Nghiên cứu xây dựng một trang bán sách trên Internet dựa trên công nghệ Active Server Page (ASP )”. - Pdf 33

Nghiên cứu xây dựng trang bán sách trên Internet dựa trên công nghệ ASP
LỜI GIỚI THIỆU
Cùng với tốc độ phát triển và ứng dụng rộng rãi của mạng Internet,
mô hình thương mại điện tử trên Internet là vấn đề thời sự trên thế giới và tại
Việt Nam. Thương mại điện tử trên Internet có nhiều lợi điểm như chi phí rẻ,
tiết kiệm không gian điều khiển, giao dịch nhanh, thị trường rộng lớn, … chắc
chắn sẽ là xu hướng phát triển thương mại trong tương lai. Tuy nhiên, thương
mại điện tử trên Internet có một số yêu cầu cần giải quyết như: vấn đề trao đổi
dữ liệu có cấu trúc giữa các hệ thống, vấn đề xử lý tự động quá trình giao dịch
giữa các hệ thống khác nhau, vấn đề bảo mật dữ liệu … Trong xu hướng đó, em
thực hiện đề tài : “Nghiên cứu xây dựng một trang bán sách trên Internet dựa
trên công nghệ Active Server Page (ASP )”.
Trong đề tài này, em tìm hiểu các thông tin về thương mại điện tử trên
Internet, lập trình ASP - Active Server Page, để giải quyết một số vấn đề về
thương mại điện tử trên Internet.
Về hiện thực chương trình ứng dụng, em xây dựng mô hình:
Mua sách, trao đổi dữ liệu giữa khách hàng và cửa hàng theo mô hình
thương mại điện tử B2C (Business to Consumer) và chỉ chú trọng vào mô hình
bán hàng trên mạng.
Trong phần báo các, em trình bày các phần sau:
Phần 1 : Giới thiệu về thương mại điện tử:
Trình bày các khái niệm tổng quát về Internet, Intarnet, thương mại điện
tử, các thông tin về thương mại điện tử trên Internet, các mô hình hoạt động của
thương mại điện tử trên Internet, mô hình B2C – Business to Consumer, mô
hình B2B – Business to Business, …
Phần 2 : Các công nghệ được áp dụng trong việc xây dựng bài toán
Ngôn ngữ ASP để tạo và chạy các ứng dụng Web động và có tương tác
với Web Server, thông qua việc kết hợp các đối tượng được xây dựng sẵn
(Built-in Object), các thành phần HTML, khả năng hỗ trợ ngôn ngữ script
(VBScript, JScipt), các thành phần ActiveX, ...
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368

trang Web. Các file, các trang được nối kết với nhau thông qua các mối liên kết
là text hoặc hình ảnh được gọi là HyperLink.
Các trang Web có thể chứa văn bản, hình ảnh, phim, âm thanh. Các trang
này có thể được đặt trên một máy tính ở nơi nào đó trên thế giới. Khi ta nối kết
tới Internet ta có thể truy xuất thông tin trên toàn cầu.
HyperLink là các text hay hình ảnh mà được gắn địa chỉ Web trên đó.
Bằng cách click vào hyperlink ta có thể nhảy tới một trang thành phần của một
Web site. Mỗi một Web site có một trang chủ của Web site đó và có một địa chỉ
duy nhất được gọi là Uniform Resource Locator (URL: là một thuật ngữ để chỉ
ra vị trí tài nguyên (resource) trên Internet). URL xác định chính xác tên của
máy tính và đường dẫn tới một trang Web xác định.
2. Lịch sử hình thành mạng Internet
Sự ra đời của mạng máy tính là tiền thân của sự hình thành mạng Internet.
Ta có thể chia sự phát triển của Internet thành ba giai đoạn như sau.
Giai đoạn 1: Tháng 6 năm 1968, một cơ quan bộ quốc phòng Mỹ là cục
dự án nghiên cứu cao cấp (Avanced Research Project Agency - viết tắt là
ARPA) đã xây dựng dự án nối kết các trung tâm nghiên cứu lớn trong toàn liên
bang , mở đầu là bốn cơ sở : Viện nghiên cứu Stadford, Đại học California ở
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Nghiên cứu xây dựng trang bán sách trên Internet dựa trên công nghệ ASP
Los Angeles, Đại học California ở Barbana Và Đại học Utah. Mùa thu năm
1969, bốn trạm đầu tiên được kết nối với nhau thành công đánh dấu sự ra đời
của ARPANET.
Giai đoạn 2: Năm 1987, mạng NSFnet ra đời với tốc độ đường truyền
nhanh hơn. NSFnet cho phép nối 7 mạng vùng mới với trạm siêu máy tính nói
trên .NSF đã đăng ký hợp đồng Xây dựng và quản trị mạng NSFnet với một liên
doanh IBM, MCI và Merit Computer Network.
Giai đoạn 3: Sự xuất hiện của mạng xương sống NSFnet và các mạng
vùng đã thúc đẩy mạnh mẽ sự tăng trưỏng của Internet. Một “xa lộ thông tin “
mới hình thành trong đó có nhiều trường Đai học, viện nghiên cứu đã tham gia

phép người sử dụng đăng ký truy nhập vào các máy từ xa nhưng chỉ giới hạn ở
mức chuyển giao các tệp. Những máy FTP Server được thiết lập cho các dịch vụ
FTP công cộng thường được gọi là FTP nặc danh. Bởi vì mọi người đều có thể
đăng ký truy nhập vào mà không cần chỉ rõ định danh hoặc mật khẩu. Những
FTP Client thì có ở tất cả các máy tính từ máy tính cá nhân tới máy MainFrame.
Dịch vụ FTP là dịch vụ được sử dụng nhiều nhất sau thư điện tử.
3. Các dịch vụ truy nhập từ xa
Dịch vụ này thường được biết đến là Telnet, Finger … Đây là những dịch
vụ có ở hầu hết các hệ điều hành UNIX, vì vậy nó được sử dụng rộng rãi mặc dù
giao diện không mấy thân thiện.
4. Dịch vụ Gopher
Đây là loại hình dịch vụ cho phép người dùng tra cứu thông tin trên mạng
theo chủ đề của thông tin. Các chủ đề thông tin được tổ chức theo kiểu thực đơn
(Menu) có kiến trúc theo kiểu cây nghĩa là bắt đầu từ chủ đề lớn, trong mỗi chủ
đề lớn có các chủ đề con và trong các chủ đề con lại có các chủ đề nhỏ hơn.
Hoạt động của Gopher cũng dựa theo cấu trúc Client/Server
5. Dịch vụ World Wide Web
Đây là dịch vụ mới nhất nhưng lại phát triển mạnh nhất trên Internet. Nó
bao gồm nhiều chức năng tuyệt vời, cộng thêm khả năng tích hợp được hầu hết
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Nghiên cứu xây dựng trang bán sách trên Internet dựa trên công nghệ ASP
các dịch vụ hiện có trên Internet. World Wide Web (thường được gọi tắt là
Web) cho phép ta truy cập được Gopher, Wais, FTP, sử dụng Telnet …
Các phần mềm Web Brower lấy các tài liệu HTML từ Server, dịch tài liệu
này và hiển thị nội dung lên màn hình, người ta gọi là các trang Web. Khi người
sử dụng ấn vào một liên kết trên trang Web, trình Brower sẽ tạo một liên kết tới
đích mà người dùng trỏ đến. Đích này có thể là một trang Web khác. Các tài liệu
HTML bao gồm khả năng liên kết tới rất nhiều dạng thông tin khác nhau như :
văn bản, hình ảnh, âm thanh. Tuy nhiên do khả năng hỗ trợ Multimedia như vậy,
chỉ những người có đường kết nối tốc độ cao vào mạng Internet mới có khả

Thanh toán là khâu quan trọng của quá trình thương mại. Thương mại
điện tử không thể thiếu công cụ thanh toán điện tử thông qua các hệ thống thanh
toán và chuyển tiền điện tử. Đây là các phương tiện tự động chuyển tiền từ tài
khoản này sang tài khoản khác. Thanh toán điện tử sử dụng các máy rút tiền tự
động (ATM – Automatic Teller Machine), các loại thẻ tín dụng – credit card, thẻ
mua hàng, thẻ thông minh – smart card, …
2.3. Mạng nội bộ :
Mạng nội bộ là mạng thông tin của chỉ một tổ chức và có sự liên lạc giữa
các máy tính trong tổ chức đó. Mạng nội bộ có thể là mạng cục bộ (LAN - Local
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Nghiên cứu xây dựng trang bán sách trên Internet dựa trên công nghệ ASP
Area Network), hoặc nối kết các máy tính vùng rộng hơn (WAN – Wide Area
Network).
2.4. Mạng toàn cầu Internet :
Thông qua mạng Internet, các máy tính khắp mọi nơi có thể liên lạc, trao
đổi các thông điệp, các thông tin dữ liệu một cách nhanh chóng. Ngày nay, các
công cụ trên Internet ngày càng phổ biến, tiện lợi, các giao dịch thương mại điện
tử trên Internet sẽ càng phát triển.
II. PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRÊN INTERNET
II. PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRÊN INTERNET
Thương mại điện tử trên Internet đã phát triển qua một số giai đoạn. Giai
đoạn đầu là hình thức tạo các site quảng cáo và liên lạc thương mại thông qua
trao đổi email. Theo đánh giá các chuyên gia thì hiện tại ở Việt Nam mới ở giai
đoạn này. Tiếp theo là hình thức siêu thị điện tử, hiện nay phát triển khá phổ
biến trên Internet. Siêu thị điện tử cho phép khách hàng truy cập vào các trang
Web Site bán hàng để xem hàng, chọn hàng và mua hàng hóa, …; phương thức
thanh toán sử dụng thanh toán điện tử thông qua VisaCard, MasterCard, … Sau
đó là hình thức thương mại điện tử giữa các công ty, các tổ chức lớn với nhau;
hình thức này đang phát triển và sẽ là vấn đề nóng bỏng trên Thế giới. Việc giao
dịch, buôn bán giữa các tổ chức trên mạng Internet gồm các quá trình trao đổi

Process
Pipeline
Buy Site
1. Browse to Store
2. Order Items
ACCEPT
PIPELINE
Hình 1.1: Mô hình hoạt động B2C – Business to Consumer
BÊN MUA
Catalog – các mặt hàng có
BÊN BÁN
Order – đơn đặt hàng
Invoice – hóa đơn đòi thanh toán
Payment Information
Thông tin thanh toán hóa đơn
Hình 1.2: Mô hình hoạt động B2B – Business to Business
Nghiên cứu xây dựng trang bán sách trên Internet dựa trên công nghệ ASP
Bên mua muốn mua hàng thì sẽ gởi yêu cầu cần catalog sang bên bán.
Nhận được yêu cầu catalog, bên bán sẽ gởi catalog sang bên mua. Bên mua xem
các mặt hàng trong catalog, chọn mặt hàng cần mua, tạo ra đơn đặt hàng và gởi
tới bên bán. Khi đó, bên bán sẽ xử lý đơn đặt hàng và gởi hóa đơn đòi thanh
toán cho bên mua …
IV. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
IV. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1. Thương mại điện tử bao gồm xử lý các giao dịch mua bán, chuyển
tiền trên mạng và các tác vụ đó trên một mặt hàng mới là thông tin.
Đa số mọi người hiểu rằng thương mại điện tử là việc mua bán hàng hoá
và dịch vụ trên Internet. Lúc đầu, thương mại điện tử chỉ bao gồm các tác vụ xử
lý giao dịch mua bán và chuyển tiền trên mạng máy tính, nhưng sau đó, khi nói
đến thương mại điện tử, người ta hàm ý bao gồm cả việc mua bán một mặt hàng

Thương Mại Điện Tử là một hệ thống không chỉ bao gồm các giao dịch
chủ yếu nhằm vào các hoạt động mua bán để trực tiếp tạo doanh thu mà cả các
giao dịch hỗ trợ tạo doanh thu như kích thích một nhu cầu về hàng hoá và dịch
vụ, cung cấp hỗ trợ bán hàng và dịch vụ khách hàng, tạo môi trường truyền
thông thuận lợi giữa các bên kinh doanh.
VI. ƯU ĐIỂM CỦA TH
VI. ƯU ĐIỂM CỦA TH
ƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
ƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1. Thương Mại Điện Tử đơn giản hoá truyền thông và thay đổi các
mối quan hệ
So sánh cách thức TMTT và TMĐT được dùng để đặt mua hàng cụ thể là
tủ tài liệu chỉ là một ví dụ đơn giản, không phức tạp của thương mại. Khi xem
xét các ứng dụng khác nhau có thể được dùng làm việc trên thông tin số như
phân tích trong phần trước, chúng ta thấy rằng Thương Mại Điện Tử không chỉ
đơn giản là phân phối thông tin và hàng hoá mà nó còn có thể làm thay đổi các
môi quan hệ giữa chúng. Điều đó dẫn tới các cơ hội mới
2. Tính trực tuyến giúp khách hàng dễ dàng và có nhiều lựa chọn
mua hàng hơn
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Nghiên cứu xây dựng trang bán sách trên Internet dựa trên công nghệ ASP
Quảng cáo điện tử cung cấp cho khách hàng những thông tin chính xác về
vị trí cửa hàng, thời gian và cách kinh doanh của cửa hàng, thậm chí cả các đặc
điểm chính của hàng hoá. Nếu khách hàng không muốn tận mắt xem hàng trước
khi mua, quá trình mua bán chỉ có các tác vụ đặt mua và thanh toán điện tử xảy
ra .
3. Lực lượng trung gian mới
Mặc dù tất cả đều nói tới xoá bỏ trung gian, sự gia tăng tác động trực tiếp
giữa người mua và người bán là xu thế bất lợi đối với môi giới trung gian,
thương mại điện tử vẫn sẽ mở ra các cơ hội mới cho các loại hình môi giới trung

không cần Internet nhưng công nghệ WEB sẽ chả là gì nếu không có bộ xương
sống Internet.
2. WEB và ứng dụng
Ứng dụng đầu tiên của WEB là thay đổi cách biểu diễn thông thường
bằng văn bản toàn chữ nhàm chán sang kiểu thông tin sinh động có hình ảnh, âm
thanh. Với một bộ duyệt có trang bị các tiện ích đồ hoạ trên máy tính, ta dễ xử lý
các thông tin có kèm theo hình ảnh như đồ thị, sơ đồ, các bức ảnh chụp và các
thông tin đa phương tiện khác.
Có WEB ta cũng dễ đặt hàng qua mạng. Ta có thể nhìn thấy mặt hàng ta
muốn trên màn hình và nếu ưng ý chỉ cần vài thao tác nhỏ có thể soạn ngay một
bức thư đặt hàng kèm theo và yêu cầu lập tức được thỏa mãn. Ý tưởng của xa lộ
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Nghiên cứu xây dựng trang bán sách trên Internet dựa trên công nghệ ASP
thông tin là mua hàng tại gia ngay từ bây giờ đã có thể thực hiện được. WEB
cũng giúp cho quan hệ khách hàng và chủ hàng thuận tiện hơn thông qua giao
tiếp trên mạng.
Trong tương lai gần, WEB giúp việc xuất bản các tạp chí, sách báo một
cách dễ dàng, nhanh chóng vì có các thư viện ảnh, tài liệu khổng lồ trên Internet.
Người ta cũng có thể giải trí trực tiếp trên mạng. Việc đưa tin trên mạng sẽ vô
cùng thuận tiện. Các hãng lớn như CNN, Reuters đều dùng công nghệ WEB để
phổ biến tin. Thông thường người đọc chỉ quan tâm đến một số tin nhất định.
WEB sẽ giúp ta tóm lược các tin chính và thông qua siêu văn bản ta có thể truy
nhập đến từng tin chi tiết. Ngoài ra WEB cho ta công cụ tuyệt vời trong giáo
dục, hội họp từ xa...
II. CÁC CÔNG NGHỆ WEB
II. CÁC CÔNG NGHỆ WEB
1. HTML
HTML là ngôn ngữ định dạng, hay đánh dấu (mark-up). Thực tế, HTML
được viết tắt từ HyperText Markup Language. Một tập tin văn bản được đánh
dấu bằng các thẻ (tag) HTML cho phép người ta đọc được chúng trên máy tính

Nghiên cứu xây dựng trang bán sách trên Internet dựa trên công nghệ ASP
thức của các phần tử trong trang Web, tính năng mới được cả IE 4.0 lẫn
Communicator 4.0 hỗ trợ.
CSS là khuôn mẫu (template) cho phép định kiểu thức một lần cho các
phần tử HTML nhưng áp dụng cho tất cả các phiên thể (instance) của đối tượng
đó mỗi khi chúng hiện diện trong trang Web. Thay đổi trong CSS sẽ làm thay
đổi trong toàn Web site, kết quả là nhanh chóng tạo được site với các trang Web
nhất quán.
4. XML
Ngôn ngữ đánh dấu mở rộng Extensible Markup Language (XML) là một
đặc tả cho phép gán thẻ cho văn bản trong tài liệu Web. Nó không mô tả hình
thức hiển thị của văn bản như chức năng và ngôn ngữ lập trình trên Web là
HTML thực hiện, chức năng của nó là gán ý nghĩa cho văn bản có trong trang
Web.
Hiện tại, không có hệ thống quy tắc quản lý các “gói” dữ liệu Web hay
định ra phương pháp vận hành dữ liệu này. Kết quả là Internet trở thành bộ sưu
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Nghiên cứu xây dựng trang bán sách trên Internet dựa trên công nghệ ASP
tập khổng lồ của HTML, JavaScript hay Java trên máy Client và “mớ” ngôn ngữ
kịch bản và ngôn ngữ biên dịch trên Server.
XML giải quyết sự lộn xộn này bằng cách tổ chức tất cả các ngôn ngữ lập
trình theo một cấu trúc thông nhất. Trước đây, dữ liệu được lưu trưc không theo
thứ tự trong các trang HTML, nhưng giờ đây chúng được đặt trong các trang
XML theo cấu trúc chặt chẽ. Cả hai trình duyệt của Netscape và Microsoft phiên
bản 5.x đều thông hiểu XML và quản lý hiệu quả dữ liệu này.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Nghiên cứu xây dựng trang bán sách trên Internet dựa trên công nghệ ASP
CH NG IIƯƠ
MICROSOFT WEB SERVER VÀ CÁC M C CÔNG NGHỨ Ệ
I. INTERNET INFORMATION SERVER (IIS)

Cú pháp URL là một chuỗi văn bản tuần tự gồm có : Protocol, Domain
Name, và đường dẫn (Path) tới thông tin yêu cầu. Protocol là chuẩn truyền thông
dùng để truyền tải thông tin như là : HTTP, FTP và Gopher. Domain Name
chính là Domain Name System (DNS) của máy tính chứa thông tin. Path là
đường dẫn tới thông tin yêu cầu trên máy tính. Ví dụ :
Phương thức Tên Domain đường dẫn (Path)
Http:// Www.microsoft.com /backoffice
Https://
(secure HTTP)
Www.company.com /catalog/orders.htm
Gopher:// Gopher.college.edu /research/astronomy/index.htm
ftp:// Orion.bureau.gov /stars/alpha quadrant/starlist.txt
Một URL cũng có thể chứa thông tin mà Web server cần phải xử lý trước
khi trả lại một trang, dữ liệu trong URL được gắn thêm vào cuối đường dẫn.
Web server gửi dữ liệu này tới một chương trình hay một Scirpt để xử lý và trả
lại kết quả trong một trang web.
Web server đáp ứng yêu cầu của Web browser bằng cách trả lại một trang
HTML. Trang trả lại có thể là trang HTML tĩnh, trang HTML động hoặc là
trang trong danh sách thư mục.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Nghiên cứu xây dựng trang bán sách trên Internet dựa trên công nghệ ASP
II. S TI N TRI N C A WEB Ự Ế Ể Ủ
II. S TI N TRI N C A WEB Ự Ế Ể Ủ
Trang HTML túnh -> HTML o ng -> trang ASP.ủ ọ
1. Nội dung liên kết tĩnh
Web ban đầu dựa trên nội dung liên kết tĩnh và nhiều site hiện nay vẫn
còn duy trì tính chất tĩnh. Để thay đổi nội dung trang Web mà Web Server gửi
đến Browser, ta phải edit trang HTML bằng tay.
Trong mô hình tĩnh, Browser sử dụng HTTP - Hypertext Transport
Protocol để yêu cầu một file HTML từ Web Server. Web Server nhận yêu cầu

Script thích hợp, các thành phần ActiveX Server.
III. CÁC MỨC CÔNG NGHỆ
III. CÁC MỨC CÔNG NGHỆ
1. CGI (Common Gateway Interface)
CGI (viết tắt của Common Gateway Interface) : là chuẩn để kết nối
chương trình ứng dụng với Web server. Dữ liệu từ bảng biểu do người dùng
điền vào trên trang Web được chuyển đến cho ứng dụng CGI, ứng dụng này sau
đó sẽ gửi trả nội dung Web được tạo ra theo yêu cầu ngược về cho trình duyệt
(browser) của người dùng.
Trong khi người đọc chỉ cần nhìn kết quả việc đăng ký của họ hoặc trả lời
những câu hỏi được đưa ra, có nhiều công đoạn xảy ra, những công đoạn đó
được tóm tắt như sau :
• Trình duyệt của người đọc sẽ chuyển dữ liệu cần nhập vào đến
Server. Server chuyển dữ liệu nhập đến một CGI Script.
• CGI Script xử lý dữ liệu nhập, chuyển dữ liệu này đến một trình
ứng dụng khác nếu cần thiết, sau đó gởi dữ liệu xuất ra Web Server .
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Nghiên cứu xây dựng trang bán sách trên Internet dựa trên công nghệ ASP
• Web Server chuyển dữ liệu xuất trở ra trình duyệt của người đọc .
2. ISAPI (Internet Server Application Programing Interface)
ISAPI (Internet Server Application Programing Interface) : ra đời sau
trong lĩnh vực giao diện động, là một API mở được phát triển bởi Process
Software and Microsoft. API này được thiết kế để tối ưu hiệu suất của những
ứng dụng sinh ra trang động trên server Intranet/Internet.
ISAPI cung cấp một tập hợp những giao diện cho phép ta tạo ra
extensions và filters cho MSIIS (Microsoft Interner Information Server). IIS là
web server đầu tiên hỗ trợ cho mô hình API này, tuy nhiên lập trình ISAPI
không chỉ có ở IIS, hoặc đối với server chạy WinNT/Windows9x, mà còn được
hỗ trợ ở nhiều server khác.
Có hai loại ISAPI là ISAPI Extension và ISAPI Filter, cả hai có thể chạy

Có khả năng mở rộng các thành phần ActiveX server (ActiveX server
components).
Môi trường của ASP sẽ được cài đặt trên Server cùng với Web server.
Một ứng dụng viết bằng ASP là một file hay nhiều file văn bản có phần tên mở
rộng là.Asp, các file này được đặt trong một thư mục ảo (Virtual Dirrectory) của
Web Server.
Các ứng dụng ASP dễ tạo vì ta dùng các ASP script để viết các ứng dụng.
Khi tạo các script của ASP ta có thể dùng bất kỳ một ngôn ngữ script nào, chỉ
cần có scripting engine tương ứng của ngôn ngữ đó mà thôi.
2.2. Các ưu điểm của ASP :
Các ứng dụng Active Server Pages được tích hợp hoàn hảo vào trong các
trang HTML. Điểm mạnh của ASP được thể hiện qua 3 điểm sau :
• Khả năng dễ tiếp cận : Những người đã có kinh nghiệm trong việc thiết
kế các trang HTML khi chuyển sang thiết kế các trang ASP rất dễ dàng. Người
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Nghiên cứu xây dựng trang bán sách trên Internet dựa trên công nghệ ASP
phát triển các ứng dụng ASP có thể lựa chọn các ngôn ngữ script (Jscript,
VBScript) phù hợp với chuẩn ActiveX Scripting.
• Tính mở : Thể hiện qua việc có thể tuỳ ý chọn các ngôn ngữ script mà
các chức năng chính được hỗ trợ bởi ASP và có thể được mở rộng bởi các tổ
hợp ActiveX Server.
• Không cần biên dịch : Các ứng dụng của ASP xây dựng trên các ngôn
ngữ kịch bản (language scripting) được thông dịch (interpret) trực tiếp trong khi
chạy không cần phải biên dịch trước.
II. TRANG ASP
II. TRANG ASP
1. Giới thiệu trang ASP
Là trang Web trong đó có kết hợp của nhiều thành phần như HTML -
HyperText Markup Language (ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản), thành phần
ActiveX và các lệnh ASP Script. Nhìn chung, trang ASP giống như trang HTML

Web
Server
Request trang ASP
Response trang ASP
Database
Processing
Nghiên cứu xây dựng trang bán sách trên Internet dựa trên công nghệ ASP
5. Cách tạo trang ASP
File ASP có phần mở rộng là *.asp. Ta có thể đổi 1 file HTML bằng cách
đổi phần mở rộng là .htm hoặc .html thành .asp để chạy chương trình.
6. Cách sử dụng các lệnh ASP Script trong trang ASP
ASP Script đặt trong cặp kí hiệu: <% . . . %> hoặc
ASP Script đặt giữa tag:
<SCRIPT RUNAT="SERVER" LANGUAGE = language>
. .
</SCRIPT>
III. WEB SERVER CHO ASP
III. WEB SERVER CHO ASP
• Microsoft Internet Information Server (IIS) trên Windows NT
Server
• Microsoft Peer Web Server trên Windows NT Workstation
• Microsoft Personal Web Server trên Windows 9x
IV. MÔ HÌNH ỨNG DỤNG CƠ SỞ DỮ LIỆU TRÊN WEB
IV. MÔ HÌNH ỨNG DỤNG CƠ SỞ DỮ LIỆU TRÊN WEB
Gồm có 3 bộ phận chính, các bộ phận hoạt động dựa trên sơ đồ khối sau:
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368

Trích đoạn ODBC (OPEN DATABASE CONNECTIVITY)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status