đảng bộ nghệ an lãnh đạo công tác phát triển văn hoá - giáo dục trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân pháp từ 1945 - 1954 - Pdf 33

trờng đại học vinh
khoa lịch sử
------------------

tống thị đức

khóa luận tốt nghiệp đại học

đảng bộ nghệ an lãnh đạo công tác phát triển
văn hoá - giáo dục trong thời kỳ kháng chiến
chống thực dân pháp từ 1945 - 1954
chuyên ngành: lịch sử đảng cộng sản việt nam

Vinh - 2010
trờng đại học vinh
khoa lịch sử
------------------

khóa luận tốt nghiệp đại học

đảng bộ nghệ an lãnh đạo công tác phát triển


văn hoá - giáo dục trong thời kỳ kháng chiến
chống thực dân pháp từ 1945 - 1954
chuyên ngành: lịch sử đảng cộng sản việt nam
Giảng viên hớng dẫn: TS. Trần Vũ Tài
Sinh viên thực hiện : Tống Thị Đức
Lớp
: 47B3 - Lịch sử


nước ta bước vào một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội.
Hòa trong bầu không khí đó của cả nước, nhân dân Nghệ An cũng đã
bước sang kỷ nguyên mới với rất nhiều thuận lợi và cũng không ít khó khăn.
Nhưng không bao lâu sau niềm vui đó thực dân Pháp quay trở lại xâm lược
nước ta, chúng muốn biến nước ta thành thuộc địa của chúng, nhưng cái dã
tâm “bẩn thỉu” đó đã không thực hiện được.Bởi vì Đảng và nhà nước ta đứng
đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân ta làm cuộc kháng chiến
trường kì để chống kẻ thù xâm lược và giành được thắng lợi, bảo vệ vững
chắc thành quả của cách mạng tháng Tám.
Nghệ An là một phần của nước ta lại là nơi giàu truyền thống cách mạng
cho nên cũng đã anh dũng, kiên cường đứng lên chiến đấu chống kẻ thù xâm
lược, không chỉ kháng chiến về mặt quân sự, quân và dân Nghệ An còn kháng
chiến trên mặt trận văn hóa giáo dục và đã đạt được những thành tựu hết sức
to lớn .Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954),
quán triệt quan điểm cơ bản kháng chiến toàn dân, toàn diện, và phương châm
chiến lược: “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”, Đảng bộ Nghệ An đã kiên
cường lãnh đạo quân dân toàn tỉnh xây dựng và bảo vệ vững chắc quê hương
mình trở thành một căn cứ địa cách mạng quan trọng và là hậu phương lớn,
dốc lòng, dốc sức, chi viện cho các chiến trường Bình - Trị - Thiên, Điện Biên
Phủ, Bắc Bộ và làm nhiệm vụ quốc tế với nước bạn Lào anh em.
Nhận thức rõ tầm quan trọng, ảnh hưởng của công tác văn hóa- giáo dục
nên ngay sau cách mạng tháng Tám thành công khi đã giành được chính
quyền, dù phải giải quyết rất nhiều công việc khác nhau nhưng Đảng bộ và
chính quyền Nghệ An vẫn dành sự quan tâm, chú ý đến công tác phát triển
văn hóa – giáo dục.Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Nghệ An may
mắn không phải trực tiếp tham gia kháng chiến nên đây là điều kiện khách
quan hết sức thuận lợi cho công tác phát triển văn hóa – giáo dục.Thắng lợi
4




Trong phạm vi cả nước:
- Cuốn “Đại cương lịch sử Việt Nam” tâp III do Lê Mậu Hãn (chủ biên) NXBGD.
- Cuốn “Tiến trình lịch sử Việt Nam” của Nguyễn Quang Ngọc (chủ
biên) - NXBGD.
- Cuốn “Lịch sử giản lược hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam” do Lê
Văn Giang biên soạn.
Trong phạm vi địa phương đây là một vấn đề mới mẻ, nó chưa được
nghiên cứu môt cách hoàn chỉnh, nó mới chỉ được đề cập một cách lẻ tẻ, vụn
vặt trong một số tài liệu:
- Lịch sử Đảng bộ Nghệ An tập 1 (1930-1954), xuất bản 1998. Chỉ đề
cập một phần nhỏ đến nội dung công tác văn hóa giáo dục dưới góc độ chủ
trương, chính sách trải dài từ năm 1930 đến năm 1954.
- Nghệ An kháng chiến chống thực dân pháp, xuất bản 1997. khái quát
về mọi mặt, mọi lĩnh vực của Nghệ An trong thời kì kháng chiến chống thực
dân Pháp trong đó có đề cập đến lĩnh vực văn hóa giáo dục nhưng chưa đầy
đủ và có hệ thống.
- 60 năm ngành giáo dục – đào tạo Nghệ An (1945-2005), xuất bản 2005.
Đây là cuốn sách khái quát quá trình hình thành và phát triển của ngành giáo
dục Nghệ An kể từ sau khi cách mạng tháng Tám thành công đến năm 2005.
Công trình chỉ đề cập một cách sơ lược tình hình giáo dục Nghệ An trong thời
kì kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954).
- Luận văn thạc sĩ “phong trào bình dân học vụ ở Nghệ An (1945-1954)
của tác giả Lê Thị Hồng phương. Đây là công trình chuyên sâu về nghiên cứu
một mảng của công tác giáo dục là phong trào Bình dân học vụ ở Nghệ An từ
năm 1945 đến 1954.
- 75 năm công tác tuyên giáo Đảng bộ Nghệ An 1930-2005
- Một số báo cáo của tỉnh ủy Nghệ An lưu trữ tại kho lưu trữ tỉnh.



7


khoa học. Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp liên ngành khác như: toán
học, thống kê….
5. Đóng góp của đề tài
Thông qua đề tài nghiên cứu của mình tôi mong muốn đóng góp thông
qua một vài phương diện sau:
- Tái hiện lại những chủ trương chính sách của Đảng bộ và chính quyền
Nghệ An đối với công tác phát triển văn hóa – giáo dục trong thời kì đầu sau
cách mạng tháng Tám.
- Lần đầu tiên phân tích đánh giá một cách cụ thể có hệ thống công tác
phát triển văn hóa – giáo dục ở Nghệ An trong thời kì đầu sau cách mạng
tháng Tám.
- Tổng kết được những thành tích trên cơ sở đó rút ra được những bài học
kinh nghiệm cho công tác phát triển văn hóa –giáo dục ở các giai đoạn sau.
- Kết quả của đề tài góp phần vào việc biên soạn lịch sử địa phương.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính
của được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: khái quát tình hình văn hóa – giáo dục Nghệ An trước cách
mạng tháng Tám năm 1945.
Chương 2: Văn hóa – giáo dục Nghệ An trong những năm đầu sau cách
mạng tháng Tám(1945 - 1949)
Chương 3: Đảng bộ Nghệ An lãnh đạo việc đẩy mạnh phát triển văn
hóa – giáo dục(1950 – 1954).
Néi dung
Ch¬ng 1.
kh¸i qu¸t t×nh h×nh v¨n ho¸ - Gi¸o dôc NghÖ an

để nghiền thành bột, để ca xẻ thành đá trang trí trong xây dựng.
Không chỉ ở các huyện miền núi, mà các huyện đồng bằng, ven biển cũng
có đồi núi xen kẽ, tuy có làm cho đồng bằng bị chia cắt, nhng đã tạo ra thế
Nông - Lâm - Ng kết hợp và cảnh quan đẹp mắt. Với nhiều vùng tiểu khí hậu,
nhiều loại đất đai khác nhau, đây chính là điều kiện để Nghệ An có điều kiện
phát triển kinh tế đa dạng, tổng hợp.
Đất đai Nghệ An khô cằn ? Không phải, có một vùng đồng bằng rộng lớn
có thể sản xuất hàng triệu tấn lợng thực mỗi năm đấy chứ. Đất đai trồng trọt
phong phú, có cả vùng đất đỏ Ba - dan màu mỡ thích hợp với các loại cây
công nghiệp dài ngày nh: cao su, chè, dâu tằm, cà phề, cây ăn quả và các loại
9


cây công nghiệp ngắn ngày nh lạc, mía. Đất phù sa ven sông, ven biển, tuy độ
màu mỡ không cao, nhng là vùng thâm canh cây lơng thực. Tuy nhiên do địa
hình dốc, lợng ma lớn nên hàng năm có khoảng 1/4 diện tích canh tác bị bào
mòn, rửa trôi khá mạnh, gây khó khăn cho việc phát triển nông nghiệp, giao
thông vận tải.
Rừng, Nghệ An có hầu hết các loại động vật, thực vật của vùng nhiệt đới
và ôn đới. Hệ thực vật rừng phong phú về chủng loại, trong đó, rừng lá rộng
nhiệt đới là phổ biến nhất. Dù bị con ngời tàn phá phũ phàng thì Nghệ An vẫn
còn nhiều khu rừng nguyên sinh, ở đó có thứ gỗ quý nh lim, Pơmu, lát hoa,
sến mật, táu, săng lẻ. Nói đến gỗ cng phải kể đến: tre, mét, nứa, song, mây
nhiều vô tận. Đấy là những nguyên liệu để xây dựng, để kiến thiết cỏc công
trình, để làm bột giấy và bao nhiêu sản phẩm mỹ nghệ cú giá trị. ở Nghệ An
còn có những khu rừng nguyên sinh nh Pù Mát, Pù Hoạt có những loại thú
rất hiếm: sóc bay, sao la...
Về Biển, Nghệ An có 92 km ng bin, có nhiều cửa lạch: Cửa Lò, Cửa
Hội, Lạch Quèn, Lạch Cờn. Biển đáy nông, tơng đối bằng phẳng. Độ mặn
trung bình 3,4 - 3,5 %. Nhờ độ mặn nh vậy mà Nghệ An làm muối có sản lợng

(tháng 6 và 7). Mùa ma bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, tập trung nhiều nhất
vào các tháng 7, 8, 9, 10. Lợng ma của các tháng này chiếm tới 80 - 95% tổng
sản lợng cả năm. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Trong
những tháng này, ở vùng núi thờng có hạn hỏn gay gắt. Riêng ở đồng bằng và
trung du thờng có ma phùn, lợng ma tuy ít nhng nhờ có nhiều ngày ma nên
độ ẩm cao giảm bớt đợc hạn hán.
Có thể nói khí hậu Nghệ An khắc nhiệt hơn nhiều vùng khác trong cả nớc, với gió Lào, hạn hán gay gắt, giông bão, lũ lụt. Tuy nhiên, nhờ có lợng
nhiệt và lợng ma dồi dào nên thời gian sinh trởng của cây trái có thể kéo dài
trong năm.
Về giao thông vn tải, Nghệ An có quốc lộ 1A xuyên việt ở phía Đông,
quốc lộ 15A xuyên việt ở phía Tây, đi suốt chiều dài Bắc - Nam của tỉnh.
Quốc lộ 7 xuất phát từ quốc lộ 1A tại ngã ba Diễn Châu đi theo hớng Tây Bắc
sang tận Xiờng Khoảng( Lào); Quốc lộ 48, Yên Lý - Quế Phong; Quốc lộ 46,
Cửa Lò - Dùng - Đô Lơng; Các tỉnh lộ 558, Vinh - Phú Thành; 534 Quán
Hành - Bảo Nham; 537 Cầu Giát - Lạch Quèn; 538 Cầu Bùng - Công Thành;
454 của Nghệ An từ ga Hoàng Mai sang ga Yên Xuân.
Về đờng thuỷ, sông Lam, sông Con rất thuận tiện cho việc vận tải lâm
sản từ miền ngợc về miên xuôi. Các con kênh nhân tạo, đặc biệt là kênh Nhà
Lê cũng là một trục giao thông đờng thủy quan trọng từ thời Tiền Lê.
Cảng Cửa Lò đợc xác định là cảng của vùng, phục vụ cho 3 tỉnh Thanh Nghệ - Tĩnh và trung chuyển cho vùng hạ Lào. Các tàu có thể neo đậu tại Hòn

11


Ng (cách cảng 7km) để trung chuyển hàng húa vào cảng. Hiện nay tàu 3.000
tấn có thể ra vào dễ dàng.
Phía Nam thành phố Vinh, có cảng sông Bến Thuỷ cảng này có từ thời
thuộc Pháp, đợc nạo vét, mở rộng vào năm 1929. Ngày nay, cảng hoạt động
nhộn nhịp và cảnh quan thêm tơi đẹp, bởi cầu Bến Thuỷ nối liền 2 bờ Nam
Bắc sông Lam.

tỉnh mới là Hà Tĩnh. Từ đó cho tới nay, về cơ bản địa giới của tỉnh Nghệ An
không thay đổi.
Trong thời kỳ Pháp thuộc, từ năm 1896 trở đi, tỉnh Nghệ An có 5 phủ:
Anh Sơn, Qu Chõu, Diễn Châu, Tơng Dơng, Hng Nguyên và sau cách mạng
tháng Tỏm năm 1945, các đơn vị hành chính cấp phủ đợc đổi thành huyện,
còn cấp tổng bị bãi bỏ. Sau khi nhà nớc thống nhất, từ năm 1976 đến 1991
Nghệ An và Hà Tĩnh hợp nhất thành tỉnh Nghệ Tĩnh. Từ tháng tỏm năm 1991
đến nay, Nghệ An lại đợc tách riêng thành một tỉnh nh từ năm 1976 về trớc.
Dân c Nghệ An đợc hình thành khá sớm, Nghệ An đợc coi là một điểm
thuộc một trong những cái nôi đầu tiên của nhân loại. Ngời nguyên thuỷ xuất
hiện trên đất nớc ta cách đây khoảng 30 vạn năm, vào thời đồ đá cũ, đợc khoa
khảo cổ học nhắc đến qua địa chỉ Núi Đọ (Thanh Hoá). Đồng thời với Núi Đọ,
trên đất Nghệ An tại bản Thắm nay thuộc xã Châu Thuận huyện Quỳ Châu có
di chỉ khảo cổ Thẩm m. ở nền hang Thẩm m các nhà khảo cổ học đã tìm
thấy trong đó có rất nhiều xơng loại động vật mà đến nay đã bị tuyệt chủng.
Đồng thời trong khi phát hiện, bên cạnh những di thể của giống ngời vợn
(Homoerectus), họ cũng đã tìm thấy những chiếc răng của giống ngời khôn
ngoan. Giới sử học khẳng định rằng: trên đất Nghệ An đã có ngời vợn c trú
cách đây khoảng 20 vạn năm.
Ngoài ra ở Nghệ An còn tìm thấy nhiều di chỉ khác chứng tỏ con ngời
nguyên thủy đã nhờ lao động mà tiến triển từ nên văn hoá này sang nên văn
hoá khác, tiến bộ hơn. Sau văn hóa Núi Đọ ở Thẩm m là văn hoá Sơn Vi
thuộc tỉnh Phú Thọ cách đây khoảng 20 vạn năm với công cụ bằng đá đã đợc
ghè đẽo thêm. Tại Đồi Dùng và Đồi Rạng ( Thanh Chơng) đã phát hiện di chỉ
thời đại cuối đồ đá cũ thuộc văn hoá Sơn Vi.
Tiếp theo là văn hoá Hoà Bình (thuộc tỉnh Hoà Bình), Nghệ An có di chỉ
loại này tại xiềng Lãm (Tơng Dơng) và hang Chùa (Tân Kỳ) .
Kế đến là văn hoá Quỳnh Văn với di chỉ Cn Sũ ip thuộc thôn Thống
Lĩnh, xã Quỳnh Văn (Quỳnh Lu ): Nơi c trú của ngời nguyên thủy thuộc thời
đại đồ đá mới, cách đây khoảng 600 năm [10, 16 ]

động sản xuất, xây dựng gia đình, làng mạc để hun đúc thành một vùng văn
hóa, là vùng văn hoá xứ Nghệ giàu sức sống và đậm đà bản sắc quê hơng.
Đạo Phật du nhập vào Nghệ An khá sớm từ thế kỷ I, tuy mức độ có
hạn, song ảnh hởng khá sâu sắc đến đời sống tâm linh của một bộ phận dân c.
So với Phật giáo, thì Thiên chúa giáo ở Nghệ An khá đông khoảng 9% dân số
trong tỉnh. Nhng trong tiến trình lịch sử, đồng bào lơng, giáo và các dân tộc ở
Nghệ An không có sự bài xích, loại trừ lẫn nhau mà ngợc lại có truyền thống
đoàn kết, đấu tranh bảo vệ và xây dựng quê hơng, đất nớc. Sự đa dạng ở địa
hình Nghệ An đã tạo cho Nghệ An nền kinh tế đa dạng. Bên cạnh nông nghiệp
là chủ đạo, dân miền núi còn có khai thác rừng, dân miền biển có nghề chài lới và làm muối. Ngoài ra, Nghệ An còn có nhiều ngành truyền thống đã nổi

14


tiếng từ lâu đời nh nghề rèn sắt Nho Lâm; ơm tơ, dệt lụa ở Quỳnh Lu, Nam
Đàn, Diễn Châu; chiếu cói Yên Lu (Hng Hoà, Vinh).
Tuy nghèo đói về đời sống vật chất, song tinh thần hiếu học trong nhân
dân, không ngừng phát huy. Thế thờng ngời ta bảo: phải kiếm cái cơm cho
đủ no rồi mới lo đến cái chữ, vì chết đói chứ không có ai chết dốt. Nhng với
ngời Nghệ đói thì đói, còn sức là cứ học [27, 40]. Ngay từ thời chữ Hán còn
đợc trọng dụng trong tỉnh không có làng xã nào không có trờng học. Các trờng này là do nho sĩ nghèo tự lập và lấy đó làm nghề sinh sống. Một số gia
đình có điều kiện hoặc t mời thầy về nhà, hoặc chung nhau nuôi thầy cho
con cháu học. Vì số đông con trai ở đây đợc đi học cho nên đàn ông Nghệ An
đợc coi là những nông dân có học. Nhà nhà nếu có chút th nhàn là trao đổi về
chữ nghĩa, văn chơng nên cái việc thuộc dăm ba câu sách qua truyền ming
không có gì là lạ đối với một số các bà. Mặt bằng về trình độ học vấn của c
dân xứ Nghệ vì thế cao hơn một số nơi. Đó là thuận lợi lớn để nơi đây có một
c sở văn hoá quần chúng phong phú và đậm đà.
Nhờ tiếp thu những lời răn dạy về đạo lý làm ngời trong sách, trong dân
gian, cùng với tinh hoa văn hoá của các địa phơng trong nớc du nhập vo, nên

quyết tâm đánh cả Triều lẫn Tây. Năm Giáp Tuất (1874), tại Thanh Chơng,
Nam Đàn đã nổi lên cuộc khởi nghĩa của Trần Tấn và Đặng Nh Mai.
Khi phong trào Cần Vơng dấy lên đã đợc nhân dân trong tỉnh Nghệ An hởng ứng một cách sôi nổi, mạnh mẽ. ở phía Bắc Nghệ An nổi lên cuộc khởi
nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhã (1885 - 1889). Các cuộc khởi
nghĩa của Phan Đình Phùng, Cao Thắng từ Hơng Khê (Hà Tĩnh) cũng đợc
nhân dân hởng ứng tham ra.
Vào cuối thế kỉ XX, cả nớc bùng lên phong trào Đông Du và các cuộc
vận động Duy Tân. Là một ngời con u tú của quê hơng Nghệ An, Phan Bội
Châu đã cùng với các nhân sĩ trí thức khác lập ra Duy Tân Hội (1904), vn
động thanh niên sang Nht du học để tìm ra phơng kế cứu vong cho dân tộc.
Các phong trào này đã lôi cuốn đợc đông đảo các tầng lớp nhân dân Ngh An
tham ra, trong đó có cả những ngời theo đạo Thiên chúa tham gia phong trào
kháng Pháp.
Sự ra đời của Đảng bộ Nghệ An đánh dấu một bớc ngoặt lớn đối với
phong trào cách mạng của tỉnh . Ngay sau khi ra đời Đảng bộ Nghệ An đã
lãnh đạo quần chúng nhân dân trong tỉnh làm nên một Xô Viết - Nghệ Tĩnh
oanh liệt đi vào lịch sử dân tộc. Tiếp đó Đảng bộ Nghệ An đã lãnh đạo nhân
dân trong tỉnh cớp chính quyền gúp phn làm nên cuộc cách mạng tháng Tỏm
năm 1945, khai sinh ra nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, mở ra kỷ nguyên
độc lập cho dân tộc.

16


Chúng ta hởng độc lập cha đợc bao lâu thì lại phải bớc vào hai cuộc
kháng chiến trờng k chống thực dân Pháp (1945 - 1954) và đế quốc Mỹ
(1954 - 1975 ). Trong 30 năm chiến tranh cách mạng ấy Nghệ An là địa bàn
chiến lợc quan trọng, là hậu phơng vững chắc cho tin tuyến không những thế
Nghệ An còn hoàn thành tt nhiệm vụ làm hậu phơng quốc tế đối với cách
mạng Lào.

1.2.2. Về giáo dục

18


Sau khi ngời lính đã hoàn thành sự nghiệp của mình thì đến lợt ngời giáo
viên thực hiện sự nghiệp của họ [19; 15]. Đây cũng là chủ trơng của bọn đế
quốc khi tiến hành cuộc chiến tranh xâm lợc.
Bọn thực dân Pháp còn lập luận rằng Một khi ngời ta muốn thay đổi
hình dáng hoặc màu sắc của một cái cây, ngời ta không thể bắt đầu với nhng
cây đã phát triển hoàn ton và sinh hoa kết quả, mà ngời ta phải tác động đến
các hạt phải chăm sóc, điều kiện việc nảy mầm và phát triển của nó trong
những miếng đất đợc chọn lọc và chuẩn bị đầy đủ [19, 15].
Với cách lập luận này, thực dân Pháp đã hiểu rõ một điều rằng nếu tấn
công trực diện vào nớc ta, một đất nớc có nền văn minh lâu đời thì thất bại
không thể tránh khỏi. Bởi vậy bọn thực dân Pháp đã phải thốt lên: Nếu chúng
ta muốn t vĩnh viễn ảnh hởng của nớc Pháp trên đất này (Việt Nam) của thế
giới, thì phải làm cho họ (ngời Việt Nam) tiêm nhiễm t tởng của chúng ta
(Pháp), dạy cho họ tiếng nói của chúng ta và do đó phải bắt đầu từ nhà trờng
và trớc tiên chú ý đến trẻ em [19, 14] chúng hy vọng thế hệ trẻ Việt Nam, trớc hết là con em của các tầng lớp trên, sẽ dần dần bị Pháp hoá sùng văn chơng và nền văn hóa pháp, coi khinh truyền thống văn hóa của dân tộc và trở
thành dân thuộc địa trung thành với mẫu quốc Pháp. Nh vậy bọn thực dân
Pháp đã thực sự bộc lộ rõ ràng ý thức muốn sử dụng giáo dục làm công cụ
phục vụ cho sự thống trị của chúng và cũng do đó chúng ta thấy rõ vì sao ngay
từ những ngày đầu xâm lợc thực dân Pháp đã quan tâm đến giáo dục, đúng nh
tên Vian đã ghi lại: Đô ốc Bôna mà nhiệm vụ là phải xây dựng mt thuộc
địa lớn ở Nam Kỳ, đã chú trọng ngay tức khắc đến việc phát triển đến cơ quan
giáo dục hoc không bao giờ Đô ốc Đơla- Grăngđie đi thăm một làng mà
không ghé vào trờng học. ông hỏi han học trò, bảo học trò viết một bài tập
hay giải những phép tính trên bảng đen. Rồi chính tự tay ông phân phát phn
thởng hay đồ chơi tới tận tay những ai trả lời tốt hơn cả [19, 14].

thị mt số trờng phổ thông học theo chơng trình của chính quốc Pháp, nhằm
thu hút nhiều con em bản xứ vào học. Tuy nhiên, hệ thống trờng tân học này
cha phát triển đợc vì nhân dân ta còn tín nhiệm các trờng học dạy chữ Hán.
Sau một thời gian, chớnh sỏch đồng hoá của thực dân Pháp không mang lại
kết quả nh chúng mong đợi. Nó vấp phải lòng yêu nớc nồng nàn và ý thức bảo
tồn văn hoá dân tộc sâu sắc của ngời Việt Nam. Một số ngời tiếp cận với nền
văn minh nớc Pháp thì tỏ thái độ hoặc nghi ngờ nền bảo hộ của mẫu quốc
Pháp với xứ sở này.
Trong quá trình tổ chức và xác lập nền giáo dục ở Việt Nam, ngời Pháp
đã tiến hành 2 cuộc cải cách giáo dục quan trọng vào năm 1906 và 1917 nhằm
xoá bỏ từng bớc nền giáo dục Nho giáo đi đến độc chiếm vũ khí tinh thần

20


này để xây dựng nền giáo dục duy nhất trong toàn quốc, dạy hoàn toàn bằng
tiếng Pháp phục vụ cho lợi ích của chủ nghĩa thực dân Pháp.
Cuộc ci cách giáo dục lần thứ nhất do toàn quyền P.Beau khởi xớng và
chỉ đạo thì giáo dục Việt Nam lúc này tồn tại song song: hệ thống trờng Pháp
- Việt và hệ thống trờng chữ Hán. Nhng kết quả của cuộc cải cách lần mt
không đáp ứng đợc những yêu cầu mà ngời Pháp đã đề ra.
Do vậy, ngày 21 tháng 12 năm 1917, toàn quyền Anbexazô, ban hành bộ
luật về giáo dục - học chính tổng quy - nhằm nắm toàn bộ quyn hnh về giáo
dục trong bản xứ. Đồng thời thành lập Hội đồng t vấn học chính Đông Dơng
vi chức năng tổng quát là giúp việc cho viên Toàn quyền Đông Dơng đề ra
những quy chế cho ngành giáo dục. Năm 1919, Anbexazô ra lệnh bãi bỏ các
trờng học chữ Hán và các khoa thi hơng, thi hội, đồng thời cấm các trờng t
hoạt động (chỉ trừ những trờng t Thiên chúa giáo do các cố đạo Tây dựng
mở).
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, ở Đông Dơng, thực dân Pháp tăng cờng chính sách khai thác thuộc địa. Chúng tuyển m rất nhiều ngời lao động

Chúng mở trờng học vi số lợng nhỏ giọt. Nghệ An là một trong những
tỉnh lớn của cả nớc nhng chúng ta thử xem ở đây giáo dục phát triển nh thế
nào?
ở Ngh An, các phủ, huyện miền xuôi thỡ 3 - 4 làng mới có một hơng trờng với một hai lớp đồng ấu. Mỗi tổng có một lớp sơ đẳng độ 3 - 4 lớp. Phủ
Diễn Châu - một vùng đất xứ Nghệ, trong con mắt của các thế lực phong kiến
phơng Bắc là địa danh thiên thời, địa lợi, nhân hoà, cũng chỉ có một trờng tiểu
học. Các tổng Hoàng Trờng, Lý Toán, Cao Xá, Vạn Phần, Nho Lâm, Thảo Xá
mới có trờng sơ đẳng. Cả miền núi Nghệ An cha có một trờng tiểu học nào.
ở Vinh và ở một số huyện lớn có thêm một số trờng t thục: Chung Anh, Tri
Tõn Tri Đức, Minh Tân. Giáo dục Nghệ An vào thời điểm lịch sử này có 11 trờng tiểu học, tổng số học sinh của các trờng sơ học và tiểu học khoảng 13
nghìn. ở bậc cao đẳng tiểu học có 4 trờng đều đặt ở Vinh, đó là Trờng Quốc
học Vinh và 3 trờng t thục: Thuận An, Lê Văn và Chính Hoá, với khoảng
1.500 học sinh. Số học sinh tiếp tục theo lên bậc trung học tính trên đầu ngón
tay, phải ra Hà Nội hoặc vào Huế mới có nơi học, tỷ lệ học sinh so với dân số
là 1,5%.
Trên cơ sở thực trạng của nền giáo dục thực dân, chúng ta rút ra mấy đặc
điểm: duy trì chính sách ngu dân, đại đa số quần chúng trong tình trạng mù
chữ, giam hãm con ngời Việt Nam nằm trong vòng quay lạc hậu bằng hình
thức dấu kín k thuật chỉ tô vẽ văn hoá Pháp bằng các môn khoa học xã hội
theo lối thực dân.
Sau hơn 80 năm bị thực dân Pháp đô hộ nhân dân Việt Nam đã từ một
dân tộc hiếu học bị biến thành dân tộc thiếu học. Đến năm 1945, sau công
22


cuộc Khai hoá văn minh, thực dân Pháp đã để lại hậu quả với 95% dân số
mù chữ.
Mảnh đất xứ Nghệ vốn có truyền thống yêu nớc, hiếu học, trọng đạo lý,
sẵn có tinh thần đấu tranh chống ỏp bức và cờng quyền, nhân dân Nghệ An
cùng với thầy trò xứ Nghệ đã có nhiều hoạt động chống lại chính sách nô dịch


cũng là một cuộc đấu tranh vô cùng gian khổ và lâu dài. Cuộc chiến tranh đó
bắt đầu từ ngay những ngày thực dân Pháp đặt chân lên nớc Việt Nam và tiếp
tục đợc đẩy mạnh sau cuộc cách mạng tháng Tỏm năm 1945 thành công. Vậy
Đảng bộ và nhân dân Nghệ An đã làm nh thế nào và kết quả của nó đã đạt đợc
là gì trong lĩnh vực giáo dục trong những năm tháng kháng chiến chống thực
dân Pháp?

24


Chơng 2
Văn Hoá - Giáo Dục Nghệ An Trong Những Năm
Đầu Sau Cách Mạng Tháng tám (1945- 1949)
2.1. chủ trơng, đờng lối của đảng bộ nghệ an về phát
triển văn hoá - giáo dục

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nớc Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà ra đời, xã hội Việt Nam từ một xã hội thuộc địa còn tàn d phong
kiến chuyển lên xã hội dân chủ cộng hoà. Đối với nhân dân ta từ địa vị nô lệ
trở thành những ngời làm chủ đất nớc. Đất nớc ta bớc vào một kỷ nguyên mới
- kỷ nguyên độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
ở Nghệ An, cuộc tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi trọn vẹn ở thành phố
Vinh - Trung tâm chính trị, văn hoá của tỉnh ngày 21 tháng 8 năm 1945. Cùng
lúc, Uỷ ban cách mạng lâm thời tỉnh ra mắt đồng bào. Đó là thành công chói
lọi của hơn 80 vạn nhân dân tỉnh Nghệ An, đợc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo đã tự giải phóng cho mình khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, quân
phiệt Nhật và triều đình phong kiến tay sai, góp phần vào thắng lợi chung của
cả nớc.
Nghệ An bớc vào thời kỳ mới trong những thuận lợi cơ bản cha hề có. Đất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status