HỘI THẢO CÁC TRƯỜNG CHUYÊN KHU VỰC
DUYÊN HẢI VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ MÔN ĐỊA LÍ
TRƯỜNG THPT CHUYÊN LƯƠNG VĂN TỤY - NINH BÌNH
ĐỀ TÀI: SÔNG NGÒI VÀ CÁC DẠNG BÀI TẬP TRONG
THI HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA
Người viết : Phạm Thị Thúy
Tổ
: Sử - Địa
Ninh Bình, tháng 8 năm 2015
1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
4
1. Lí do chọn đề tài
4
2. Mục đích của đề tài
4
8
1.3 Các dòng chảy sông ngòi
9
1.4 Các đại lượng dòng chảy sông ngòi
10
1.5 Chế độ dòng chảy của sông ngòi
10
1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến chế độ nước sông
11
1.6.1 Hình thái sông ngòi và diện tích lưu vực
11
1.6.2 Chế độ mưa, băng tuyết, nước ngầm
12
1.6.3 Địa thế, thực vật, hồ đầm
12
16
1.9.1 Sông Nin
16
1.9.2 Sông A - ma - dôn
16
2
1.9.3 Sông Von - ga
17
1.9.4 Sông I - ê - nit - xây
17
1.10 Các đặc điểm cơ bản của sông ngòi Việt Nam
17
1.10.1 Đặc điểm chung
17
1.10.2 Sự phân hóa sông ngòi
2.1.6 Phương pháp thực địa
23
2.2 Phương tiện dạy học
24
2.2.1 Các bản đồ trong tập bản đồ Địa lí tự nhiên Đại cương, tập bản đồ
thế giới và các Châu lục, Atlat địa lí Việt Nam
24
2.2.2 Các sơ đồ, biểu đồ, lát cắt về sông ngòi
24
2.2.3 Các tranh ảnh, video về sông ngòi
25
CHƯƠNG 3: CÁC DẠNG BÀI TẬP VỀ SÔNG NGÒI TRONG THI
HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA
26
3.1 Câu hỏi, bài tập gắn với Tập bản đồ và Atlat
26
3.2 Câu hỏi phân theo yêu cầu của câu hỏi (trình bày, chứng minh, giải 30
thích, phân tích, so sánh)
3.3 Câu hỏi, bài tập gắn với bảng số liệu
thành phần tự nhiên khác.
Đối với học sinh và giáo viên các trường chuyên, ngoài việc trang bị được
các kiến thức cơ bản về học phần này, còn yêu cầu hiểu sâu sắc và rèn luyện các kỹ
năng có liên quan, giải các bài tập về sông ngòi. Trong điều kiện trên toàn quốc
chưa có bộ sách giáo khoa chuẩn cho học sinh trường chuyên, lượng kiến thức cho
nội dung này được đề cập rất ít trong tài liệu sách giáo khoa. Vì vậy, việc học tập
và giảng dạy học phần này gây không ít khó khăn cho các thầy cô và học sinh
chuyên, đặc biệt trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi. Trong khi đó, nội dung sông
ngòi lại là một trong những nội dung có vị trí quan trọng, thường xuất hiện trong
các kỳ thi chọn học sinh giỏi các cấp.
Vì thế chuyên đề “Sông ngòi và các dạng bài tập trong thi học sinh giỏi
quốc gia” nhằm mục đích hệ thống hóa các nội dung kiến thức cơ bản về sông
ngòi, mối quan hệ của sông ngòi với các yếu tố tự nhiên khác và ảnh hưởng của nó
đến sự phát triển kinh tế xã hội, hệ thống hóa các dạng bài tập liên quan. Chuyên
đề này cũng đề xuất một số các phương pháp, phương tiện nhằm giúp việc dạy và
học của giáo viên và học sinh đạt hiệu quả cao hơn.
2. Mục đích của đề tài
Đề tài nhằm cung cấp cho giáo viên và học sinh những kiến thức, kĩ năng
cơ bản trong học và làm bài tập về chuyên đề sông ngòi. Mục đích đề tài là giúp
người đọc hiểu sâu sắc hơn về sông ngòi, mối quan hệ giữa sông ngòi với các yếu
tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, hệ thống hóa các dạng bài tập của nội dung này. Đây
4
có thể coi là nguồn tài liệu khá hữu ích đối với giáo viên và học sinh trong giảng
dạy và học tập môn Địa lí, đặc biệt trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi.
Trong đề tài cũng nêu một số phương pháp dạy học tích cực dựa trên hệ
thống tư liệu dạy học trực quan và phong phú nhằm giúp giáo viên có thể giảng
dạy nội dung này một cách tốt hơn, nâng cao hiệu quả dạy và học, kích thích khả
cấp 2…Cứ như vậy cho tới phụ lưu cuối cùng là dòng chảy đổ trực tiếp vào dòng
chính. Các phụ lưu thường tồn tại ở thượng lưu và trung lưu. Ngược lại, ở phía hạ
lưu, lại có những dòng chảy chia bớt nước cho dòng chính gọi là chi lưu. Đối với
các chi lưu, người ta cũng tiến hành phân cấp. Dòng chảy nào trực tiếp chảy ra từ
dòng chính gọi là chi lưu cấp 1, dòng chảy nào từ chi lưu cấp 1 chảy ra gọi là chi
6
lưu cấp 2…và cứ như vậy cho tới chi lưu cuối cùng. Số lượng chi lưu bao giờ cũng
ít hơn các phụ lưu. Ví dụ như, trong hệ thống sông Hồng: Sông Hồng là dòng
chính; các sông: Đà, Lô, Chảy… là các phụ lưu, các sông: Đáy, Trà Lí, Ninh Cơ…
là các chi lưu.
1.2.2 Hình dạng lưới sông
Hình dạng lưới sông là sự kết hợp của dòng chính, các phụ lưu và các chi
lưu. Hình dạng lưới sông cũng ảnh hưởng nhất định đến quá trình tập trung nước
và đặc điểm lũ trên sông. Có 3 dạng lưới sông cơ bản là:
- Dạng lông chim: Như sông Mekong, sông Ba…
- Dạng song song: Như sông Mã, sông Chu, …
- Dạng nan quạt: Như hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình.
Các hệ thống sông ngòi thường tách biệt nhau, song cũng có khi kết hợp với
nhau để tạo thành một mạng lưới sông ngòi: Các hệ thống sông: Sông Hồng - Thái
Bình tạo thành mạng lưới sông ngòi Bắc Bộ; các hệ thống sông Cửu Long - Đồng
Nai họp thành mạng lưới sông ngòi Nam Bộ
Sự phát triển của hệ thống sông ngòi, nhất là chiều dài dòng chảy, thường
được biểu thị qua mật độ sông ngòi. Đại lượng này được biểu thị bằng công thức
sau:
Trong đó: ∑l là tổng chiều dài các sông, F là diện tích lưu vực.
Nói chung, ở những nơi mưa nhiều, đất đá ít thấm, mật độ sông ngòi sẽ dày
đặc hơn. Mật độ sông ngòi ở nước ta vào khoảng 1km/1km 2. Mật độ sông ngòi
cũng ảnh hưởng quan trọng đến chế độ nước sông. Nơi có mật độ lớn, chế độ nước
đổi theo. Lòng sông ứng với lượng nước nhỏ nhất về mùa cạn gọi là lòng nhỏ hay
lòng sông gốc; còn lòng mở rộng ứng với lượng nước lớn nhất trong mùa lũ gọi là
lòng lớn hay lòng cả. Lòng sông ứng với lượng nước bình thường nào đó gọi là
lòng sông hoạt động hay lòng thường xuyên.
Hình dạng của lòng sông cũng khá phức tạp. Lòng sông rất ít khi thẳng mà
thường uốn khúc quanh co.
1.2.5 Mặt cắt ngang sông
Mặt cắt ngang sông (hay tiết diện ngang) là phần của mặt phẳng thẳng góc
với dòng chảy, giới hạn bởi đáy, 2 bờ và mặt nước sông. Mặt cắt ngang cũng như
lòng sông, không cố định mà luôn thay đổi theo lượng nước trong sông. Do đó,
8
ứng với các lượng nước ta có các mặt cắt ngang: cực tiểu, cực đại, trung bình hay
tức thời nào đó.
Trong mặt cắt ngang, phần có nước chảy qua có tốc độ lớn hơn độ nhậy của
lưu tốc kế gọi là tiết diện hoạt động, phần còn lại là tiết diện tù. Tiết diện tù tăng
khi độ gồ ghề của đáy và bờ sông tăng lên. Ở các miền vĩ độ cao,về mùa đông lớp
nước trên mặt thường bị đóng băng, phần có nước chảy gọi là mặt cắt nước. Mặt
cắt sông thường có hình dạng không cân đối do các điều kiện: Địa chất, địa mạo và
thủy lực của dòng nước. Tại các khúc uốn, trắc diện ngang mất cân đối hoàn toàn.
Phía bờ lõm sâu và dốc đứng, còn phía bờ lồi lại nông và thoải hơn nhiều.
1.3 Các dòng chảy sông ngòi
Trong các đặc trưng của sông ngòi, quan trọng nhất là các đặc trưng thủy
văn. Các đặc trưng này được thể hiện qua các dòng chảy sông ngòi: Nước, cát bùn,
ion…Trong các dòng chảy này, dòng chảy nước là quan trọng nhất, quy định sự
tồn tại và phát triển của sông ngòi. Đây là dòng chảy biểu thị cho bản chất của
sông ngòi, đồng thời lại có ảnh hưởng lớn tới các dòng chảy khác.
- Dòng chảy nước: Dòng chảy nước thường được gọi là dòng chảy, bao gồm các
nhóm phân tử nước. Đây là dòng chảy cơ bản vì biểu thị cho sự tồn tại và phát
Năm thủy văn có thời gian bằng năm lịch, tuy nhiên thời gian bắt đầu và kết
thúc lại khác nhau. Năm thủy văn bắt đầu vào đầu mùa lũ và kết thúc vào cuối mùa
cạn. Trong chu kì năm thủy văn, tùy theo lượng nước tập trung cung cấp cho sông
ngòi mà hình thành các mùa thủy văn khác nhau:
- Mùa lũ: Thời gian sông ngòi được cung cấp nhiều nước, trong đó chủ yếu là
nguồn nước trên mặt nên lúc đó sông đầy ắp nước, lòng sông mở rộng tới lòng cả
và có thể gây lụt lội. Mùa lũ thường xảy ra vào mùa hạ.
- Mùa cạn: Khi sông ngòi được cung cấp ít nước, cơ bản là nước ngầm sâu nên
lòng sông thu hẹp, trong lòng sông gốc, để lộ ra các soi, bãi ven sông. Mùa cạn
thường xảy ra vào mùa đông lạnh và khô, đặc biệt lắm mới xảy ra vào mùa hạ.
- Mùa kiệt: Là lúc sông được cung cấp rất ít nước và ổn định.
Sự tồn tại và phát triển của các mùa thủy văn là cơ sở để xác định các loại
chế độ nước sông:
10
- Chế độ nước sông đơn giản: Trong năm thủy văn nếu chỉ bao gồm một mùa lũ
và một mùa cạn kế tiếp nhau. Loại này khá phổ biến trên thế giới cũng như ở nước
ta.
- Chế độ nước phức tạp: Trong năm thủy văn nếu tồn tại hai (hay hơn nữa) mùa
lũ và hai (hay hơn nữa) mùa cạn xen kẽ nhau.
- Chế độ nước khá phức tạp: Chế độ nước đơn giản mà trong mùa cạn lại có
thêm một mùa lũ tiểu mãn.
Ngoài ra, đối với chế độ nước sông, cũng cần xác định cường độ lũ. Trước
hết, là xác định thời đoạn lũ, tức là số tháng trong mùa lũ, sau đó là lượng nước lũ.
Tiếp theo là xác định lượng nước trung bình của các tháng lũ và tháng lũ lớn nhất.
Đồng thời cũng xác định đặc điểm cạn với các đặc trưng: thời đoạn cạn, lượng
nước mùa cạn, lượng nước trung bình của các tháng cạn và tháng kiệt trong năm.
1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến chế độ nước sông.
hình cao của khu vực nhiệt đới. Ở vùng này nhịp điệu sông ngòi phụ thuộc vào chế
độ băng tuyết tan. Lũ vào mùa xuân, mùa đông sông đóng băng
VD: Sông I - ê - nit - xây của Liên Bang Nga nằm ở vùng ôn đới lạnh, lũ lớn
vào mùa xuân gây lụt trên diện rộng.
- Nước ngầm: Ở những nơi đất đá thấm nước, dưới đất xuất hiện dòng chảy
ngầm theo địa hình, đến một lúc nào đó sẽ lộ ra trên mặt và cung cấp cho sông
ngòi dưới dạng suối ngầm. Như vậy, nước ngầm cung cấp nước cho sông ngòi chủ
yếu vào mùa khô làm cho sông có nước quanh năm.
1.6.3 Địa thế, thực vật, hồ đầm
- Địa thế: Ảnh hưởng tới tốc độ của dòng chảy. ở miền núi độ dốc lớn, nước
sông chảy xiết, nhiều thác ghềnh. Ở đồng bằng địa hình tương đối bằng phẳng
nước sông chảy chậm, điều hòa.
- Thực vật: Có vai trò điều hòa chế độ nước sông. Khi mưa xuống một phần
được giữ lại ở tán cây, một phần theo thân cây và rễ cây thấm xuống đất, một phần
chảy tràn trên mặt.
VD: Ở những nơi rừng đầu nguồn bị phá thường có lũ lớn.
- Hồ đầm: Ở những khu vực hồ đầm thông với mực nước sông, hồ đầm có vai
trò điều hòa chế độ nước sông:
+ Khi nước sông lớn: Nước sông chảy ra hồ
+ Khi nước sông cạn: Nước ở hồ chảy vào sông làm sông đỡ cạn
12
1.6.4 Các nhân tố kinh tế - xã hội và hoạt động của con người.
Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người không ngừng phải tiến hành
sản xuất nên luôn luôn phải tác động đến môi trường địa lí, trong đó đặc biệt là
sông ngòi. Con người lấy nước sông để phục vụ cho sinh hoạt, cung cấp nước cho
ngành sản xuất công nghiệp, nhất là cho nông nghiệp. Vai trò của con người ngày
càng lớn lao vì dân số và nhu cầu về nước ngày càng lớn. Các tác động này có thể
trực tiếp hoặc gián tiếp đối với sông ngòi.
Sông ngòi là môi trường sống của nhiều loại động, thực vật, đóng vai trò
quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển và phân bố của sinh vật trên Trái Đất
Nước của sông ngòi cùng là một thành phần quan trọng của cơ thể sinh vật,
góp phần tạo ra các phản ứng sinh hóa để cung cấp dinh dưỡng cho sự sống.
d) Thổ nhưỡng
Nước của sông ngòi là thành phần quan trọng của đất, nó là điều kiện để đất
có độ phì đặc trưng.
Sông ngòi tham gia vào các quá trình hình thành đất, đặc biệt là đất phù sa,
đất feralit.
1.7.2 Tác động của các thành phần tự nhiên tới sông ngòi
Trong tổng thể địa lí tự nhiên của lưu vực, sông ngòi có tác dụng tích cực tới
các thành phần tự nhiên khác; song các yếu tố này cũng tác động mạnh mẽ tới
dòng chảy sông ngòi.
a) Các nhân tố khí tượng
Đây là nhóm nhân tố quan trọng nhất, có tác dụng quyết định tới số lượng và
chế độ nước sông.
- Nước rơi:
+ Lượng nước rơi:Những nơi có lượng nước rơi phong phú, lượng dòng
chảy sẽ lớn và ngược lại.
+ Hình thức và cường độ nước rơi:
. Nước rơi ở thể lỏng (mưa) thì đường quá trình lưu lượng sẽ tương tự đường
quá trình mưa. Nước rơi ở thể xốp (tuyết) thì đường quá trình lưu lượng sẽ biến đổi
theo đường quá trình nhiệt trong năm.
. Với cùng một lượng mưa, song nếu cường độ nhỏ, thời gian mưa kéo dài,
lũ xảy ra không giống như khi có cường độ lớn, thời gian mưa ngắn và lũ tập trung
nhanh.
14
+ Chế độ nước rơi ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ nước sông: Nơi nào chế
+ Gắn liền với mục đích nuôi trồng thủy sản, thủy điện, thủy lợi, du lịch.
- Hạn chế:
+ Khó khăn cho phát triển giao thông vận tải đường sông.
+ Các thiên tai: Lũ ống, lũ quét ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của con
người.
1.8.2 Sông ngòi đồng bằng
- Tích cực:
+ Cung cấp nước tưới cho nông nghiệp, sản xuất và sinh hoạt.
+ Bồi đắp phù xa cho đồng bằng rộng lớn, màu mỡ.
+ Là môi trường để nuôi trồng thủy sản, du lịch, phát triển giao thông vận tải
đường sông.
- Hạn chế: Gây ngập úng, lụt lội
1.9 Một số sông lớn trên Trái Đất
1.9.1 Sông Nin
Sông Nin có diện tích lưu vực 2881000km 2 với chiều dài lớn nhất thế giới là
6685km, chảy theo hướng nam - bắc qua ba miền khí hậu khác nhau.
Sông Nin bắt nguồn từ hồ Víc - to - ri - a ở khu vực xích đạo có mưa quanh
năm, nên lưu lượng nước khá lớn. Tới Khắc - tum sông Nin nhận thêm nước từ
phụ lưu Nin Xanh ở khu vực cận xích đạo, lưu lượng trở nên rất lớn, mùa nước lũ
lên tới 90 000m3/s; đến biên giới Ai Cập mặc dù sông Nin chảy giữa miền hoang
mạc và không nhận được một phụ lưu nào, nước sông vừa ngấm xuống đất, vừa
bốc hơi mạnh, đến gần biển lưu lượng nước giảm nhiều, nhưng ở Cai - rô (Ai Cập)
về mùa cạn lưu lượng vẫn còn 700m3/s.
1.9.2 Sông A - ma - dôn
Sông A - ma - dôn có diện tích lưu vực lớn nhất thế giới 7170000km 2, với
chiều dài thứ nhì thế giới là 6437km, bắt nguồn từ dãy An - đét thuộc Pê - ru chảy
theo hướng tây - đông đổ ra Đại Tây Dương. Lưu vực sông nằm trong khu vực
xích đạo, mưa rào quanh năm, sông lại có tới 500 phụ lưu nằm hai bên đường Xích
lãnh thổ hẹp ngang, phần lớn các sông đều bắt nguồn từ vùng núi phía Tây chảy ra
biển Đông.
b, Sông ngòi nhiều nước, giàu phù sa
- Tổng lưu lượng nước trung bình trên các sông là 26,6 nghìn m 3/s, tương ứng
với 839 tỉ m3/năm, trong đó tới 60% là lượng nước từ bên ngoài lãnh thổ.
17
Nguyên nhân: Lượng mưa lớn, một số sông lớn nhận nguồn nước từ bên ngoài
lãnh thổ.
- Tổng lượng phù sa là 200 triệu tấn/năm, ứng với trung bình 226 tấn/km2/năm.
Nguyên nhân: Do nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, địa hình chủ yếu là
đồi núi nên địa hình đồi núi có quá trình xâm thực mạnh làm hệ số bào mòn và
tổng lượng cát bùn lớn.
c, Thủy chế thay đổi theo mùa
- Chế độ dòng chảy thay đổi theo hai mùa rất rõ rệt: mùa lũ và mùa cạn. Mùa lũ trên
các con sông trùng với mùa mưa và mùa cạn trùng với mùa khô của khí hậu.
+ Mùa lũ:
.Thường kéo dài từ 3 đến 6 tháng, chiếm từ 60% đến gần 90%, trung bình là
70-80% tổng lưu lượng nước cả năm.
Thời gian của mùa lũ và tháng đỉnh lũ có sự khác biệt giữa các hệ thống
sông và phù hợp với chế độ mưa tại lưu vực của các hệ thống sông đó.
. Mùa cạn trên các con sông ở nước ta thường kéo dài hơn mùa lũ. Mùa cạn
kéo dài trung bình 7-8 tháng với lưu lượng nước nhỏ, mực nước hạ thấp làm trơ ra
các bãi bồi và lòng sông. Tổng lưu lượng nước trong các tháng mùa cạn chỉ bằng
20-30% tổng lưu lượng nước cả năm
Nguyên nhân: Chế độ mưa thay đổi theo mùa và thất thường, hình thái mạng
lưới sông cũng có ảnh hưởng quan trọng đến chế độ nước sông.
- Chế độ nước của sông ngòi Việt Nam luôn có những biến động bất thường.
Nguyên nhân: Do diễn biến phức tạp của chế độ mưa cũng như đặc điểm của
Dưới đây, xin giới thiệu một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực
cho chuyên đề sông ngòi nhằm kích thích sự hứng thú, tư duy của học sinh, từ đó
nâng cao hiệu quả giờ học.
2.1.1 Phương pháp đàm thoại gợi mở
Đây là phương pháp, trong đó giáo viên soạn ra câu hỏi lớn cho học sinh.
Sau đó, chia câu hỏi lớn ra thành một số câu hỏi nhỏ hơn, có quan hệ lôgic với
nhau, tạo ra những cái mốc trên con đường thực hiện câu hỏi lớn. Đàm thoại gợi
mở là một phương pháp truyền thống, sử dụng tương đối phổ biến trong các
trường, các cấp học. Giáo viên dựa vào những phản hồi thường xuyên của học sinh
để liên tiếp đưa ra những gợi ý hoặc tái hiện kiến thức nhằm đưa học sinh tới nội
dung cần đạt. Đối tượng học sinh giỏi là đối tượng có kiến thức chắc chắn, vững
vàng nên phương pháp này đem lại hiệu quả rất lớn.
Ví dụ: Khi giảng về các nhân tố ảnh hưởng đến chế độ nước sông, giáo viên
có thể sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở để hướng dẫn học sinh tìm hiểu vấn đề
này.
- B1: Giáo viên đưa ra câu hỏi lớn “Tại sao chế độ nước của các con sông trên
Trái Đất không giống nhau?”
- B2: Giáo viên đưa ra các câu hỏi gợi ý
Câu 1: Chế độ nước của sông ngòi phụ thuộc vào những nhân tố nào?
Câu 2: Các nhân tố đó ở những nơi khác nhau trên Trái Đất có giống nhau
không?
Câu 3: Sự kết hợp các nhân tố đó ở những nơi khác nhau trên Trái Đất có
giống nhau không.
Câu 4: Lấy ví dụ và phân tích ví dụ.
20
- B3: Học sinh dựa vào hệ thống câu hỏi trên để tìm ra đáp án phù hợp hoàn
thành câu hỏi lớn. Sau đó giáo viên chuẩn kiến thức.
2.1.2 Phương pháp thảo luận nhóm
giải pháp nào để hạn chế hiện tượng lũ lụt xảy ra ở vùng đồng bằng hạ lưu các
sông lớn?”
- B2: Giáo viên gọi học sinh trình bày ý kiến của mình
- B3: Giáo viên chuẩn kiến thức
2.1.4 Phương pháp động não
Phương pháp động não là một phương pháp dùng để giải quyết nhiều loại
vấn đề khác nhau, giúp cho người học trong thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý
tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó.
Phương pháp này có tác dụng giúp học sinh:
+ Trả lời nhanh, đưa ra những đáp án chính xác trong khoảng thời gian
ngắn
+ Khắc phục sự rụt rè, e ngại khi trình bày ý kiến.
+ Tránh sự phán xử hấp tấp với thời gian hạn định.
+ Tự do và chân thực trong việc tham gia vào các hoạt động mà không
quan tâm đến những hạn chế của cá nhân.
Cách sử dụng phương pháp động não như sau: Giáo viên đưa chủ đề cần tìm
hiểu lên bảng. Khích lệ học sinh phát biểu và đưa ra ý kiến của mình để tìm ra các
ý nhỏ bổ sung cho chủ đề chính. Đối với mỗi ý kiến của học sinh, giáo viên có thể
ghi lại trên bảng thành sơ đồ. Phương pháp này có thể sử dụng để ôn tập, kiểm tra
về sự phân hóa sông ngòi, tác động của sông ngòi tới các thành phần tự nhiên, kinh
tế xã hội.
Ví dụ: Khi tìm hiểu về đặc điểm của các sông lớn trên Trái Đất, giáo viên có
thể sử dụng phương pháp động não
- B1: Giáo viên có thể đưa ra câu hỏi: “Trong thời gian 2 phút em hãy cho biết
các đặc điểm cơ bản của hệ thống sông Nin?”
- B2: Giáo viên gọi học sinh trả lời nhanh, mỗi học sinh đưa ra một đáp án, giáo
viên ghi lại tất cả các đáp án đúng, đáp án sai.
- B3: Khi thời gian kết thúc, giáo viên tổng kết kiến thức và đưa ra đáp án cho
câu hỏi.
2.1.5 E learning
2.2 Phương tiện dạy học
Phương tiện thường được sử dụng để dạy và học trong chuyên đề sông ngòi
là các bản đồ tự nhiên (atlat, bản đồ giáo khoa, bản đồ treo tường), các sơ đồ, tranh
ảnh, video…Sau đây là một số phương tiện chính thường được sử dụng.
23
2.2.1 Các bản đồ trong tập bản đồ Địa lí tự nhiên Đại cương, tập bản đồ thế giới
và các Châu lục, Atlat địa lí Việt Nam
Tập bản đồ Địa lí tự nhiên Đại cương, Atlat địa lí Việt Nam là một phương
tiện dạy và học không thể thiếu của môn địa lí trong nhà trường phổ thông, đặc biệt
là trong thi học sinh giỏi quốc gia. Các bản đồ về sông ngòi trong Atlat phản ánh
rất đầy đủ, cụ thể về đặc điểm sông ngòi thế giới và Việt Nam. Khi giảng dạy
chuyên đề về sông ngòi đại cương có thể trực tiếp sử dụng các trang bản đồ lưu
vực sông và dòng biển (trang 30,31) của Tập bản đồ Địa lí tự nhiên Đại cương; bản
đồ Châu Phi (trang 10), bản đồ Châu Âu (trang 14), bản đồ Châu Mĩ (trang 18,)
bản đồ Đại Dương (trang 22), bản đồ Châu Á (trang 26) của tập bản đồ thế giới và
các Châu lục; bản đồ Các hệ thống sông (trang 10), bản đồ hình thể (trang 6 - 7),
Bản đồ các miền tự nhiên (trang 13, 14), Bản đồ các vùng kinh tế (trang 26, 27, 28,
29) của Atlat địa lí Việt Nam.
Tuy không thể hiện yếu tố sông ngòi nhưng các bản đồ hình thể, địa chất khoáng sản, khí hậu, sinh vật vẫn có thể sử dụng khi học tập, nghiên cứu về sông
ngòi và sông ngòi Việt Nam. Bởi vì các yếu tố này đều có mối quan hệ chặt chẽ
với sông ngòi và chịu tác động của sông ngòi. Đối với những bài tập yêu câu phân
tích ảnh hưởng của sông ngòi tới các yếu tố khác hay giải thích về đặc điểm sông
ngòi thì nhất thiết phải sử dụng tới các bản đồ liên quan.
2.2.2 Các sơ đồ, biểu đồ về sông ngòi
Trong giảng dạy địa lý, sơ đồ, biểu đồ, lát cắt về sông ngòi là một phương tiện
trực quan cần thiết, bổ xung cho bản đồ tự nhiên, giúp học sinh hình thành được
khái niệm cụ thể, chính xác, nhận biết được đặc điểm về sông ngòi các khu vực