Phân tích thiết kế một website nhỏ ứng dụng thương mại di động vào việc bán sách trên thiết bị di động - Pdf 33

Khóa luận tốt nghiệp GVHD : ThS.Ngô Lê Minh
LỜI CẢM ƠN
Trước hết cho em gửi lời chân thành cảm ơn đến cô Ths. Ngô Lê Minh đã
giúp đỡ và chỉ bảo nhiệt tình trong suốt quá trình làm khóa luận tốt nghiệp.
Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong trường đã giúp đỡ, truyền đạt
cho em những kiến thức quý báu, và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong thời
gian học tập ở trường ĐHCN – ĐHQGHN.
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và người thân đã giúp
đỡ, động viên em trong suốt quá trình học tập.
Do thời gian và trình độ có hạn, chắc chắn khóa luận này không thể tránh
được những sai sót. Em rất mong nhân được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô
và bạn bè quan tâm đến vấn đề này.
Hà Nội, Tháng 5 Năm 2006
Trang 1 SV: Lê Đức Long
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : ThS.Ngô Lê Minh
TÓM TẮT NỘI DUNG
Khóa luận nhằm mục đích nghiên cứu các công nghệ di động và ứng dụng
vào trong thương mại di động (M- Commerce). Nghiên cứu các vấn đề của
thương mại di động như mua hàng trên mạng và thanh toán di động. Đưa ra
những lợi ích, ưu điểm và nhược điểm và ứng dụng của thương mại di đông.
Đồng thời chỉ ra điểm khác biệt của thương mại di động so với thương mại điện
tử ( E-Commerce). Khóa luận cũng nêu lên tình hình phát triển của thương mại
di động tại Việt Nam và hướng phát triển của nó trong tương lại.
Phần sau của khóa luận phân tích thiết kế một website nhỏ ứng dụng thương
mại di động vào việc bán sách trên thiết bị di động. Xây dựng các module chính
như là xem thông tin sản phẩm, tìm kiếm thông tin và đặt hàng. Sử dụng công
nghệ Mobile ASP.NET trên môi trường giả lập OpenWave.
Trang 2 SV: Lê Đức Long
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : ThS.Ngô Lê Minh
MỤC LỤC
MỤC LỤC.........................................................................................................................3

3.1. Mô tả bài toán........................................................................................................41
3.2. Phân tích................................................................................................................42
3.2.1. Biểu đồ ngữ cảnh của hệ thống hệ thống ....................................................42
3.2.2. Sơ đồ phân rã chức năng: ..............................................................................43
3.2.3. Phân tích các chức năng nghiệp vụ chi tiết...................................................43
3.2.4.Các biểu đồ luồng dữ liệu...............................................................................45
3.3. Thiết kế..................................................................................................................47
3.3.1. Thiết kế dữ liệu..............................................................................................47
3.3.2. Thiết kế cơ sở dữ liệu.....................................................................................49
3.3.3.Thiết lập quan hệ.............................................................................................52
3.3.4. Thiết kế modulo.............................................................................................53
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO
...........................................................................................................................................57
4.1. Một số form chức năng cơ bản.............................................................................57
4.1.1. Form menu các chức năng ............................................................................57
4.1.2. Form tìm kiếm sách........................................................................................58
4.1.3. Form hiển thị chi tiết thông tin sách chi tiết..................................................59
Trang 3 SV: Lê Đức Long
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : ThS.Ngô Lê Minh
4.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo .................................................................................59
KẾT LUẬN.....................................................................................................................60
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................61
Trang 4 SV: Lê Đức Long
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : ThS.Ngô Lê Minh
CÁC TỪ VIẾT TẮT
PDA : Personal Digital Assistant
PIM : Personal Information Manager
GSM : Global System For Mobile Communication
CDMA : Code Division Multiple Access
GPRS : General Packet Radio Services

chóng mặt không chỉ ở số lượng người sử dụng mà còn cả về mặt công nghệ di
động. Với một số lượng lớn người sử dụng di động thì vấn đề thương mại và
dịch vụ trên điện thoại di động chắc chắn sẽ trở thành một nguồn lợi nhuận
khổng lồ vô cùng hấp dẫn.
Mặc dù thương mại di động có nhiều điểm giống nhau so với thương mại điện
tử thông thường. Tuy nhiên, do ra đời sau và được thừa hưởng các công nghệ
mới nhất, và luôn đánh vào thị hiếu của người sử dụng. Cho nên nó chắc chắn sẽ
nhanh chóng trở thành phổ biến và là một nguồn kinh doanh hấp dẫn.
Khóa luận trình bày những quan điểm thương mại di động và các công nghệ
đi kèm với nó. Đồng thời cũng xây dựng một hệ thống với các chức năng cơ bản
cho phép điện thoại di động có thể truy cập xem sách tìm kiếm và đặt sách một
cách dễ dàng.
Trang 6 SV: Lê Đức Long
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : ThS.Ngô Lê Minh
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG
NGHỆ DI ĐỘNG
1.1. Giới thiệu
Vào đầu những năm 70 của thế kỷ 19, người ta biết đến những chiếc điện
thoại đầu tiên gắn với phát minh của các nhà khoa học tiên phong A.G.Bell và
E.Gay. Trong suốt 2 thế kỷ qua, đã có rất nhiều sáng chế phát minh khác thuộc
lĩnh vực viễn thông, mở ra cả một ngành dịch vụ viễn thông đồ sộ. Điện thoại
trở thành phương tiện liên lạc phổ biến nhất thế giới.
Xuất hiện sau điện thoại cố định tròn một thế kỷ, chiếc điện thoại di động đầu
tiên (Motorola Dyna) được giới thiệu tại New York vào năm 1973. Trong vòng
30 năm qua, thế giới đã chứng kiến sự phát triển vượt bậc của ngành công nghệ
di động số. Điện thoại di động ngày càng trở nên cần thiết và tiện lợi . Ở những
nước phát triển, hầu hết người dân đều sở hữu ít nhất một thiết bị di động. Với
sự bùng nổ của công nghệ số, ngày nay điện thoại di động đã được tích hợp rất
nhiều tính năng số hiện đại như khả năng chụp ảnh số, chức năng đa phương
tiện, khả năng kết nối không dây băng thông rộng...Chưa kể tới những dòng thiêt

biến là 9.6kbps ( có vài dịch vụ lên đến 14.4kbps). Tốc độ này là vừa đủ cho các
truy cập web thông thường.
Các nhà nghiên cứu đã tìm ra những công nghệ mới cho phép kết nối không
dây bằng điện thoại di động có tốc độ ngày càng cao. Và trong tương lai không
xa chắc chắn điện thoại di động sẽ trở thành một thiết bị truy cập web phổ biến
nhất.
1.2.2. Các thiết bị cầm tay khác
Một thiết bị cầm tay như thiết bị hỗ trợ cá nhân PDA (personal digital
assistant) hoặc một chiếc điện thoại có hỗ trợ việc lướt web thường chứa rất
nhiều tính năng của một chiếc máy tính hiện đại. Hơn thế, những thiết bị này còn
có chứa chức năng đàm thoại, fax, PIM (quản lí thông tin cá nhân: personal
information managers) như lịch làm việc, sổ địa chỉ...Nhưng thiết bị cầm tay
khác một máy tính sách tay về khối lượng, kích thước, các giới hạn kỹ thuật
mạng và các giới hạn băng thông...Giới hạn về băng thông khiến tất cả các ứng
dụng đa phương tiện không thể hiển thị đầy đủ trên trình duyệt thu nhỏ
(microbrowser), tuy nhiên với công nghệ wi-fi không dây mới và chuẩn di động
số thế hệ 3 (3G) các vấn đề trên đã dần được khắc phục. Khác với máy tính sách
tay, các thiết bị di động số thường có nền tảng là penbased systems, sử dụng màn
hình cảm ứng thay vì bàn phím thông thường. Một số thiết bị cầm tay còn sử
dụng công nghệ nhận dạng và giao tiếp bằng giọng nói. Ngày nay, thị trường
thiết bị di động rất đa dạng cả về chủng loại, mẫu mã, nhà sản xuất. Bảng dưới
đây sẽ chỉ rõ những thiết bị phổ biến nhất với những tính năng cơ bản.
Trang 8 SV: Lê Đức Long
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : ThS.Ngô Lê Minh
Hình 1.1 : Một số thiết bị di động và các tính năng
1.2.3. Hệ điều hành cho thiết bị di động
Mặc dù thị trường thiết bị di động rất đa dạng, nhưng hệ điều hành, thành
phần quan trọng nhất để điều khiển mọi hoạt động của một thiết bị cầm tay lại
chỉ được đề cập với 3 dòng sản phẩm nổi bật Palm OS, Pocket PC, và Symbian
OS. Gần đây, hệ điều hành ‘Microsoft Windows Mobile 2003 Second Edition’

liệu từ xa thông qua các công nghệ VPN, WAN, LAN, và PAN.
Symbian OS
EPOC16 của Psion Software là hệ điều hành 16bit đã có từ vài năm trước và
được nhúng trong nhiều thiết bị di động số; EPOC32 là phiên bản 32 bit hỗ trợ
đa tác vụ. Vào giữa năm 1998, Psion hợp tác với Ericsson, Nokia, và Motorola
phát triển sản phẩm với tên Symbian OS (http://www.symbian.com/), một hệ
điều hành mới cho các thiết bị cầm tay. Không giống Windows CE, Symbian OS
là một hệ điều hành cho thiết bị cầm tay có đầy đủ chức năng mạnh mẽ. Những
chức năng chính của OS này bao gồm: tích hợp công nghệ di động đa luồng, đa
chức năng, tạo một môi trường ứng dụng mở, đa tác vụ và đồng bộ hoá dữ liệu.

1.2.4. Máy tính xách tay
Là một loại hình máy tính di động nhỏ gọn hơn nhiều so với máy tính để bàn
thông thường phát triển nhanh và có tốc độ cao. Chúng tiện lợi cho việc sử dụng
nhanh chóng ở sân bay, trên tau hay trong khách sạn … Và ngày nay càng trở
nên tiện dụng với các kết nối không dây tốc độ cao.
Máy tính xách tay có tốc độ tính toán nhanh nhiều so với các thiết bị cầm tay
nhỏ gọn đã trình bày ở trên. Nhưng nhược điểm nổi bật là kích cỡ và trọng
lượng của máy xách tay lớn hơn nhiều so với các thiết bị cầm tay.
1.3. Tương lai của công nghệ di động
Khi nhu cầu về liên lạc và trao đổi thông tin của con người tăng lên, thì một
điều tất yếu sẽ xảy ra đó là sự bùng nổ công nghệ di động.
Tương tự như sự hội tụ của mạng cố định theo hướng NGN, các công nghệ di
động cũng đang trong quá trình hội tụ nhằm đáp ứng các yêu cầu của khách hàng
di động về băng thông và chất lượng dịch vụ với việc ra đời mạng di động thế hệ
2.5G, 3G... Lưu lượng các giao dịch (voice/data) trên mạng di động cũng tăng
rất nhanh trong thời gian gần đây và từ năm 1999 đã vượt nhu cầu trên đường
hữu tuyến. Các nghiên cứu tại Việt Nam về mạng di động còn rất hạn chế và
thường chỉ là nghiên cứu lý thuyết mà ít có những sản phẩm thực tế. Nguyên
nhân sâu xa của vấn đề là ở chỗ mạng di động chứa đựng nhiều kỹ thuật phức

như việc theo dõi và duy trì, điều khiển mạng người dùng. Các khối chức năng
này sẽ giao tiếp với nhau qua trình điều khiển truyền thông dựa theo giao thức
chuẩn.
Trên đây, em vừa trình bày tóm tắt về lịch sử, công nghệ và cấu trúc của
mạng GSM, mạng điện thoại di động phổ biến nhất thế giới cho tới thời điểm
này. GSM cũng là một trong 2 nhánh mạng di động đang được nghiên cứu để
nâng cấp lên chuẩn truyền thông di động 3G. Sau đây em sẽ tiếp tục trình bày về
mạng CDMA, cũng là một nhánh công nghệ sẽ được nâng cấp để tiến lên chuẩn
3G theo một cách tiếp cận khác.
Trang 11 SV: Lê Đức Long
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : ThS.Ngô Lê Minh
Hình 2.1: Cấu trúc của một hệ thống GSM
Trang 12 SV: Lê Đức Long
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : ThS.Ngô Lê Minh
2.1.2. CDMA
Công nghệ CDMA (Code Division Multiple Access) đã ra đời như một lựa
chọn thay thế cho kiến trúc tế bào GSM và góp phần vào sự tăng trưởng bùng nổ
trên thị trường công nghệ không dây trong thập kỷ qua. CDMA, cũng như GS
hiện đang trong quá trình chuyển giao sang các hệ thống thế hệ 3G trên toàn cầu,
cho phép tăng băng thông và các dịch vụ dữ liệu. Tuy không phổ cập bằng GSM
nhưng công nghệ CDMA (spread-spectrum) cũng đã chứng tỏ tính ưu việt của
mình bằng những thị phần khá lớn tại Mỹ, Châu Á đặc biệt là Hàn Quốc.
CDMSOne hỗ trợ chuẩn truyền thông di động 2G. Chuẩn CDMA IS-95 của
TIA/EIA (công bố vào tháng 7/1993) thiết lập những nguyên tắc nền tảng cho hệ
thống truyền thông không dây số đầu cuối. Kiến trúc hệ thống mạng thương mại
dựa trên chuẩn này được biết với tên CDMA One. IS-95 của TIA/EIA và phiên
bản có sửa đổi tiếp theo IS-95A (công bố vào tháng 3/1995) tạo ra cơ sở cho
phần lớn các mạng trên nền tảng CDMA 2G được triển khai trên toàn thế giới.
Cơ sở hạ tầng CDMA 2G lúc đầu đã chứng tỏ tính hiệu quả trong việc chuyển
giao với chất lượng cao, lưu lượng thoại mất mát thấp. Tuy vậy, nó cũng không

Khóa luận tốt nghiệp GVHD : ThS.Ngô Lê Minh
động. Cung cấp cho MSC-S (Serving Mobile Switching Centre) tập đặc tính cho
phép của thiết bị di động. Sau khi đăng ký thành công với HLR, thiết bị di động
sẵn sàng thực hiện các cuộc gọi dữ liệu và thoại. Những cuộc gọi này có thể ở
hai dạng CSD (circuit-switched data - dữ liệu chuyển mạch kênh) hoặc PSD
(packet-switched data - dữ liệu chuyển mạch gói), phụ thuộc vào sự tương thích
của bản thân thiết bị di động (hoặc không tương thích) với chuẩn IS-2000. Tài
liệu này định nghĩa các giao thức cho các giao diện CDMA khác nhau liên quan
đến việc truyền các gói tin có tên là A1, A7, A9 và A11.
Các trạm di động MS phải tuân theo các chuẩn IS-2000 để bắt đầu một phiên
dữ liệu dạng gói tin khi sử dụng mạng 1xRTT1. Các trạm di động chỉ có các khả
năng của IS-95 bị giới hạn bởi CSD, trong khi các các thiết bị đầu cuối IS-2000
có thể tuỳ chọn hoặc PSD hay CSD. Các tham số chuyển bởi thiết bị đầu cuối
thông qua AL (air link) vào mạng sẽ xác định kiểu dịch vụ yêu cầu. Dữ liệu
chuyển mạch kênh có một tốc độ tối đa là 19.2 Kbit/s và được thực hiện qua các
kênh TDM truyền thống. Dịch vụ này cho phép người dùng lựa chọn điểm gán
(point of attachment) vào trong một mạng dữ liệu có sử dụng quay số thông
thường. Dịch vụ dữ liệu chuyển mạch gói có một tốc độ dữ liệu tối đa là 144
Kb/s. Đối với mỗi phiên dữ liệu, một phiên PPP (Point-to-Point Protocol) được
tạo ra giữa trạm di động và PDSN (Packet Data Serving Node). Việc chỉ định địa
chỉ IP cho mỗi thiết bị di động có thể được cung cấp bởi PDSN hoặc một máy
phục vụ DHCP (Dynamic Host Configuration Protocol) qua một HA (Home
Agent). RAN (Radio Access Network) là điểm vào của thuê bao di động cho
truyền thông dữ liệu hay thoại bao gồm: air link, Tháp/ăngten (cell) và kết nối
cáp tới BTS (Um) BTS (Base Station Transceiver Subsystem) Đường truyền
thông từ BTS tới BSC (Abis) BSC (Base Station Controller) PCF (Packet
Control Function).
BTS (Base Station Transceiver Subsystem) điều khiển hoạt động của air link
và có chức năng giao diện giữa mạng và thiết bị di động. Các tài nguyên RF như
sự ấn định tần số, phân chia khu vực và điều khiển nguồn truyền được quản lý

ngày càng tăng của khách hàng trong việc sử dụng các dịch vụ giá trị gia tăng,
và cũng là một bước chuyển tiếp trên con đường tiến đến thế hệ 3G, công nghệ
GPRS đã ra đời. Vì vậy công nghệ GPRS còn được gọi là công nghệ thế hệ 2.5
(2.5G). GPRS (General Packet Radio Services - dịch vụ vô tuyến gói chung)
được xem như là một dịch vụ mới của mạng thông tin di động GSM, nó dùng
công nghệ chuyển mạch gói để truy cập đến các mạng số liệu bên ngoài (như
mạng LAN, mạng Internet, ...) bằng giao thức IP (Internet Protocol) với tốc độ
cao. Tốc độ tối đa theo lý thuyết có thể lên đến 171.2 kbps khi sử dụng tối đa 8
kênh lưu lượng không sửa lỗi cho mỗi thuê bao, gấp 3 lần tốc độ truyền số liệu
qua modem trên mạng điện thoại cố định và gần 20 lần so với dịch vụ số liệu của
mạng GSM. Để đạt đến tốc độ cao cần phải có sự hỗ trợ từ hai phía, cả hệ thống
mạng và máy đầu cuối GPRS.
Nói một cách khác, GPRS là một phương thức truyền số liệu mới cho mạng di
động GSM, ngoài phương thức truyền thống là quay số dịch vụ data. Nó cho
phép thuê sbao của mạng GSM tiếp cận các dịch vụ giá trị gia tăng có yêu cầu
đường truyền số liệu tốc độ cao với một chi phí tiết kiệm nhất. Các dịch vụ đó
bao gồm: WAP, dịch vụ tin nhắn đa phương tiện MMS (Multimedia Messaging
Service), truy cập Internet, xem video, ...
Có thể kể ra một số ưu điểm của dịch vụ GPRS đối với khách hàng như sau:
- Tốc độ truy cập số liệu cao hơn, thời gian kết nối nhanh hơn.Người sử dụng
GPRS được lợi từ việc thời gian truy nhập ngắn hơn cũng như tốc độ truyền số
liệu cao hơn. Đối với dịch vụ data truyền thống, thông thường việc thiết lập kết
nối diễn ra trong khoảng 30 giây (tương đương với thời gian thiết lập cuộc gọi
thoại) và tốc độ truyền số liệu hạn chế ở 9.6 kbps. GPRS cho phép thời gian thiết
lập kết nối không quá 10 giây và tốc độ truyền số liệu cao hơn. Chính vì thời
gian kết nối ngắn nên thuê bao GPRS được xem là “luôn luôn kết nối” với mạng
số liệu. Ngoài ra, thuê bao GPRS chỉ chiếm tài nguyên vô tuyến của mạng GSM
khi có yêu cầu truyền tải, sau nó nó sẽ giải toả ngay. Điều này có lợi đối với
khách hàng bởi vì thuê bao không kết nối liên tục nên máy di động sẽ đỡ tốn pin
hơn.

loại Class B.
Ngoài ra, máy đầu cuối GPRS còn được phân loại tuỳ theo tốc độ truy cập tối
đa, có hỗ trợ MMS hay không, có tích hợp trình duyệt web hay không, có hỗ trợ
xem video hay không, v.v...
2.1.4. Middleware
Thuật ngữ middleware diễn tả một lớp phần mềm trung gian giữa hệ điều
hành và các ứng dụng phân tán. Middleware hoạt động dựa vào các liên hệ qua
lại giữa các thành phần ở hai cực của nó thông qua các tác động trong mạng di
động. Nhiệm vụ đầu tiên của middleware là tạo nên tính trong suốt đối với người
dùng mạng, có nghĩa là nó sẽ làm ẩn đi tính phức tạp bên trong môi trường mạng
bằng việc tách các ứng dụng độc lập với các tiến trình, giao thức, các cơ chế sao
chép dữ liệu, những điều khiển nguy cơ và lỗi mạng, cũng như các điều khiển
tính toán song song.
Mobile middleware biên dịch các yêu cầu từ thiết bị cầm tay tới một host
computer và đồng bộ hoá nội dung từ host tới thiết bị cầm tay
WAP và i-mode, hai middleware phổ biến Dựa theo một thống kê từ
http://eurotechnology.com, 60% người dùng internet không dây qua thiết bị cầm
tay sử dụng i-mode, 39% dùng WAP, và 1% dùng Palm middleware. Sau đây ta
xem những so sánh quan trọng
Trang 16 SV: Lê Đức Long
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : ThS.Ngô Lê Minh
Hình 2.2 : So sánh hai loại middware chính
WAP
WAP (http://www.wapforum.org) là một chuẩn giao thức mở, phổ biến, cho
phép người dùng thiết bị di động số có thể dễ dàng tương tác với các thông tin
và dịch vụ tức thời. WAP rất mềm dẻo và là chuẩn giao thức cơ bản trên hầu hết
các mạng di động sử dụng công nghệ CDPD, CDMA, GSM, PDC, PHS, TDMA,
FLEX, ReFLEX, iDEN, TETRA, DECT, DataTAC, Mobitex, và GRPS. Hầu hết
các hệ điều hành cho thiết bị cầm tay đều hỗ trợ WAP, bao gồm Palm OS,
EPOC, Windows CE, FLEXOS, OS/9, và JavaOS. Công nghệ quan trọng nhất

thông lên tới 384 kbps hoặc nhanh hơn, cho phép người dùng có thể download
phim ảnh và các ứng dụng yêu cầu băng thông cao.
2.1.5. Host computer
Host computers là tập hợp các server có chức năng xử lý các yêu cầu, thực thi
các thủ tục, và lưu trữ toàn bộ thông tin cho mọi ứng dụng thương mại điện tử
dựa trên thiết bị di động. Hệ thống này cũng tương tự như hệ thống host
computers trong mô hình thương mại điện tử thông thường bởi vì tại host
computer người ta không cần phân biệt sự khác nhau giữa các thẻ, các trình
duyệt hay trình duyệt thu nhỏ (microbrowsers) cho thiết bị di động. Tại đây,
người ta thường cài các phần mềm ứng dụng có thể đáp ứng và xử lí được các
yêu cầu từ phía trình khách đưa tới và trả về kết quả phù hợp. Hầu hết ứng dụng
thương mại điện tử cho thiết bị di động là các thành phần của hệ thống phần
mềm trên. Nó được trang bị khả năng tương tác qua lại với các chương trình ứng
dụng được cài trên thiết bị đầu cuối để tạo ra một cơ chế hoàn thiện trong việc
giải quyết các bài toán trong thương mại điện tử dựa trên thiết bị di động. Các
thành phần được cài trong host computers bao gồm Web server, database server,
Engine Scripts, các phần mềm ứng dụng và phần mềm hỗ trợ hệ thống, hỗ trợ
khách hàng...
Web servers
Web servers là một phần mềm ứng dụng phía trình chủ được cài trên host
computer để quản lí việc lưu trữ và vận hành hệ thống website được đặt trong
host computer. Trên thị trường, có rất nhiều phần mềm web server như Appache,
IIS, Jrun, NetCape...Từ năm 1996, Apache đã trở thành một HTTP server phổ
biến nhất trên mạng Internet. Theo thống kê đến 05/1999, 57% các máy chủ web
đang dùng Appache. Bên cạnh đó, IIS hiện nay đã có tới phiên bản 6.0 được
cung cấp để bởi Microsoft đi kèm với các phiên bản Windows cũng chiếm một
thị phần khá lớn. Nó được cài trên hầu hết các máy chủ Windows và tỏ ra thực
sự mạnh với khi chạy trên Windows server 2003.
Trang 18 SV: Lê Đức Long
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : ThS.Ngô Lê Minh

qua mạng viễn thông di động". Hiểu một cách đơn giản thì đây là TMÐT thông
qua mạng điện thoại di động.
Ðối với M-Commerce, chiếc ÐTDÐ chính là cửa kết nối cho phép thuê bao
thực hiện các hoạt động thương mại điện tử như: dịch vụ tài chính, mua hàng,
thanh toán...
Sự gắn kết giữa người sử dụng với chiếc máy ÐTDÐ cá nhân đã mang lại
hàng loạt ứng dụng mới với khả năng tiếp thị, khả năng đáp ứng nhu cầu cá nhân
tốt hơn và khả năng truy nhập mọi lúc, mọi nơi.
Trang 19 SV: Lê Đức Long
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : ThS.Ngô Lê Minh
Thương mại di động tồn tại trong nó các khái niệm tạo nên sự khác biệt đó là
sử dụng phương thức thanh toán điện tử, mua bán trên mạng và thực hiện các
nghiệp vụ ngân hàng trên mạng. Ta sẽ đi tìm hiểu kỹ hơn về các khái niệm này
dưới đây :
2.2.1. Mua bán trên mạng
Đây là hình thức mua bán xảy ra hoàn toàn tại cửa hàng ảo mà người bán
muốn trưng bày sản phẩm của họ bằng các hình ảnh thực tế sinh động trên một
Website. Người mua có quyền lựa chọn sản phẩm, đặt mua và thanh toán bằng
hình thức điện tử. Sau đó họ sẽ được cung cấp hàng hoá tại nhà. Hình thức này
tận dụng nhiều ưu điểm như giảm việc chi phí thuê nhân viên, thuế ... Có thể nói
một điều thuận tiện nhất mà các nhà mua bán đã vận dụng được là tận dụng tính
năng đa phương tiện của môi trường Web, để trang trí trang Web sao cho thật
hấp dẫn và thuận tiện trong việc trưng bày sản phẩm dưới các hình thức khác
nhau.
Thương mại là hình thức trao đổi giữa hàng và tiền. Mua bán qua mạng thực
chất cũng là một hình thức thương mại trên môi trường Web. Ta có thể thấy
được các công đoạn của một giao dịch qua mạng như sau :
1. Khách hàng, từ một máy tính tại một nơi nào đó, điền những thông tin
thanh toán và điạ chỉ liên hệ vào đơn đặt hàng (Order Form) của Website bán
hàng (còn gọi là Website thương mại điện tử). Doanh nghiệp nhận được yêu cầu

về hướng thiết kế cho các mặt hàng dễ giao dịch và có giá cả vừa phải như sách,
âm nhạc hay phim ảnh… Thủ tục mua bán cũng như giao dịch các mặt hàng này
thường nhanh gọn và dễ xử lí.
2.2.2. Ngân hàng trên mạng
Ngân hàng trên mạng nói chung là việc đưa các nghiệp vụ ngân hàng như
việc trao đổi cổ phiếu, chuyển tiền hay kiểm tra tài khoản … lên trên Web. Giải
pháp này được thiết kế phục vụ cho nhu cầu mua bán hàng hóa qua mạng. Đây
là một giải pháp có tính khả thi rất cao bởi nó tiết kiệm thời gian không gian cho
người sử dụng. Để có thể áp dụng các nghiệp vụ ngân hàng qua mạng thì vần đề
bảo mật là yếu tố quan trọng hàng đầu khi phát triển các ứng dụng ngân hàng
qua mạng. Sau đây là một số các mô hình xác thực người dùng khi thực hiện các
giao dịch.
- Xác thực sử dụng thẻ : Người sử dụng được cung cấp một chiếc thẻ để
thực hiện giao dịch. Đây là công cụ nhằm xác thực người dùng. Mỗi thẻ được
cung cấp bao gồm một mã xác nhận khác nhau. Khi các giao dịch nghiệp vụ
được tiến hành trên mạng, ngân hàng sẽ yêu cầu nhập thông tin về tên và mã
được cung cấp kèm theo thẻ. Nếu mã này đúng với mã đã tồn tại trong cơ sở dữ
liệu của ngân hàng thì người dùng được xác nhận. Giao dịch sẽ được tiến hành.
- Xác thực sử dụng máy tạo mã : Sử dụng thiêt bị tính toán tạo mã cung
cấp kèm theo cho người dùng. Khi người dùng truy cập trang web của ngân
hàng, một phương thức kết nối an toàn được tạo ra máy tính của họ và máy chủ
của ngân hàng. Sau khi đăng nhập tên, máy chủ sẽ yêu cầu người dùng nhập vào
mã số. Để lấy được mã số này, người dùng sử dụng thiêt bị tạo mã trên để tạo ra
một passcode. Máy chủ của ngân hàng sẽ so sánh passcode này với pascode
được tạo ra bởi một thiết bị tạo mã khác có trên máy chủ. Nếu 2 passcode này
trùng nhau. Người dùng được xác thực. Phương pháp này đòi hỏi sự đồng bộ
hóa của 2 thiết bị tạo mã tại máy client và server.
- Xác thực sử dụng phần mềm tạo mã: Thay vì sử dụng thiết bị tạo mã
như ở phương pháp thứ 2. Phương pháp này sử dụng các hàm tính toán, được
phân phối tới người dùng thông qua phần mềm đi kèm hay đĩa CD. Để sử dụng

Đối với thẻ thanh toán có nhiều khái niệm để diễn đạt nó, mỗi một cách diễn
đạt nhằm làm nổi bật một nội dung nào đó. Sau đây là một số khái niệm về thẻ
thanh toán:
- Thẻ thanh toán (thẻ chi trả) là một phương tiện thanh toán tiền mua hàng
hoá, dịch vụ hoặc có thể được dùng để rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý hoặc
các máy rút tiền tự động.
- Thẻ thanh toán là một loại thẻ giao dịch tài chính được phát hành bởi Ngân
hàng, các Tổ chức tài chính hay các công ty.
- Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà
người chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền mua hàng hoá,
dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ.
- Thẻ thanh toán là phương thức ghi sổ những số tiền cần thanh toán thông
qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính kết nối giữa Ngân
hàng/Tổ chức tài chính với các điểm thanh toán (Merchant). Nó cho phép thực
hiện thanh toán nhanh chóng, thuận lợi và an toàn đối với các thành phần tham
gia thanh toán.
Trang 22 SV: Lê Đức Long
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : ThS.Ngô Lê Minh
b. Phân loại thẻ thanh toán :
Có nhiều cách để phân loại thẻ thanh toán: phân loại theo công nghệ sản xuất,
theo chủ thể phát hành, theo tính chất thanh toán của thẻ, theo phạm vi lãnh thổ...
* Phân loại theo công nghệ sản xuất:
Có 3 loại:
- Thẻ khắc chữ nổi (EmbossingCard): dựa trên công nghệ khắc chữ nổi, tấm
thẻ đầu tiên được sản xuất theo công nghệ này. Hiện nay người ta không còn sử
dụng loại thẻ này nữa vì kỹ thuật quá thô sơ dễ bị giả mạo.
- Thẻ băng từ (Magnetic stripe): dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng từ chứa
thông tin đằng sau mặt thẻ. Thẻ này đã được sử dụng phổ biến trong 20 năm qua
, nhưng đã bộc lộ một số nhược điểm: do thông tin ghi trên thẻ không tự mã hoá
được, thẻ chỉ mang thông tin cố định, không gian chứa dữ liệu ít, không áp dụng

Loại 1: chỉ rút tiền tại những máy tự động của Ngân hàng phát hành.
Trang 23 SV: Lê Đức Long
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : ThS.Ngô Lê Minh
Loại 2: được sử dụng để rút tiền không chỉ ở Ngân hàng phát hành mà còn
được sử dụng để rút tiền ở các Ngân hàng cùng tham gia tổ chức thanh toán với
Ngân hàng phát hành thẻ.
* Phân loại theo phạm vi lãnh thổ:
- Thẻ trong nước: là thẻ được giới hạn trong phạm vi một quốc gia, do vậy
đồng tiền giao dịch phải là đồng bản tệ của nước đó.
- Thẻ quốc tế: đây là loại thẻ được chấp nhận trên toàn thế giới, sử dụng các
ngoại tệ mạnh để thanh toán.
* Phân loại theo chủ thể phát hành:
- Thẻ do Ngân hàng phát hành (Bank Card): là loại thẻ do ngân hàng phát
hành giúp cho khách hàng sử dụng một số tiền do Ngân hàng cấp tín dụng.
- Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: là loại thẻ du lịch và giải trí của
các tập đoàn kinh doanh lớn hoặc các công ty xăng dầu lớn, các cửa hiệu lớn...
phát hành như Diner's Club, Amex...
c. Quá trình thanh toán thẻ tín dụng
Trên thế giới hiện nay có nhiều hệ thống hỗ trợ việc thanh toán thẻ tín dụng.
Các hệ thống này đều nhằm một mục đích là mang lại sự tiện lợi cho khách
hàng. Để có thể hiểu được quy trình của việc thanh toán điện tử, ta tìm hiểu một
hệ thống thanh toán điện tử điển hình hiện nay trên thế giới. Đó là hệ thống
Planet Payment.
Quá trình giao dịch
Hình 2.3 : Quá trình giao dịch thẻ của hệ thống Planet Payment
Giao dịch được chuyển từ website của người bán tới máy chủ của Planet
Payment.
Planet Payment chuyển giao dịch sang trung tâm thanh toán thẻ tín dụng quốc
tế.
Trung tâm thanh toán thẻ tín dụng quốc tế sẽ hỏi ý kiến cơ sở dữ liệu phát

Trích đoạn So sánh thương mại di động và thương mại điện tử Hướng phát triển của thương mại di động tại Việt Nam Thiết kế modulo Form hiển thị chi tiết thông tin sách chi tiết
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status