LẬP KẾ HOẠCH ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀO VIỆC
QUẢNG BÁ THƯƠNG HIỆU CHO NGÀNH HÀNG GẠO XUẤT KHẨU
CỦA CÔNG TY ANGIMEX
Thương mại điện tử được phân chia thành 3 cấp độ là thương mại thông tin, thương mại giao
dịch và thương mại tích hợp. Như đã phân tích ở chương 4, hiện tại ANGIMEX mới bước vào cấp
độ 1- thương mại thông tin, website chỉ mới được thiết kế, cung cấp các thông tin cơ bản nhất và
còn nhiều mặt cần hoàn chỉnh để thật sự đạt được cấp độ 1. Theo chiến lược của Công ty,
ANGIMEX sẽ triển khai ứng dụng thương mại điện tử cấp độ 2 vào năm 2010, vì vậy kế hoạch
ứng dụng thương mại điện tử vào việc quảng bá thương hiệu cần phải đạt được mục tiêu là hoàn
thành cấp độ 1 và chuẩn bị chuyển sang cấp độ 2 từ tháng 10 năm 2008 đến năm 2010.
5.1. Xác định thị trường mục tiêu cho việc ứng dụng thương mại điện tử trong quảng bá
thương hiệu gạo Angimex
Công ty đã phân khúc thị trường theo hành vi tiêu dùng gạo như sau:
• Khu vực Châu Á: Tại thị trường này, Công ty có một số khách hàng truyền thống là Indonesia,
Malaysia và Philippines
Indonesia: Đặc điểm của thị trường này là ưa chuộng gạo loại hạt ôvan, được đánh
bóng, màu sắc trắng, trong, mới xay xát, có mùi thơm, dẻo, tỷ lệ tấm ít thường không
quá 20%
Malaysia: Tầng lớp Hoa kiều thích gạo trắng, hạt dài, cấp loại tốt, tỷ lệ tấm thấp. Tầng
lớp dân nghèo thường dùng hạt dài, tỷ lệ tấm cao từ 15% đến 25%. Tiêu dùng gạo nếp
thường xuyên chiếm khoảng 5% lượng nhập khẩu vì hàng năm có rất nhiều ngày lễ cổ
truyền.
Singapore: Người dân nước này thích gạo trắng, hạt dài có đánh bóng kỹ, tỷ lệ tấm
thường là 5%, đòi hỏi chất lượng cao. Loại gạo thơm cũng được ưu chuộng với mức
giá cao.
Philippines: Thị trường này ưa chuộng hạt gạo dài hoặc trung bình nhưng phải được
đánh bóng kỹ, màu sắc trắng trong và có mùi thơm, không yêu cầu dẻo.
Iran: Quốc gia này ưa thích gạo trắng, hạt dài, tỷ lệ tấm thấp từ 5% đến 15%, yêu cầu
số hạt thóc lẫn không quá 8 hạt trong 1 kg gạo.
HongKong: Người dân thích gạo trắng, hạt dài chất lượng cao, xay xát kỹ và đánh
bóng. Các loại gạo thơm đặc sản của Việt Nam rất ưa chuộng tại đây.
1
Tháng 2/2007 So T1/2007 (%)
Chủng loại TTXK Chính
Lượng
(tấn)
Trị giá
USD
Lượng
(tấn)
Trị giá
USD
Gạo 15% tấm Indonesia. Singapore 162,538 50,401,383 322.18 338.10
Gạo nếp 10% tấm
Indonesia. Singapore.
Philippines. Đài Loan
21,812 9,628,356 259.82 258.49
Gạo 25% tấm Philippines 7,000 2,162,650 -32.76 -32.65
Gạo 5% tấm
Philippines.
Indonesia. Singapore.
USA. Bungari
1,598 571,754 552.24 613.35
Gạo thơm 5% tấm
Singapore. Guam.
Hong Kong. Canada
197 79,747 -14.35 -6.24
Gạo 10% tấm Singapore 169 49,142 238.00 332.97
Gạo 3% tấm New Zealand. Gana 72 26,400
Gạo nếp 5% tấm Singapore 50 24,750 -91.12 -89.64
1 Nguồn: Báo cáo thường niên Ngành hàng lúa gạo Việt Nam 2007 và Triển vọng, trang 124
Từ các thị trường này, ta phân khúc khách hàng là những công ty, tập đoàn kinh doanh xuất
nhập khẩu lương thực thực phẩm. Công ty giao dịch với những khách hàng này dưới hình thức ký
hợp đồng, thường là ngắn hạn và sản phẩm được dán nhãn của nhà nhập khẩu nên thương hiệu của
Công ty chưa được biết đến trên thị trường tiêu thụ.
Về việc thanh toán, giá gạo ký hợp đồng chủ yếu là giá FOB và thanh toán bằng đồng USD,
nên việc giao dịch tương đối thuận lợi. Hình thức thanh toán là T/T, D/P, D/A, kết hợp D/P – T/T.
Phần lớn những khách hàng này do ta tìm đến thông qua các kỳ hội chợ, triển lãm, các buổi
báo cáo, các mối quan hệ quen biết. Từ đó, Công ty chào hàng qua e-mai, fax, điện thoại. Còn
khách hàng thường tìm đến Công ty bằng những thông tin do Hiệp hội lương thực gạo Việt Nam
cung cấp.
Với sự hỗ trợ thương mại điện tử, đa phần các nhà nhập khẩu tìm thông tin đối tác thông qua
các cổng thông tin (portal), sàn giao dịch điện tử, trang vàng (yellow pages), trang trắng (white
2 Tác giả tổng hợp từ Báo cáo Công nghệ thông tin toàn cầu 2007-2008 của Diễn dàn Kinh tế Thế giới, Báo cáo Xếp
hạng chỉ số e_Readiness năm 2007 của Cơ quan nghiên cứu ETU và Báo cáo Đo lường Xã hội thông tin nam9 2007
của Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU) [trực tuyến] (http://www.itu.int/ITU-D/ict/publications/ict-
oi/2007/index.html)
pages)… Những khách hàng này cần thông tin về sản phẩm, giá cả, số lượng cung cấp, phương
thức thanh toán, hình thức vận chuyển. Đồng thời, vấn đề về chứng từ, chính sách, pháp luật, tranh
chấp cũng được họ lưu ý đến. Một vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến quyết định của khách hàng,
đó là uy tín, hình ảnh, thương hiệu Công ty. Với vấn đề này, khách hàng có thể thu thập thông qua
kinh nghiệm kinh doanh, các kênh truyền thông.
Vậy thông qua những phân tích trên, ta chọn thị trường gạo chất lượng cao, gạo thơm và nếp
để ứng dụng thương mại điện tử trong việc quảng bá thương hiệu ANGIMEX cho ngành hàng gạo
xuất khẩu, với phân khúc khách hàng là những công ty, tập đoàn kinh doanh xuất nhập khẩu lương
thực thực phẩm của hai thị trường Singapore và Indonesia.
Đối với khách hàng mục tiêu này, điều họ quan tâm tham gia và kinh doanh xuất nhập khẩu là
yếu tố chính trị và môi trường xã hội, nhất là đối với những doanh nghiệp Singapore. Do đó,
những thị trường xuất khẩu chủ yếu của Singapore là những thị trường truyền thống hoặc là những
thị trường được giới thiệu bởi các đối tác tin cậy. Mong muốn chung của các khách hàng này là có
thể nhanh chóng tìm được những thông tin chính xác về sản phẩm – dịch vụ, thị trường, hoạt động
Trực tiếp Cá nhân hóa
Chiêu thị truyền thống tổng hợp
Tiếp cận tổng hợp
Cá nhân
Rộng khắp
Đối tượng chiêu thị
Ngoại tuyến Trực tuyến
Cách thức truyền thông
một thông điệp cần được thiết kế phải vừa thể hiện được uy tín, hình ảnh của Công ty, vừa mang
tính giản đơn, vì là những nhà nhập khẩu tìm kiếm thông tin, cần những tín hiệu thông tin đơn
giản, rõ ràng để thuận tiện cho việc ra quyết định lựa chọn. Từ những phân tích trên, ta có insight
cho phân khúc khách hàng mục tiêu của kế hoạch ứng dụng thương mại điện tử trong việc quảng
bá ngành hàng gạo xuất khẩu như sau:
Uy tín là tiêu chí quan trọng khi lựa chọn một đối tác xuất nhập khẩu
Từ insight này ta thiết kế ra một thông điệp giản đơn, ngắn gọn, súc tích nhằm thu hút khách
hàng mục tiêu:
ANGIMEX – Nhà xuất khẩu gạo uy tín hàng đầu Việt Nam
(ANGIMEX – The most prestigious rice exporter of Viet Nam)
Với bề dày kinh nghiệm trong kinh doanh xuất nhập khẩu, Angimex được bầu chọn là một
trong những doanh nghiệp xuất khẩu uy tín trong bốn năm liền. Giải thưởng này được xét chọn
theo các tiêu chí: xuất khẩu trực tiếp, có lãi trong 2 năm liên tiếp; không vi phạm pháp luật, không
bị đối tác trong nước và nước ngoài khiếu kiện về kỹ thuật thương mại, thương phẩm; thực hiện
nghiêm túc hợp đồng xuất khẩu, không làm ảnh hưởng đến sự phát triển xuất khẩu, đến uy tín của
giới doanh nhân Việt Nam và có kim ngạch xuất khẩu năm trước của các mặt hàng xuất khẩu đạt
mức tối thiểu theo quy định. Đây cũng chính là những ưu điểm tạo nên uy tín cho Angimex.
5.3. Lập kế hoạch ứng dụng thương mại điện tử vào việc quảng bá thương hiệu cho ngành
hàng gạo xuất khẩu của công ty Angimex
Trước khi chọn lọc những công cụ truyền thông tiếp thị trực tuyến thích hợp, ta cần xác định
cách thức truyền thông và đối tượng chiêu thị. Để có thể truyền hình ảnh, thương hiệu của Công ty
ta cần phải tận dụng cả hai cách thức truyền thông là ngoại tuyến và trực tuyến. Trong việc ứng