Một số kiến thức và câu hỏi thường gặp về sự phân hóa đa dạng của địa hình Việt Nam trong thi học sinh giỏi quốc gia - Pdf 26

MỘT SỐ KIẾN THỨC VÀ CÂU HỎI THƯỜNG GẶP VỀ
SỰ PHÂN HÓA ĐA DẠNG CỦA ĐỊA HÌNH VIỆT NAM
TRONG THI HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA
Phần thứ nhất
MỞ ĐẦU
Địa lí tự nhiên Việt Nam là một bộ phận có vị trí quan trọng trong chương trình
đào tạo môn Địa lí ở các trường trung học phổ thông ở nước ta. Trên cơ sở những kiến
thức cơ bản về địa lí tự nhiên đại cương với đối tượng nghiên cứu là lớp vỏ địa lí của trái
đất, những kiến thức về các châu lục, các khu vực khác nhau trên trái đất, địa lí tự nhiên
Việt Nam tiếp tục nghiên cứu các đặc điểm địa lí tự nhiên trên lãnh thổ Việt Nam. Từ đó,
giúp các em có hiểu biết sâu sắc hơn về thiên nhiên, đất nước mình, đồng thời giúp ích
cho việc tìm hiểu, nghiên cứu, giải quyết các vấn đề có liên quan đang diễn ra trên đất
nước ta như phát triển kinh tế - xã hội, phòng chống thiên tai, duy trì, cải thiện môi trường
sinh thái…
Đặc điểm cơ bản của địa lí tự nhiên Việt Nam thể hiện những nét chung nhất của
các điều kiện và các quá trình tự nhiên. Các điều kiện tự nhiên bao gồm các thành phần
của tự nhiên và những mối quan hệ tác động qua lại, chi phối lẫn nhau giữa chúng. Các
điều kiện tự nhiên của nước ta lại có mối quan hệ chặt chẽ với điều kiện tự nhiên các
nước và các khu vực xung quanh, chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật địa lí chung
của Trái Đất cả trong quá khứ và hiện tại. Chính vì vậy mà thiên nhiên nước ta có sự phân
hóa rất đa dạng.
Việt Nam là một nước mang sắc thái thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa, chịu ảnh
hưởng sâu sắc của biển với cảnh quan đồi núi chiếm ưu thế và đặc biệt cảnh quan phân
hóa rất đa dạng và chịu tác động sâu sắc của con người. Chính vì vậy mà nước ta có nhiều
nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, bốn mùa xanh tươi, giàu sức sống.
Sự phân hóa tự nhiên nước ta trong đó có thành phần địa hình Việt Nam cũng tuân
theo những quy luật địa lí chung của trái đất. Sự phân hóa này có ý nghĩa vô cùng quan
trọng đối với đời sống và sản xuất của nhân dân mỗi vùng trên cả nước, ảnh hưởng lớn
đến việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế mỗi vùng nói riêng và của đất nước nói
chung.
1

I.1. Khái quát các quy luật phân hóa của tự nhiên Việt Nam
Lãnh thổ Việt Nam tuy diện tích không rộng nhưng thiên nhiên lại rất đa dạng và có
sự phân hóa phức tạp. Thiên nhiên thay đổi theo không gian theo nhiều hướng khác nhau:
từ Bắc vào Nam, từ Đông sang Tây và từ thấp lên cao nên đã hình thành nhiều khu vực tự
nhiên ở các cấp phân vị khác nhau. Những đơn vị địa lí tự nhiên khu vực này được hình
thành và phát triển do ảnh hưởng trước hết của các quy luật chung của tự nhiên. Sự phân
hóa phức tạp và đa dạng của cảnh quan tự nhiên Việt Nam là kết quả tổng hợp của hình
dạng lãnh thổ hẹp ngang, kéo dài theo chiều Bắc – Nam, lịch sử phát triển lâu dài của tự
nhiên Việt Nam, đặc điểm địa hình khác nhau giữa các bộ phận lãnh thổ. Lịch sử phát
triển không đồng đều ở các bộ phận khác nhau trên lãnh thổ, phụ thuộc vào sự tác động
tương quan của 2 nguồn năng lượng chủ yếu quyết định động lực của các quá trình địa lí.
Đó là năng lượng bức xạ mặt trời và năng lượng bên trong của trái đất. Hai nguồn năng
lượng này thay đổi theo thời gian và không gian nhưng quan trọng hơn, bản chất của
những thay đổi này rất khác nhau. Trong khi nguồn bức xạ mặt trời có sự phân bố và thay
đổi theo quy luật địa đới, thì nguồn năng lượng bên trong của trái đất lại bị chi phối bởi
quy luật phi địa đới.
I.1.1. Quy luật địa đới
Quy luật địa đới về bản chất là sự thay đổi có quy luật của tất cả các thành phần địa
lí và các cảnh quan tự nhiên theo vĩ độ từ xích đạo về hai cực. Đây là quy luật rất phổ
biến, tạo nên các vòng đai địa lí bao quanh trái đất.
Quy luật địa đới là một trong những quy luật cơ bản của khoa học địa lí. Vì vậy, khi
tiến hành nghiên cứu và phân vùng địa lí tự nhiên mỗi khu vực cần phải tính toán tới số
3
lượng và chất lượng của năng lượng mặt trời mà nơi đó nhận được. Chính sự phân bố
không đồng đều của năng lượng mặt trời là nguyên nhân đầu tiên của tính địa đới. Sự thay
đổi có quy luật của bức xạ mặt trời từ xích đạo về phía 2 cực cũng chính là sự thay đổi có
quy luật của góc nhập xạ theo hướng đó. Ngoài ra, nguyên nhân hình thành quy luật địa
đới còn có sự tham gia của hoàn lưu khí quyển trên quy mô toàn cầu, khiến cho sự phân
bố thực tế của bức xạ mặt trời trên bề mặt trái đất sẽ khác nhiều so với sự phân bố lí
thuyết. Hoàn lưu khí quyển dựa trên 4 khối khí cơ bản là khối khí cực, ôn đới, nhiệt đới

Các quy luật phi địa đới ở Việt Nam bao gồm: Quy luật phân hóa theo kinh độ (hay
quy luật địa ô) và quy luật phân hóa đai cao.
I.1.2.1. Quy luật phân hóa theo kinh độ (hay quy luật địa ô)
Trên Trái Đất có sự phân bố kế tiếp của các múi lục địa và đại dương theo hướng
kinh tuyến chạy dài từ Bắc cực tới Nam cực.
Bản chất của quy luật theo kinh độ là sự thay đổi tuần tự các hiện tượng địa lí, trên
các lục địa tùy thuộc vào mức độ xa bờ đại dương đến trung tâm lục địa. Quy luật phân
hóa theo kinh tuyến của các thể tổng hợp địa lí tự nhiên cũng như các thành phần của
cảnh quan tự nhiên còn được nhiều nhà địa lí trên thế giới gọi là tính địa đới theo kinh
tuyến. Bản chất của quy luật phân hóa theo kinh tuyến là sự khác nhau giữa bề mặt lục địa
và bề mặt đại dương trong quá trình tiếp nhận năng lượng mặt trời. Thông thường năng
lượng bức xạ mặt trời tiếp nhận được trên một đơn vị diện tích ở đại dương lớn hơn trên
lục địa 10 – 20%. Nói chung không khí trên các đại dương ấm hơn trên các lục địa, chỉ trừ
ở vòng đai gió mậu dịch là nơi lục địa được sưởi nóng mạnh hơn đại dương (do sự mất
nhiệt cho bốc hơi giảm và do tính chất vật lí khác nhau giữa bề mặt lục địa và bề mặt
nước trên các đại dương)
Một số nhà địa lí gọi sự phân hóa theo kinh tuyến tương tự như tính địa đới theo vĩ
độ của các cảnh quan tự nhiên là tính địa ô. Tuy nhiên, sự phân hóa địa lí theo kinh tuyến
biểu hiện không phải đồng đều ở mọi nơi trên bề mặt Trái Đất. Phụ thuộc vào đặc điểm
hoàn lưu khí quyển, kích thước, hình dáng và vị trí địa lí của lục địa khiến số lượng địa ô
ở các vĩ độ có sự khác nhau. Đầy đủ nhất là 3 địa ô, quan sát thấy ở các vĩ độ ôn đới của
lục địa Âu – Á do sự tồn tại của khối lục địa rộng lớn trải trên 200
0
kinh tuyến và do sự
chuyển động của các khối khí theo hướng đông – tây. Hai địa ô đối với vòng đai gió Mậu
Dịch: địa ô hoang mạc bờ Tây do không có các điều kiện cho các khối khí đại dương xâm
nhập tới, và địa ô ẩm ướt ở phía đông của các lục địa nhờ có gió mùa tạo nên sự dư thừa
ẩm, đặc biệt là vào mùa hè. Ở các vĩ độ thuộc xích đạo hoặc miền cận cực, sự phân hóa
địa lí theo kinh tuyến biểu hiện không rõ rệt (sự vận chuyển theo chiều ngang của các
khối khí ở xích đạo yếu và gần như đồng nhất ở cận cực).

sắp xếp các đới tự nhiên theo vĩ độ từ xích đạo về phía 2 cực. Song sự sắp xếp này có
phần phong phú và đa dạng hơn. Đặc tính và số lượng các kiểu vành đai theo độ cao phụ
thuộc vào vị trí địa lí của khối núi và đặc điểm sơn văn của nó. Từ 2 cực về phía xích đạo
số lượng các vành đai theo độ cao tăng lên.
Bản chất của sự phân hóa theo độ cao là sự phân hóa phi địa đới mà nguyên nhân
sâu xa của nó là do các lực bên trong của trái đất gây ra.
I.1.3. Quan hệ giữa các quy luật phân hóa
Các quy luật phân hóa trên thực tế không tác động riêng rẽ, độc lập mà chúng tác
động đồng thời, tương hỗ. Tùy theo từng lúc, từng nơi mà quy luật này hay quy luật khác
6
giữ vai trò chủ yếu, trội, chi phối sự hình thành và chiều hướng phát triển của các quá
trình tự nhiên trong các địa tổng thể.
Trước hết mối quan hệ giữa 2 dạng cơ bản của quy luật phi địa đới là quy luật địa ô
và quy luật kiến tạo – địa mạo có liên hệ chặt chẽ với nhau. Các ranh giới khí hậu theo
kinh tuyến thường phù hợp với các bức chắn sơn văn. Những sự phân chia bề mặt lãnh
thổ theo hình thái kiến tạo lớn (như xứ Hoa Nam, xứ Đông Dương) lại là những khu vực
được phân biệt theo vị trí của nó đối với ảnh hưởng của biển và đại dương của quy luật
địa ô. Những khu vực chịu ảnh hưởng của những điều kiện hình thành, di chuyển, biến
tính của các khối khí, theo mức độ lục địa của khí hậu và của cả vai trò của vị trí trên cao.
Thêm vào đó, các khối núi không chỉ tạo nên quy luật phân hóa theo vành đai độ cao
riêng biệt của nó mà còn ảnh hưởng quan trọng đến các cảnh quan tự nhiên của các khu
vực đồng bằng và các khu vực núi khác lân cận. Mặt khác, số lượng và cấu trúc của vành
đai trong phạm vi một đới cảnh quan cũng không đồng nhất và thường bị phụ thuộc vào
các nhân tố khí hậu phân hóa theo hướng kinh tuyến (mức độ ẩm ướt) và mức độ lục địa
(độ lục địa).
I.2. Sự phân hóa đa dạng của địa hình Việt Nam
I.2.1. Các kiểu địa hình chính ở Việt Nam
I.2.1.1. Địa hình núi
Kiểu địa hình núi ở Việt Nam bao gồm các núi thấp có độ cao trung bình dưới
1000m, núi trung bình có độ cao trung bình từ 1000m đến 2000m và núi cao có độ cao

biệt hoặc gắn liền với các vùng núi cao.
Địa hình núi trung bình gồm các núi được cấu tạo bởi các loại nham thạch cứng,
chủ yếu là các loại đá macma và đá biến chất, tuy nhiên có độ cao thấp hơn và mức độ
xâm thực, chia cắt địa hình yếu hơn so với các vùng núi cao. Đặc biệt ở vùng núi Tây
Bắc, tính chất phân bậc của địa hình biểu hiện rõ ràng hơn. ở những nơi có địa hình hiểm
trở, giao thông đi lại khó khăn còn giữ lại được lớp phủ rừng tự nhiên.
c. Địa hình núi thấp
Địa hình núi thấp thường gặp ở vùng liền kề với vùng núi trung bình và vùng đồi
thành một dải liên tục với các bậc địa hình cao thấp khác nhau. Cũng có khi địa hình núi
thấp còn được gặp ở ngay vùng đồng bằng và vùng ven biển dưới dạng núi sót.
Điển hình của địa hình núi thấp ở Việt Nam là vùng Đông Bắc và khu vực núi Hòa
Bình - Thanh Hóa - Nghệ An. Phần lớn các núi thấp được cấu tạo bởi các đá trầm tích, có
dáng hình mềm mại, có lớp vỏ phong hóa khá dày.
I.2.1.2. Địa hình cao nguyên
a. Địa hình cao nguyên đá vôi
8
Địa hình cao nguyên đá vôi rất điển hình ở vùng núi phía Bắc và Tây Bắc Việt
Nam. Địa hình này có đặc điểm chung là có độ cao khá lớn nhưng bề mặt khá bằng
phẳng, mạng lưới sông suối thưa thớt và rất hiếm nước, nhất là vào thời kỳ mùa khô.
Điển hình cho địa hình cao nguyên đá vôi ở vùng núi tương đối cao mang tính chất
sơn nguyên là các cao nguyên Đồng Văn (Hà Giang), cao nguyên Bắc Hà (Lào Cai) và
dải các cao nguyên ở Tây Bắc chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, có độ cao
tương đối thấp, dưới 1000m. Đó là các cao nguyên Tà Phình - Sin Chải, cao nguyên Sơn
La và cao nguyên Mộc Châu. Đặc biệt mới đây cao nguyên đá Hà Giang (bao gồm 4
huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Bảo Lạc) đã được công nhận là thành viên chính
thức của Mạng lưới các Công viên địa chất toàn cầu (ngày 3/10/2010).
b. Địa hình cao nguyên badan
Khác với địa hình cao nguyên đá vôi còn có nét hiểm trở, các cao nguyên badan có
dáng hình mềm mại, bằng phẳng hơn và trên bề mặt cao nguyên còn có nhiều di tích của
các hoạt động núi lửa như các nón miệng núi lửa, các hồ tròn. Các cao nguyên badan

duyên hải miền Trung.
a. Đồng bằng Bắc Bộ với diện tích khoảng 15 nghìn km
2
có địa hình bằng phẳng,
hơi nghiêng ra biển theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, được che phủ bởi lớp trầm tích Đệ
Tứ có độ dày từ một vài mét đến trên 100m. Trên bề mặt đồng bằng là lớp đất phù sa màu
mỡ do hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp và đã được khai thác để sản xuất
nông nghiệp từ lâu đời.
Ở khu vực phía Bắc của đồng bằng Bắc Bộ còn có nhiều đồi núi sót và ở phía Nam
còn có nhiều ô trũng. Các ô trũng này càng khó thoát nước hơn từ khi có hệ thống đê
điều. Một số nơi ở vùng ven biển của đồng bằng Bắc Bộ còn có các dải cồn cát cổ, có
nguồn gốc biển.
Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay vẫn đang có xu hướng tiếp tục lấn ra phía biển. Khu vực
tam giác châu cửa sông Hồng hằng năm tiến ra biển tới gần 100m. Hệ thống đê biển trở nên
đặc biệt quan trọng trong việc quai đê, lấn biển và ngăn chặn ảnh hưởng của nước biển xâm
nhập vào đất liền.
b. Đồng bằng Nam Bộ với diện tích hơn 60 nghìn km
2
bao gồm hai bộ phận có các
đặc điểm khác hẳn nhau. Đó là đồng bằng cao bao gồm các thềm phù sa cổ, bán bình nguyên
đất đỏ badan ở miền Đông Nam Bộ và đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, còn gọi là miền
Tây Nam Bộ.
Đồng bằng cao Đông Nam Bộ có hai bậc địa hình khá bằng phẳng ở độ cao 200m và
100m, chạy song song theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và dốc nghiêng về phía hạ lưu sông
Sài Gòn.
10
Đồng bằng sông Cửu Long là một bộ phận của khu vực hạ lưu sông Mê Công, có
địa hình rất bằng phẳng và độ cao thấp, trung bình chỉ khoảng 2m. Do không có hệ thống
đê điều ven sông như ở đồng bằng Bắc Bộ nên khi mùa lũ đến, nước sông Mê Công tràn
ngập một vùng rất rộng lớn hàng chục nghìn km

nằm rải rác và xen kẽ giữa các cánh đồng như ở Hà Nội, Ninh Bình, có dáng dấp như một
vịnh Hạ Long trên cạn.
Địa hình karst tập trung thành các khối núi, dãy núi và cao nguyên rất phổ biến ở
các vùng núi đá vôi Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Thanh
Hóa, Quảng Bình.
11
Nói chung, kiểu địa hình karst ở Việt Nam rất hiểm trở, bề mặt lởm chởm sắc
nhọn, thành vách núi dựng đứng, có nhiều khe nứt, phễu, giếng sâu, hang động. ở những
vùng địa hình karst đã trải qua quá trình phát triển lâu dài có các dạng thung lũng và cánh
đồng karst; đá vôi đã bị phong hóa thành loại đất đá vôi tơi xốp, màu hồng và nâu sẫm, rất
thích hợp với một số loài thực vật ưa đất kiềm và trung tính.
Địa hình karst tạo nên nhiều phong cảnh đẹp vì núi non hùng vĩ và nhiều dáng
hình, đặc biệt là các hang động và sông suối ngầm kỳ ảo, là đối tượng rất hấp dẫn của du
lịch. Nhiều hang động còn là nơi cư trú của người cổ xưa, vì thế còn để lại nhiều di chỉ
khảo cổ rất có giá trị. Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình) có hệ thống
hang động Phong Nha đặc sắc cũng đã được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới.
b. Địa hình bờ biển
Việt Nam có đường bờ biển dài và có các kiểu địa hình biển rất đa dạng.
+ Địa hình bờ biển bồi tụ
Địa hình bờ biển bồi tụ được quyết định bởi quá trình bồi tụ ở vùng cửa sông và
ven biển. Khu vực cửa sông Hồng và khu vực bờ biển từ cửa sông Sài Gòn đến Hà Tiên là
điển hình cho kiểu địa hình bồi tụ tam giác châu. ở đây, hàng năm có lượng nước rất lớn
của các sông đổ ra biển, mang theo rất nhiều phù sa. Lượng phù sa này được bồi đắp ở
ngay khu vực cửa sông và di chuyển, tích tụ ở các khu vực lân cận do tác động của các
dòng biển.
Trong địa hình bờ biển bồi tụ, bên cạnh các đoạn bờ biển có địa hình tam giác châu
còn có kiểu địa hình cửa sông dạng etchuye hình phễu. Kiểu địa hình này được hình thành
ở những nơi sông chảy ra biển với lượng nước không lớn, nghèo phù sa lại chịu nhiều ảnh
hưởng của thủy triều nên hạn chế sự bồi đắp phù sa và làm cho khu vực cửa sông có độ
sâu khá lớn. Điều này rất thuận lợi cho việc xây dựng và khai thác các cảng ở tương đối

Việt Nam. Ranh giới phía Bắc là đường biên giới Việt – Trung thuộc địa phận các tỉnh
Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang và Lào Cai, phía tây dọc theo bờ phải thung
lũng sông Hồng và sông Đáy, tính đến độ cao khoảng 100m từ biên giới Việt – Trung qua
rìa phía Tây của dãy Ba Vì – Viên Nam và dãy Tam Điệp ngăn cách giữa đồng bằng sông
14
Hồng và đồng bằng sông Mã, về phía đông và nam là bờ biển từ Quảng Ninh đến Ninh
Bình (ở khoảng 20
0
B).
b. Địa hình
Địa hình của miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ có thể khái quát chung là địa hình của
miền đồi núi thấp, với độ cao trung bình khoảng 600m. Diện tích đồng bằng và đồi núi
thấp chiếm đa số, tới hơn 90 % diện tích của miền.
Địa hình của miền có xu hướng thấp dần theo hướng Tây Bắc – Đông Nam.
Nét đặc sắc nhất của cấu trúc địa hình miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ là có dạng rẻ
quạt mở rộng về phía đông bắc, quy tụ về phía Nam ở dãy núi Tam Đảo. Đó là các dãy
núi cánh cung sắp đặt như ôm lấy khối núi thượng nguồn sông Chảy quay lưng về phía
đông và đông nam, theo thứ tự từ tây sang đông là các dãy núi cánh cung sông Gâm, cánh
cung Ngân Sơn, cánh cung Bắc Sơn và cánh cung Đông Triều.
Các vùng núi trung bình và các đỉnh núi cao trên 2000m tạo địa hình chắn thuận lợi
đã trở thành các trung tâm mưa lớn.
Đối lập với các vùng núi là vùng đồng bằng sông Hồng và sông Thái Bình với địa
thế thấp, rất bằng phẳng.
I.2.2.2. Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ
a. Giới hạn
Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ được xác định bởi sự kết hợp của đới rừng gió mùa
chí tuyến và xứ địa máng Đông Dương. Ranh giới của miền về phía đông giáp miền Bắc
và Đông Bắc Bắc Bộ là hữu ngạn sông Hồng và ranh giới phía Nam ngăn cách với miền
Nam Trung Bộ và Nam Bộ tại dãy núi Động Ngài – Bạch Mã, ngang đèo Hải Vân ở vĩ
tuyến 16

hội to lớn. Chiếm tới 49 % diện tích, miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ là miền tự nhiên
rộng lớn nhất và cũng có tiềm năng kinh tế lớn nhất trong ba miền của đất nước.
b. Địa hình
Trong miền phân rõ thành 3 khu vực địa hình cơ bản là khu vực núi và các cao
nguyên Nam Trường Sơn, khu vực Đồng bằng Nam Bộ và khu vực đồng bằng ven biển
Nam Trung Bộ.
Nam Trường Sơn là khu vực có cả núi, cao nguyên, đồi và thung lũng xen kẽ nhau
rất phức tạp. Chúng tạo thành những khối núi đồ sộ và khá cao ở phía bắc Kontum và tây
Quảng Ngãi. Về phía nam các núi trên là một vùng địa hình tương đối thấp, độ cao 500-
800m. Quần thể các cao nguyên xếp tầng ở cực Nam Trung Bộ bao gồm các cao nguyên
Lâm Viên, Bảo Lộc, Di Linh và M’Nong với nhiều bậc từ 1500m, 1000m và 500m.
Dải đất phù sa cổ kéo dài từ Tây Ninh đến tận Bà rịa – Vũng Tàu thường được gọi là
vùng Đông Nam Bộ. Dải này có thể được coi là thềm tích tụ - xâm thực của sông
Mekong. Đây là nơi chuyển tiếp từ dạng địa hình cao nguyên của Tây Nguyên xuống địa
hình đồng bằng sông Cửu Long. Địa hình có dạng gò đồi lượn sóng, thấp dần về phía
Nam và Tây Nam. Bề mặt phù sa cổ đã bị laterit hóa, bị biến dạng vào lúc có các đợt
16
phun trào badan Pleistoxen sớm, bề mặt có độ cao từ 10 – 100m. Có 3 bậc độ cao khác
nhau là các bậc 40 – 50m, 70 – 80 m và 90 – 100m.
Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long là địa hình bồi tụ trên một vịnh biển lớn. Bề
mặt đồng bằng thấp có độ cao từ 1 – 5 m, nổi lên một số núi sót ở phía tây. Diện tích đồng
bằng gần 40000 km
2
.
Chương II
NHỮNG CÂU HỎI VẬN DỤNG VÀ HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI
II. 1. Những câu hỏi liên quan đến sự phân hóa đa dạng của địa hình
Việt Nam.
17
Câu 1: Dựa vào Atlat địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy trình bày các kiểu địa

bằng (vùng đồi Đông Bắc).
18
- Địa hình bán bình nguyên hình thành tại vùng Tân kiến tạo ổn định, ở ranh giới
giữa vùng nâng và vùng sụt, độ cao tuyệt đối 100- 200m, độ dốc dưới 80. Phân bố ở rìa
đồng bằng lớn (vùng trung du Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Bắc Giang, Đông Nam
Bộ) hoặc bên trong các đồng bằng duyên hải (Móng Cái, Thừa Thiên Huế, Bình Thuận).
- Địa hình Caxtơ: thung – động Caxtơ (rìa núi Bắc Sơn), núi Caxtơ (Puthaca – Hà
Giang), sơn nguyên Caxtơ (Quản Bạ - Đồng Văn), hang động Caxtơ (Phong Nha). Thung
lũng và lòng chảo miền núi: Điện Biên, Nghĩa Lộ, An Khê.
Câu 2: Dựa vào Atlat địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy chứng minh rằng địa
hình miền núi nước ta có sự phân hóa đa dạng thành các vùng khác nhau? Giải
thích các nguyên nhân dẫn đến sự phân hóa địa hình?
HƯỚNG DẪN
1. Chứng minh.
Địa hình núi phân hóa thành 4 vùng là: Đông Bắc, Tây Bắc, Trường Sơn Bắc và
Trường Sơn Nam.
1.1. Vùng núi Đông Bắc:
- Nằm ở phía đông thung lũng sông Hồng với 4 cánh cung núi lớn chụm đầu ở Tam
Đảo, mở ra về phía bắc và phía đông. Đó là các cánh cung: Sông Gâm, Ngân Sơn, Bắc
Sơn, Đông Triều. Địa hình núi thấp chiếm phần lớn diện tích vùng. Theo hướng các dãy
núi là hướng vòng cung của các thung lũng song Cầu, sông Thương, sông Lục Nam.
- Địa hình Đông Bắc thấp dần từ tây bắc xuống đông nam. Những đỉnh cao trên
2000 m nằm trên vùng thượng nguồn sông Chảy. Giáp biên giới Việt – Trung là khối núi
đá vôi đồ sộ Hà Giang, Cao Bằng cao trên 1000 m. Còn ở vùng trung tâm là vùng đồi núi
thấp có độ cao trung bình 500 – 600 m.
1.2. Vùng núi Tây Bắc
- Nằm giữa sông Hồng và sông Cả, có địa hình cao nhất nước ta.
- Núi cao và trung bình chiếm ưu thế với 3 dải địa hình cùng hướng tây bắc – đông
nam. Phía đông là dãy Hoàng Liên Sơn cao và đồ sộ có đỉnh Phanxipang (3143 m), phía
tây là địa hình núi trung bình của các dãy dọc biên giới Việt – Lào; Ở giữa thấp hơn là các

sông Mã). Đến tân kiến tạo do chịu tác động của vận động tạo núi Anpo – Himalaya, địa
hình nước ta được nâng lên nhưng có cường độ khác nhau. Khu vực nâng lên mạnh hình
thành núi cao (Tây Bắc), khu vực nâng yếu hình thành núi có độ cao trung bình (Đông
Bắc). Đồng thời tại những vùng sụt lún diễn ra quá trình bồi lấp trầm tích lục địa, hình
thành đồng bằng.
- Ngoại lực tác động làm phá vỡ, san bằng địa hình do nội lực tạo nên, đồng thời tạo
nên nhiều dạng địa hình mới. Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với một mùa
mưa và một mùa khô sâu sắc đã thúc đẩy quá trình xâm thực cơ giới ở miền đồi núi làm
20
địa hình miền núi bị cắt xẻ, bào mòn nhiều nơi trơ sỏi, đá. Tại những miền núi mất lớp
phủ thực vật, mưa lớn còn gây ra hiện tượng đất trượt, đá lở. Vùng đá vôi hình thành dạng
địa hình caxto, các bề mặt phù sa cổ đất bị bạc màu. Dưới tác động của dòng chảy sông
ngòi, lớp cát bùn được vận chuyển từ vùng núi về bồi lấp chỗ trũng tạo nên địa hình đồng
bằng.
Câu 3: Dựa vào Atlat địa lí Việt Nam và kiến thức đã học , trình bày sự khác biệt
giữa địa hình vùng núi Đông Bắc với địa hình vùng núi Tây Bắc. Giải thích tại sao có
sự khác biệt đó.
HƯỚNG DẪN
1. Sự khác biệt giữa địa hình vùng núi Đông Bắc với địa hình vùng núi Tây
Bắc.
- Giới thiệu khái quát:
+ Vùng Đông Bắc nằm ở phía đông thung lũng sông Hồng.
+ Vùng núi Tây Bắc nằm giữa sông Hồng và sông Cả.
- So sánh sự khác biệt.
Tiêu chí Vùng núi Đông Bắc Vùng núi Tây Bắc
Hướng núi Vòng cung. Cao ở phía tây bắc, thấp
dần đông nam. Ngoài ra còn có hướng
tây bắc- đông nam (dãy Con Voi)
Hướng nghiêng và hướng núi là
tây bắc – đông nam.

Giang, Cao Bằng.
- Trung tâm là vùng đồi thấp 500-
600m.
- Giữa vùng đồi núi và đồng bằng là
vùng đồi trung du thấp dưới 100m.
dọc biên giới Việt- Lào.
+ Ở giữa thấp hơn là các dãy núi,
sơn nguyên, cao nguyên đá vôi…
+ Nối tiếp là vùng đồi núi Ninh
Bình, Thanh Hóa.
- Các bồn trũng mở rộng thành
các cánh đồng…
- Nằm giữa các dãy núi là các
thung lũng sông: Đà, Mã, Chu.
2. Giải thích sự khác biệt.
Sự khác biệt về địa hình giữa vùng núi Đông Bắc và Tây Bắc có liên quan mật
thiết với cấu trúc địa chất – kiến tạo của mỗi vùng.
- Vùng núi Đông Bắc: Trong lịch sử hình thành lãnh thổ, vùng này chịu sự qui
định hướng của khối nền cổ Vòm sông Chảy nên có hướng vòng cung. Địa hình chủ yếu
là núi thấp của vùng có liên quan đến nền Hoa Nam (Trung Quốc). Đây là bộ phận rìa của
khối nền Hoa Nam đã vững chắc nên các vận động nâng lên ở đây yếu hơn so với vùng
núi Tây Bắc.
- Vùng núi Tây Bắc: Trọng vận động địa chất của vỏ Trái Đất, vùng này là một bộ phận
của địa máng Việt Lào nên chịu tác động mạnh của vận động nâng lên, nhất là vận động
An pơ – Himalaya (giai đoạn tân kiến tạo). Hướng tây bắc – đông nam của vùng là do sự
qui định hướng của khối nền cổ Hoàng Liên Sơn.
Câu 4: Dựa vào Atlat địa lí Việt Nam và kiến thức đã học , trình bày sự khác biệt
giữa địa hình vùng núi Trường Sơn Bắc với địa hình vùng núi Trường Sơn Nam.
Giải thích tại sao có sự khác biệt đó.
HƯỚNG DẪN

trung bình. Về phía tây và tây nam, hoạt động phun trào badan tạo nên các cao
nguyên xếp tầng có độ cao thấp hơn.
Câu 5: Dựa vào Atlat địa lí Việt Nam và kiến thức đã học , trình bày sự khác biệt
giữa địa hình đồng bằng sông Hồng với đồng bằng sông Cửu Long. Giải thích tại sao
có sự khác biệt đó.
HƯỚNG DẪN
1. So sánh
a) Giống nhau
- Đều được hình thành tại các vùng sụt võng theo các đứt gãy sâu vào cuối kỉ Đệ
tam đầu kỉ Đệ tứ (giới Kainozoi).
23
- Cả 2 đồng bằng đều được thành tạo và phát triển do phù sa sông bồi tụ dần trên
vịnh biển nông, thềm lục địa mở rộng.
- Địa hình bằng phẳng, diện tích đất đai rộng, màu mỡ, thuận lợi cho phát triển
nông nghiệp.
- Hướng nghiêng chung: tây bắc – đông nam
- Hiện nay 2 đồng bằng vẫn tiếp tục được mở rộng ra biển hàng chục mét/năm.
b) Khác nhau
- Nguyên nhân hình thành:
+ Đồng bằng sông Hồng do phù sa sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp.
+ Đồng bằng sông Cửu Long do phù sa sông Tiền và sông Hậu bồi đắp.
- Hình dạng đồng bằng
+ Đồng bằng sông Hồng có dạng tam giác cân, đỉnh là Việt Trì, đáy là đoạn bờ
biển từ Quảng Ninh đến Ninh Bình.
+ Đồng bằng sông Cửu Long có dạng hình thang cân, đáy nhỏ là đoạn từ Hà Tiên
đến Gò Dầu, đáy lớn là đoạn từ Cà Mau đến Gò Công.
- Diện tích: Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích lớn hơn (40.000 km
2
so với
15.000 km

trong quá trình khai thác nhân dân đã đắp đê ngăn lũ làm đồng bằng bị chia cắt thành
nhiều ô trũng
II. 2. Những câu hỏi liên quan đến sự phân hóa đa dạng của địa hình
trong miền địa lí tự nhiên Việt Nam
II.2.1. Hướng dẫn chung
25
HƯỚNG DẪN TRÌNH BÀY VÀ GIẢI THÍCH ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH CỦA
MỘT MIỀN ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN
1. Khái quát vị trí địa lí.
- Tiếp giáp với các miền địa lí tự nhiên nào hay với quốc gia nào?
2. Đặc điểm chung của địa hình
- Gồm mấy bộ phận (dạng) địa hình chính, là những dạng nào?
+ Bộ phận đồi núi: chiếm diện tích?, phân bố?
+ Bộ phận đồng bằng: Chiếm diện tích?, phân bố?
- Hướng nghiêng chung của địa hình? (sử dụng kiến thức địa chất hình thành lãnh thổ
để giải thích khái quát sự khác biệt về hướng nghiêng chung của địa hình).
3. Đặc điểm từng dạng địa hình
- Miền núi
+ S?, phân bố chủ yếu ở đâu?
+ Phần lớn địa hình có độ cao? (núi cao, núi trung bình, núi thấp), độ cao trung bình?,
bộ phận núi có độ cao nhất? tập trung ở đâu? Nguyên nhân?
+ Hướng núi chính? Dẫn chứng. Giải thích sự hình thành hướng núi?
Ngoài ra, trong miền còn có hướng núi nào không? Dẫn chứng.
+ Đặc điểm hình thái địa hình. (kể thêm các kiểu địa hình khác có trong miền – nếu
có).
- Miền đồng đồng
+ diện tích?, phân bố ở đâu?
+ Độ cao?
+ Hình dạng đồng bằng.
+ Nguồn gốc hình thành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status