếp: là các dịch vụ của hệ sinh thái, ngắm chim,

động xã hội). Điều đó có nghĩa là chất lượng môi trường thoả mãn hai thuộc
tính của hàng hóa là giá trị và giá trị sử dụng. Vì chất lượng môi trường là
hàng hóa nên chúng ta cần định giá nó, tránh gây thất bại thị trường.
Thứ hai: Trong quá khứ người ta cho rằng tài nguyên và môi trường
được thiên nhiên ban tặng nên người ta khai thác và sử dụng không tính toán


7

và cũng không tính đến những thiệt hại mà hoạt động khai thác gây ra cho
môi trường. Việc định giá môi trường là một cách nhắc nhở con người quan
tâm và bảo vệ môi trường. Đồng thời, qua định giá cũng đo được tốc độ sử
dụng hết các nguồn tài nguyên môi trường và báo hiệu cho con người rằng
mức độ khan hiếm ngày càng tăng lên.
Thứ ba: Khi định giá được môi trường cũng như những thiệt hại của
hoạt động kinh tế gây ra cho môi trường sẽ góp phần tạo công bằng trong việc
ra quyết định. Định giá góp phần thực hiện được nguyên tắc: người gây ô
nhiễm trả tiền, tức là qua định giá môi trường chúng ta sẽ xác định được đối
tượng gây ô nhiễm phải trả bao nhiêu.
Thứ tư: Khi môi trường đã được định giá, tức là các giá trị của nó bao
gồm cả giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng sẽ được lượng hóa, từ đó sẽ có
tính thuyết phục cao hơn trong việc giáo dục nâng cao nhận thức của người
dân cũng như có thể chỉ dẫn quá trình thực hiện về mặt kinh tế đúng đắn hơn.
Thứ năm: Nếu tiến hành lượng hóa một cách thận trọng thì sẽ tạo ra
được một cơ sở chính sách an toàn và hợp lý, qua đó có phương cách sử dụng
môi trường cẩn thận hơn.
Như vậy, việc định giá môi trường là hoàn toàn cần thiết và hữu ích.
Vậy người ta sẽ định giá môi trường bằng cách nào? Sau đây là một số
phương pháp định giá môi trường được áp dụng phổ biến.
1.2.2. Phương pháp định giá môi trường

môi trường theo những hướng như sau:
- Đánh giá theo thị trường (Market price – based): được ứng dụng khi
dịch vụ hàng hóa môi trường cần thẩm định có thể chuyển được sang thị
trường của hàng hóa thông thường, chẳng hạn các nguồn tài nguyên có thể
khai thác được như gỗ, khoáng sản và các động vật quí hiếm.
- Đánh giá bằng thị trường ẩn hoặc thị trường thay thế (Surrogate
market based): được sử dụng khi dịch vụ hàng hóa môi trường không có trên


9

thị trường thông thường. Ở đây giá trị của nó có thể suy ra từ việc quan sát tác
động của nó trong thị trường liên quan. Những kỹ thuật hay dùng là phương
pháp đánh giá theo hưởng thụ (HPM), phương pháp chi phí du lịch (TCM) và
tiếp cận thay đổi năng suất (CoP)
- Xây dựng thị trường giả (Hypothetical market based): một số hàng
hóa và dịch vụ môi trường không hề tồn tại giá trị trên thị trường và cũng
không có thị trường thay thế. Vì thế trong trường hợp này, ta cần xây dựng
một thị trường giả định. Kỹ thuật thông dụng nhất là phương pháp định giá
ngẫu nhiên (CVM).
- Đánh giá dựa vào chi phí (Cost based): dựa trên nguồn thông tin liên
quan tới chi phí ẩn hoặc hiện của các dịch vụ môi trường có được nhờ quan
sát trực tiếp hành vi của cá nhân trên thị trường. Hàng hóa chất lượng môi
trường sẽ được phản ánh dựa trên sự biểu hiện của ”giá”. Kỹ thuật đánh giá
này khá hữu hiệu, nó đã khắc phục được các khó khăn trong việc đo lường giá
trị môi trường. Có hai hình thức tiếp cận chi phí chính là chi phí phòng ngừa
và chi phí thay thế.
- Chuyển giao lợi ích (Benefit transfer) : Cho phép chuyển những ước
tính hiện hành của giá trị môi trường từ nơi này sang nơi khác (cụ thể ở đây là
từ nơi nghiên cứu sang nơi hoạch định chính sách). Phương pháp này được

1.3.2. Các cách tiếp cận của phương pháp chi phí du lịch
Trong số các mô hình chi phí du lịch thì chi phí du lịch theo vùng
(ZTCM) và chi phí du lịch theo cá nhân (ITCM) là hai cách tiếp cận phổ biến
và đơn giản nhất của phương pháp chi phí du lịch.
1.3.2.1 Phương pháp du lịch cá nhân
Cách tiếp cận này xác định mối quan hệ giữa số lần đến điểm du lịch
hàng năm của một cá nhân với chi phí du lịch mà cá nhân đó phải bỏ ra
Vi = f (TCi , Si)


11

Trong đó: Vi : Số lần đến điểm du lịch của cá nhân i trong một năm
TCi: Chi phí du lịch của cá nhân i
Si : Các nhân tố khác có ảnh hưởng đến cầu du lịch của cá
nhân, ví dụ như thu nhập, chi phí thay thế , độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn
nhân, trình độ học vấn...
Đơn vị quan sát của ITCM là các cá nhân đến thăm điểm du lịch, giá trị
giải trí của mỗi cá nhân là diện tích phía dưới đường cầu của họ. Vì vậy, tổng
giá trị kinh tế của khách du lịch sẽ được tính bằng cách tổng hợp các đường
cầu cá nhân, vì ITCM yêu cầu cần phải có sự giao động trong số lần đến địa
điểm du lịch của mỗi các nhân hàng năm để ước lượng ra hàm cầu do đó cách
tiếp cận này sẽ gặp khó khăn khi sự giao động là quá nhỏ hoặc khi cá nhân
không đến địa điểm du lịch một lần trong năm thì khó có thể chạy được hàm
hồi qui. Cách tiếp cận này chỉ phù hợp với khu du lịch mà khách du lịch đến
nhiều lần trong một năm như vườn bách thảo, vườn bách thú, công viên...
1.3.2..2 Phương pháp du lịch vùng
Phương pháp này xác định mối quan hệ giữa tỷ lệ tham quan của vùng
xuất phát tới vị trí cần nghiên cứu với tổng chi phí cua vùng xuất phát.
Vi = V (TCi, POPi, Si)

khách du lịch. Những thông tin thu thập từ du khách bao gồm:
- Du khách tới từ đâu
- Du khách đến bằng phương tiện gì (ô tô, xe máy ...)
- Thời gian đi đến và ở tại địa điểm
- Tần suất du lịch, thời gian của chuyến đi
- Thu nhập của du khách
- Chi phí du lịch trực tiếp (chi phí di chuyển, thức ăn, chỗ ở...)
- Mục đích đi du lịch, sở thích đi du lịch
Trong đó có hai nội dung cơ bản mà ta không thể bỏ qua đó là quãng
đường họ đi tới địa điểm nghiên cứu là bao xa và hàng năm khách tới địa


13

điểm nghiên cứu bao nhiêu lần. Ngoài ra, ta cũng phải thu thập thông tin
lượng khách du lịch từ mỗi vùng và số lần thăm khu du lịch vào năm trước. Ở
tình huống giả thuyết này, giả thiết rằng cán bộ ở khu du lịch giữ những ghi
chép về số lượng khách du lịch và nơi đến của họ, những dữ liệu được sử
dụng để tính tổng số lần thăm khu du lịch ở mỗi vùng trong năm trước.
Số lượng mẫu điều tra phải thỏa mãn:

n≥
Trong đó:

𝜎2
𝜀2

(u α/2 )2

n : dung lượng mẫu điều tra tối thiểu

tới vị trí đánh giá của các nhóm thông qua số liệu điều tra, tính toán ở trên
Vi = V(TCi , POPi , Si)
hay:

Vri = V(TCi, Si)

toàn bộ vùng sẽ có nhu cầu là:
n i VRi = n i V(TCi, Si)
trong đó n i là số lần người ở vùng i tới thăm quan khu du lịch
Mối quan hệ giữa chi phí đi lại và số lần đi lại được coi là thể hiện nhu
cầu giải trí. Có nghĩa là chúng ta giả định rằng chi phí đi lại thể hiện giá trị và
số lần đi lại thể hiện lượng giá trị:
Chi phí đi lại

Tỷ lệ khách/1000 dân
Đường cầu giải trí
Phần dưới đường cầu = lợi ích của giải trí
= lợi ích của vùng nghiên cứu (theo giả
thiết)

Hình 1.2 Đồ thị hàm cầu về giải trí trong TCM

Nguồn: Vũ Tấn Phương (2008)


Trích đoạn Những hoạt động bảo tồn thiên nhiên và giáo dục môi trường Sử dụng phương pháp chi phí du lịch theo vùng để xác định giá trị cảnh Các hoạt động của du khách tại vườn quốc giaBa Vì Phân vùng khách du lịch
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status