1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hơn 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp nông dân (GCND)
Việt Nam thông qua tổ chức của mình với những tên gọi khác nhau (Nông Hội
đỏ, Hội Nông dân Việt Nam) đã luôn luôn chứng tỏ là một lực lượng đông đảo,
trung thành với Đảng, liên minh chặt chẽ với giai cấp công nhân, đấu tranh kiên
cường, bất khuất, cống hiến to lớn và quan trọng cho sự nghiệp đấu tranh giải
phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) và bảo
vệ Tổ quốc. Bộ Chính trị Khóa VI ban hành Quyết định số 42-QĐ/TW ngày 1
tháng 3 năm 1988 về đổi tên Hội liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam thành Hội
Nông dân Việt Nam. Đồng thời, nhằm đáp ứng nguyện vọng tha thiết của
GCND Việt Nam, Bộ Chính trị đã quyết định lấy ngày 14-10-1930 làm ngày
thành lập Hội Nông dân Việt Nam.
Gần 25 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam, GCND ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng của
mình trong khối liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức.
Nghị quyết Đại hội X của Đảng, khi đề ra nhiệm vụ phát huy sức mạnh đại đoàn
kết dân tộc, đã khẳng định: “Đối với giai cấp nông nhân, phát huy vai trò quan
trọng trong sự nghiệp đổi mới và công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn”1. Để đạt điều đó phải xây dựng giai cấp nông nhân vững mạnh. Điều
này chỉ có thể đạt hiệu quả khi có sự lãnh đạo của Đảng.
Đánh giá vị trí, tầm quan trọng của GCND, Hội nghị Ban Chấp hành
Trung ương lần thứ 7 khoá X nhấn mạnh: Trong lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc cũng như trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), nông nghiệp, nông dân, nông
thôn luôn có vị trí quan trọng, là cơ sở và lực lượng để phát triển kinh tế - xã hội
(KTXH) bền vững, ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn,
phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái.
Trong công cuộc đổi mới, GCND Việt Nam đã đóng góp quan trọng vào
mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, mà trước hết là CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn, Đảng phải coi trọng lãnh đạo xây dựng GCND. Song việc nghiên
cứu tìm giải pháp cho vấn đề này vãn còn là một khoảng trống khá lớn. Vì thế,
việc triển khai thực hiện đề tài cấp bộ Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây
dựng giai cấp nông dân trong giai đoạn hiện nay thực sự là vấn đề cần thiết và
cấp bách.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Xây dựng và vận động GCND đáp ứng yêu cầu của cách mạng là một
nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa chiến lược được Đảng coi trọng lãnh đạo trong
mọi thời kỳ cách mạng, với những chủ trương, giải pháp phù hợp, đem lại kết
quả to lớn. Trong công cuộc đổi mới, nhất là những năm gần đây, vấn đề nông
3
nghiệp, nông dân, nông thôn đã thu hút những cơ quan, nhà khoa học nghiên
cứu, trong đó, nhiều công trình khoa học nghiên cứu vấn đề xây dựng GCND và
Đảng lãnh đạo xây dựng GCND:
a. Các văn kiện của Đảng, của Nhà nước và của Hội Nông dân Việt Nam
1.Nghị quyết số 05 - NQ/HNTW Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khoá VII tiếp tục đổi mới và phát triển KT-XH nông thôn,
ngày 10 tháng 6 năm 1993.
2.Chỉ thị 59-CT/TW, ngày 15-12-2000 của Bộ Chính trị khoá VIII “về
tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội Nông dân Việt
Nam trong thời kỳ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn”.
3.Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 5 khóa IX Về đẩy
nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 – 2010.
4.Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 khóa IX Về
phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh.
c. Đề tài nghiên cứu khoa học
Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học KHBĐ
12: Công tác vận động nông dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội, 1999.
Cuốn sách là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học nêu trên, gồm các
bài viết chọn lọc trong các cuộc hội thảo vừa mang tính khoa học vừa mang tính
thực tiễn của nhiều đồng chí lãnh đạo, quản lí, cán bộ nghiên cứu khoa học và
chỉ đạo thực tiễn của nhiều cơ quan trung ương và địa phương. Trên cơ sở tổng
kết thực tiễn, đề tài làm rõ thực trạng công tác vận động nông dân từ 1986 gắn
với việc nghiên cứu một số vấn đề lí luận, làm rõ ưu điểm, khuyết điểm của các
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cũng như thực trạng GCND.
Mặt khác, nội dung của đề tài cũng tập trung làm rõ yêu cầu cơ bản của
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đối với nông nghiệp, nông thôn, nông dân; dự báo
những xu hướng phát triển trong 10 năm tiếp theo; đề xuất, kiến nghị một số giải
pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác vận động nông dân
trong tình hình gồm: làm rõ trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, chính quyền và
đoàn thể quần chúng các cấp trong việc chăm lo và nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần đối với nông dân; tăng cường tuyên truyền, giáo dục nông dân về ý
thức chính trị, nâng cao dân trí; phát huy vai trò của Hội Nông dân trong công
5
tác vận động nông dân; quan tâm xây dựng cơ sở vật chất đối với nông nghiệp,
nông thôn…
Các chuyên đề được quan tâm: Công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn
(PGS. TS. Nguyễn Sinh Cúc), Thực trạng tổ chức đảng ở cơ sở nông thôn,
những giải pháp để lãnh đạo cuộc vận động nông dân thực hiện công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước (PTS. Lê Văn Yên), Xoá đói giảm nghèo ở nông thôn
Việt Nam - thực trạng và giải pháp (PTS. Đàm Văn Thọ), Công tác giáo dục –
Tóm lại, các công trình khoa học nêu trên đã đề cập nhiều nội dung với
các độc độ khác nhau, có những đóng góp quan trọng đối với sự lãnh đạo về xây
dựng GCND của Đảng. Tuy nhiên, tùy theo mục đích, yêu cầu của từng công
trình, nên các nhà khoa học chưa có điều kiện luận bàn sâu về các vấn đề cụ thể
về Đảng lãnh đạo xây dựng GCND.
Hầu hết các công trình nghiên cứu đề cập chưa trực tiếp đi sâu luận bàn
về phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với GCND, chưa chỉ rõ nội
dung lãnh đạo gồm những vấn đề gì? trách nhiệm của các cấp uỷ đảng trong
việc tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và
chỉ đạo các cơ quan chức năng kiểm tra, giám sát chính quyền, các tổ chức chính
trị - xã hội triển khai chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước đối với
GCND. Trong đó, lãnh đạo phát huy vai trò của hội nông dân các cấp và các loại
hình hợp tác xã, tổ hợp tác trong việc góp phần xây dựng GCND vững mạnh
chưa được cụ thể hoá, chưa coi trọng tổng kết thực tiễn.
Còn ít các công trình nghiên cứu về GCND Việt Nam trước những thách
thức mới, nhất là khi nước ta đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại
thế giới (WTO). Một vấn đề rất cần thiết với việc lãnh đạo xây dựng GCND là
đặc điểm của GCND Việt Nam hiện nay chưa được làm rõ.
Các công trình nghiên cứu còn nghiêng về nghiên cứu lý thuyết. Nên
việc áp dụng các giải pháp đó đối với các cấp ủy địa phương còn khó khăn,
lúng túng.
Việc ban hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây
dựng GCND còn có điểm chưa thực sự chú ý đến các chính sách cụ thể đối với
nông dân từng vùng, miền. Chưa có được những dự báo có độ tin cậy cao về sự
biến đổi trong GCND Việt Nam để làm cơ sở để hoạch định chủ trương, chính
sách mới phù hợp với yêu cầu của sự phát triển.
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu trên đây, đề tài sẽ kế thừa có
chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu đó, phát triển và đưa
ra những kết luận, cung cấp những luận cứ để đánh giá đúng thực trạng GCND,
đạo xây dựng GCND của Đảng trong thời kỳ đổi mới.
8
+ Phương pháp so sánh: So sánh với tính chất, quy mô, cơ cấu, bản chất
và các giải pháp xây dựng GCND của các nước, các khu vực… Từ đó rút ra
những đặc điểm chung, phổ biến và đặc thù, tìm kiếm những giá trị tham khảo
cho nghiên cứu tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với việc xây dựng GCND
ở Việt Nam.
+ Phương pháp điều tra xã hội học: Điều tra thái độ của các nhóm xã hội
đối với vị trí, vai trò và sự biến đổi của GCND. Kết quả điều tra là căn cứ cho
việc nhận diện vị trí, vai trò, bản chất của GCND Việt Nam hiện nay, nhận xét
mặt tích cực và hạn chế của một số chủ trương, chính sách hiện hành của Đảng
và Nhà nước về GCND, đề ra các giải pháp mang tính cụ thể hơn.
+ Phương pháp thống kê và một số phương pháp mang tính bổ trợ khác
(khoa học kinh tế, khoa học pháp lý, khoa học quản lý,…).
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
+ Về mặt lý luận, đề tài góp phần làm rõ vai trò, đặc điểm của GCND
hiện nay. Đặc biệt, đề tài nghiên cứu chuyên sâu về góc độ Đảng lãnh đạo xây
dựng GCND, do đó khung lý thuyết của đề tài sẽ tập trung định nghĩa và xác
định nội dung, phương thức Đảng lãnh đạo xây dựng GCND, cụ thể hóa nội
dung, phương thức lãnh đạo vấn đề này đối với từng đối tượng: Nhà nước, Hội
Nông dân, các đoàn thể chính trị - xã hội, các trung tâm khuyến nông… Xác
định trách nhiệm cụ thể của tổ chức đảng các cấp trong lãnh đạo xây dựng
GCND.
Vận dụng khung lý thuyết vào khảo sát, đánh giá thực trạng Đảng lãnh
đạo xây dựng GCND, đề tài sẽ bổ sung một hệ tiêu chí nhận dạng, đánh giá việc
Đảng lãnh đạo xây dựng GCND.
Những đề xuất về quan điểm, giải pháp đổi mới sự Đảng lãnh đạo xây
12
Thứ nhất, nông nghiệp tiếp tục phát triển với nhịp độ khá cao theo hướng
nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả với cơ cấu ngày càng hợp lý và và
coi trọng áp dụng thành tựu khoa học công nghệ.
Cả nước đã hình thành các vùng sản xuất nông sản hàng hoá quy mô lớn,
chuyên canh và thâm canh cao, như: cây chè ở miền núi phía Bắc, lúa gạo vùng
đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng; cây ăn trái ở đồng bằng
sông Cửu Long và Đông Nam Bộ; cây cà phê và cao su ở Tây Nguyên và Đông
Nam Bộ, thuỷ sản ở Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long... Các vùng
sản xuất hàng hoá lớn tập trung đó, đã cung cấp nông sản hàng hoá và xuất khẩu
trong những năm qua và là biểu hiệu của sự hình thành phát triển nền nông
nghiệp hàng hoá lớn, khác hẳn thời kỳ trước đổi mới. Trong nhiều năm liền tốc
độ tăng trưởng nông, lâm, thuỷ sản được duy trì và phát triển với giá trị gia tăng
đạt bình quân 3,71%/năm, giá trị tổng sản lượng tăng bình quân 5,24%/năm.
Theo số liệu thống kê, đến năm 2008, tổng sản lượng cây có hạt đạt
43,258 triệu tấn (tăng gần 10 triệu tấn so với năm 2000). Giá trị sản xuất nông
nghiệp năm 2008 theo giá so với năm 1994 là 156. 6819 tỉ đồng 1. Bình quân
lương thực đầu người đạt 470 kg, an ninh lương thực được đảm bảo; mỗi năm
nước ta xuất khẩu trên 4 triệu tấn gạo, với kim ngạch trên 1 tỉ USD, cao hơn giai
đoạn 1996 - 2000 là 13,8% về lượng và 14,4% về giá trị. Về chăn nuôi: Chăn
nuôi vẫn phát triển với tốc độ khá cao 7 – 8%/năm. Sản lượng thịt hơi năm 2007
đạt 4,6 triệu tấn, tăng 22% so với năm 2000. Sản xuất thức ăn công nghiệp tăng
mạnh, đến nay có 241 nhà máy, tổng công suất 7,8 triệu tấn, tăng hơn 38% so
với năm 2001.Chăn nuôi công nghiệp theo mô hình gia trại, trang trại đang thay
thế dần chăn nuôi nhỏ lẻ ở từng hộ gia đình. Nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu
của Việt Nam hiện đã đứng hàng nhất, nhì thế giới, trong đó hạt tiêu thứ nhất,
gạo, cà phê thứ 2, hạt điều, cao su tự nhiên thứ 3, thuỷ sản đạt kim ngạch trên
với việc giao rừng, khoán bảo vệ rừng, nhiều nơi đã khai thác kinh doanh tổng
hợp (du lịch sinh thái), phát triển chế biến lâm sản, tạo nhiều việc làm mới và
tăng thu nhập cho người làm rừng.
Quan hệ sản xuất trong nông nghiệp đã chuyển mạnh theo hướng phát
triển kinh tế hộ và trang trại phù hợp với yêu cầu giải phóng sức sản xuất, thích
ứng với cơ chế thị trường. Năm 2006 cả nước có trên 113,7 nghìn trang trại hoạt
động trong các lĩnh vực trồng trọt chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, kinh doanh
lâm nghiệp. Các trang trại là đơn vị sản xuất nông sản hàng hoá lớn cung cấp
cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Do đó, cơ cấu nông nghiệp đã có sự
chuyển dịch theo hướng phát triển các cây trồng, vật nuôi có thị trường, có năng
suất, chất lượng và hiệu quả cao hơn. Trong cơ cấu nông, lâm, thuỷ sản, giá trị
1
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 12 và cả năm 2009, Tài liệu phục vụ họp báo Chính phủ thường kỳ
ngày 05 tháng 01 năm 2010.
2
http://www. gso. gov. vn/default. aspx?tabid=430.
3
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 12 và cả năm 2009, Tài liệu phục vụ họp báo Chính phủ thường kỳ
ngày 05 tháng 01 năm 2010.
4
http://www. gso. gov. vn/default. aspx?tabid=430.
14
gia tăng ngành trồng trọt giảm từ 69% năm 2000 xuống 63% năm 2007, tương
ứng giá trị gia tăng chăn nuôi, thuỷ sản tăng từ 22% lên 25%. Trong trồng trọt, tỉ
lệ đóng góp của hoa màu, cây công nghiệp và cây ăn quả tăng lên.
Việc áp dụng và chuyển giao khoa học công nghệ phục vụ sản xuất nông
15
lượng nguyên liệu và sản phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất
khẩu. Trong thuỷ lợi, nhiều công nghệ mới được áp dụng trong xây dựng và
quản lý, như công nghệ bê tông đầm lăn, kè bản nhựa, van nhựa tổng hợp, đập
xà lan di động, đập cao su, bơm di động trên ray, công nghệ điều khiển từ xa
trong quản lý, điều hành các công trình thuỷ lợi. .
Cơ khí hoá nông nghiệp có bước tiến bộ: Đến năm 2007, nhiều khâu
trong sản xuất nông nghiệp đạt tỉ lệ cơ giới hoá cao, như: làm đất đạt 70%, tưới
tiêu nước 85%, tuốt lúa 83,6%; xay xát lúa gạo đạt 95%; phát triển mạnh máy
gặt đập liên hợp phục vụ thu hoạch lúa ở đồng bằng sông Cửu Long (trong năm
2005, 2006 tăng trên 10%). Tổng công suất tàu, thuyền đánh bắt thuỷ sản năm
2006 đạt 5,8 triệu CV; công suất trung bình máy tàu tăng từ 17,5 CV/tàu (năm
1990) lên 60,6 CV/tàu (năm 2006).
Năng suất và giá trị sản xuất trong nông nghiệp tăng nhanh: Do được
ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, trực tiếp là giống cây trồng, vật
nuôi, nên hầu hết các cây trồng, vật nuôi đều đạt năng suất và chất lượng cao
hơn các năm trước. Giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích canh tác ngày càng
tăng. Nếu năm 2002 giá trị sản xuất theo giá thực tế đạt trên 17 triệu đồng/ha,
năm 2007 đạt 29,2 triệu đồng/ha/năm (tăng gần gấp đôi); vùng đồng bằng sông
Hồng đạt mức cao nhất (38,5 triệu đồng/ha, tăng 35%), thấp nhất là vùng Tây
Bắc (đạt 10,6 triệu đồng/ha, tăng 19% so với năm 2002). Xuất hiện nhiều cánh
đồng đạt 50 triệu đồng/ha/năm, một số huyện đạt trên 50 triệu đồng. Ví dụ trồng
cà rốt ở một số huyện của tỉnh Bắc Ninh trên 100 triệu/ha; một số tỉnh đạt bình
quân trên 40 triệu đồng/ha như Hải Dương, An Giang... .
Tỉ suất hàng hoá và xuất khẩu tăng nhanh: Sự chuyển dịch cơ cấu nông
nghiệp đã làm tăng nhanh tỉ trọng sản phẩm hàng hoá (gạo 20%, cà phê 95%,
cao su 85%, chè 75%, hạt điều 90%, hồ tiêu 98%). Giá trị xuất khẩu các loại
nông, lâm sản tăng nhanh, bình quân 16,85%/năm, một số có vị thế quan trọng
cuối năm 2008 cả nước có 120699 trang trại so với 57069 năm 2000 1; trong đó,
đồng bằng sông Cửu Long chiếm 50%; hai vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ
chiếm 20,4% số trang trại cả nước. Xu hướng từ năm 2001 đến nay tăng mạnh
trang trại chăn nuôi, thuỷ sản và sản xuất kinh doanh tổng hợp. Quy mô trang
trại ngày càng mở rộng, góp phần tích cực vào chuyển đổi cơ cấu sản xuất; là
mô hình sản xuất hàng hoá có hiệu quả, góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập
cho lao động nông thôn.
Kinh tế hợp tác có chuyển biến tích cực: Về tổ hợp tác, cả nước hiện có
837. 500 tổ hợp tác, đáp ứng một phần nhu cầu dịch vụ sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm cho nông dân. Nhiều tổ hợp tác mới được thành lập ở các vùng, nhất là
1
http://www. gso. gov. vn/default. aspx?tabid=430.
17
vùng đồng bằng sông Cửu Long. Một số tổ hợp tác đã huy động được vốn của
các thành viên tham gia xây dựng hạ tầng (nhất là thuỷ lợi), mua sắm máy móc,
thiết bị làm dịch vụ sản xuất cho hộ thành viên và nông dân trong vùng. Hợp
tác xã nông nghiệp, đã cơ bản chuyển đổi các hợp tác xã có trước đây và phát
triển một số hợp tác xã mới theo Luật Hợp tác xã. Thống kê năm 2008, cả nước
7592 hợp tác xã nông, lâm, ngư nghiệp. Các hợp tác xã nông nghiệp đã chú
trọng đa dạng hoá các hoạt động dịch vụ cho kinh tế hộ và phát triển một số loại
hình kinh doanh. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhiều hợp tác xã đã có tiến
bộ rõ nét so với năm 2000. Năm 2005 có 88,77% số hợp tác xã nông nghiệp
hoạt động có lãi (năm 2000 là 66,6%). Lợi nhuận thuần từ hoạt động dịch vụ sản
xuất bình quân 1 hợp tác xã nông nghiệp đạt 41,4 triệu đồng, tăng 39,4% so với
năm 2000.
Những kết quả nêu trên, là kết quả của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
phương châm: “Trung ương, địa phương; nhà nước và nhân dân cùng làm”.
Năng lực quản lý vận hành hệ thống thuỷ lợi được củng cố và tăng cường. Hệ
thống thuỷ lợi cả nước được vận hành do 100 công ty thuỷ nông với tổng số
22.569 cán bộ, công nhân viên và 12.000 hợp tác xã, tổ hợp tác. Vùng ven biển
đã tăng cường xây dựng hệ thống các cống đập ngăn mặn, giữ ngọt, nhiều công
trình đã đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng. Vùng đồng bằng sông Cửu Long
tập trung thực hiện chương trình kiểm soát lũ, phát triển thuỷ lợi, giao thông và
dân cư. Bước đầu thực hiện các công trình thuỷ lợi ven biển phục vụ nuôi trồng
thuỷ sản, gắn ngọt hoá với việc nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, nước lợ và tận
dụng, khai thác thuỷ sản mùa lũ. Về hệ thống đê, từ năm 2000 đến nay đã tập
trung thực hiện tu bổ, củng cố đê biển, đê sông từ cấp III trở lên; cứng hoá mặt
đê kết hợp giao thông và phòng chống lũ; trồng tre chắn sóng bảo vệ đê.
Về giao thông nông thôn: Với phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng
làm", giao thông nông thôn có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng.
Ngoài việc phát triển hệ thống đường giao thông nông thôn, các địa phương đã
tích cực huy động các nguồn lực tham gia xây dựng các cống qua đường, nâng
cấp và xã hội hoá hệ thống đường nội bộ xã, liên thôn, xoá cầu khỉ ở đồng bằng
sông Cửu Long... Đến năm 2007 cả nước có 8790 xã có đường ô tô đến được trụ
sở UBND xã, chiếm 96,9% tổng số xã (năm 1994 là 87,9% và năm 2001 là
94,2%); trong đó, có 8488 xã (chiếm 96,6%) có đường ô tô đi lại được quanh
năm, và có 6356 xã (chiếm 70%)… góp phần thu hút các nhà đầu tư về nông
thôn, tạo công ăn việc làm, xoá đói, giảm nghèo và giải quyết nhiều vấn đề kinh
tế, xã hội khác.
Điện nông thôn: Đến cuối năm 2006, mạng lưới quốc gia đã cấp điện cho
525/536 huyện, đạt 97,95%; 10. 522 xã, phường đạt 96,8% và 93,34% số hộ,
19
trong đó hầu hết các xã có giá điện lưới thấp hơn 700 đồng/kwh. Năm 2007 có
http://www. hids. hochiminhcity. gov. vn/Hoithao/VNHOC/TB9/cuc. pdf
http://www. hids. hochiminhcity. gov. vn/Hoithao/VNHOC/TB9/cuc. pdf
3
http://www. hids. hochiminhcity. gov. vn/Hoithao/VNHOC/TB9/cuc. pdf
2
20
Đồng thời 85,5% xã có điểm bưu điện văn hoá. Nhiều xã đã bố trí đất làm sân
vận động, nơi luyện tập thể thao cho thanh thiếu niên.
Thông tin liên lạc: Ngành Bưu chính - Viễn thông đã phát triển được hơn
11.000 điểm phục vụ thông tin liên lạc; trong đó có 2.390 bưu cục đảm bảo 91%
xã được chuyển phát báo chí đến trong ngày. Đến năm 2007, khu vực nông thôn
có 7757 xã, chiếm 85,5% số xã có điểm bưu điện văn hoá (năm 2001 là 71,9%).
Tỷ lệ xã có điểm bưu điện văn hoá được nối mạng internet đạt 20,7%. Ngoài ra
khu vực nông thôn còn có 2022 xã, chiếm 22,3%, có trạm bưu điện xã. Cả hai
loại hình điểm bưu điện văn hoá xã và trạm bưu điện xã về cơ bản đã đáp ứng
được nhu cầu thông tin liên lạc ở khu vực nông thôn. Những năm gần đây trên
địa bàn xã phát triển nhanh các điểm dịch vụ internet tư nhân phục vụ nhu cầu
truy cập thông tin của nhân dân, đến năm 2007 đó có 2952 xã (chiếm 32,5%),
với 7752 điểm internet tư nhân, bình quân 1 xã có 0,85 điểm. Số hộ có máy điện
thoại (cố định/di động) là 2,924 triệu hộ, chiếm 21,2% số hộ, tăng 15,9% so năm
2001; bình quân cứ 4,7 hộ thì có 1 hộ có máy điện thoại.
Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn: Đến năm 2007 có 70% dân
cư nông thôn có nước sinh hoạt hợp vệ sinh (trong đó khoảng 30% người dân
được dùng nước đạt tiêu chuẩn 09 của Bộ Y tế); 12% số xã có hệ thống thoát
nước thải chung; 28% xã có tổ chức thu gom rác thải và 51% người dân nông
thôn sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh.
Thứ tư, về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.
ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả các hành động phá hoại sản xuất, giữ gìn
vững chắc chủ quyền an ninh quốc gia, nhất là khu vực biên giới, hải đảo và trên
các vùng biển.
Người dân nông thôn vẫn giữ được truyền thống lao động cần cù, sáng
tạo, sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ người khó khăn và đóng góp cho đất nước. Tình
đoàn kết giữa các dân tộc, các tôn giáo và các vùng, miền tiếp tục được bảo vệ
và phát triển.
Thứ sáu, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ở hầu hết các vùng
nông thôn ngày càng được cải thiện; xoá đói, giảm nghèo đạt thành tựu lớn.
Do sản xuất phát triển, thu nhập tăng, đời sống nông dân ở đa số các
vùng được cải thiện rõ rệt. Từ năm 1996 đến nay, thu nhập bình quân đầu người
ở nông thôn tăng lên hơn 2,7 lần (năm 2006, bình quân đạt 6,1 triệu đồng/người,
theo giá hiện hành); thu nhập bình quân 1 hộ nông thôn đạt 26,1 triệu đồng, tăng
11,3 triệu đồng (tăng 75,8% so với năm 2002). Nhờ thu nhập của hộ nông dân
tăng, nên vốn tích luỹ trong dân tăng khá; năm 2006 vốn tích luỹ bình quân 1 hộ
nông thôn là 6,7 triệu đồng (tăng 3,5 triệu đồng, gấp 2,1 lần so với năm 2001).
Nông nghiệp vẫn là nguồn thu lớn nhất của hộ gia đình ở nông thôn; năm
2006 có đến 68% hộ ở nông thôn dựa chủ yếu vào sản xuất nông, lâm, thuỷ sản,
22
tiếp đến là các hộ làm dịch vụ và công nghiệp, xây dựng, tương ứng là 15% và
11%. Nhờ thu nhập của người dân tăng nên điều kiện sinh hoạt của hộ nông
thôn ngày càng được cải thiện, nhất là về nhà ở, mua sắm vật dụng lâu bền,
phương tiện đi lại và các vật dụng đắt tiền.
Chiến lược xoá đói, giảm nghèo được thực hiện từ những năm 2000,
thông qua nhiều chính sách và các chương trình cụ thể. Đến nay, về cơ bản,
nước ta đã xoá được đói. Công tác giảm nghèo được tập trung đẩy mạnh, hướng
vào các đối tượng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số. Tỉ lệ
và phát huy văn hoá truyền thống của các dân tộc ở cộng đồng nông thôn, miền
núi, vùng đồng bào dân tộc. Đến năm 2006, đã có trên 70% khu dân cư thực
hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội.
1.1.2. Những khuyết điểm, yếu kém
Bên cạnh những thành tựu nêu trên, nông nghiệp, nông thôn, nông dân
vẫn còn những yếu kém, khuyết điểm. Nghị quyết Trung ương bảy khóa X
khẳng định: “những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế
và chưa đồng đều giữa các vùng. Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc
độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt
nguồn lực cho phát triển sản xuất; nghiên cứu, chuyển giao khoa học - công
nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và
đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ biến vẫn là sản
xuất nhỏ, phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp.
Công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm, chưa thúc đẩy mạnh mẽ
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn. Các hình thức tổ chức sản
xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mạnh sản xuất hàng hoá.
Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng KT-XH
còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm; năng lực thích ứng, đối phó với
thiên tai còn nhiều hạn chế. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông
thôn còn thấp, tỉ lệ hộ nghèo cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng
xa; chênh lệch giàu, nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn,
phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc”1. Cụ thể:
Thứ nhất, nông nghiệp phát triển kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu
hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt các tiềm năng và nguồn
lực, chuyển dịch cơ cấu và đổi mới cách thức sản xuất còn chậm, phổ biến vẫn
là sản xuất nhỏ, phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều loại nông
sản thấp.
Tốc độ tăng giá trị gia tăng bình quân nông, lâm, thuỷ sản giảm từ 4,42%
(giai đoạn 1996 - 2000), 3,83% (giai đoạn 2001 - 2005) xuống còn 3,55% vào
các năm 2006, 2007; tương ứng tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất giảm từ
Việc ứng dụng khoa học, công nghệ tuy đã có bước tiến bộ, nhưng đa số
năng suất cây trồng, vật nuôi còn thấp, chậm được cải thiện về chất lượng nên
khó cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của các nước. Ở miền Bắc 85%
giống lúa có nguồn gốc từ Trung Quốc. Nhiều loại cây ăn quả của nước ta thua
kém về chất lượng so với Thái Lan... Phần lớn nông sản xuất khẩu ở dạng sơ
chế, sản phẩm có giá trị gia tăng rất thấp; chưa có thương hiệu, mẫu mã, bao bì
chưa phù hợp. Chỉ số cạnh tranh của các ngành hàng nông, lâm, thuỷ sản chỉ ở
mức trung bình hoặc dưới trung bình của thế giới (hồ tiêu 68,7; cao su 58,5; điều
51,9; chè 47,4; rau quả 47,1; lâm sản 44,6; cà phê 43,4; lương thực 42,9; chăn
nuôi 40).
25
Mặt khác, vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được kiểm tra, kiểm soát chặt
chẽ, nạn bơm chích tạp chất vào nguyên liệu thuỷ sản chưa được ngăn chặn có
hiệu quả; việc thực hiện các biện pháp để bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm ở
nhiều địa phương chưa tốt, đang gây bức xúc cho người tiêu dùng và là thách
thức lớn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Thứ hai, công nghiệp, dịch vụ nông thôn phát triển chậm, thiếu quy
hoạch, quy mô nhỏ, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao
động ở nông thôn.
Nhìn chung các nhà máy, doanh nghiệp công nghiệp mới tập trung ở ven
đô thị lớn và các thị xã, thị trấn, sự phát triển của các doanh nghiệp trên địa bàn
nông thôn còn ít và chủ yếu là quy mô nhỏ (trên 70% có vốn dưới 5 tỉ đồng), số
doanh nghiệp tham gia chế biến nông, lâm, thuỷ sản còn ít. Nhiều doanh nghiệp
áp dụng công nghệ mới, hiện đại vào sản xuất nhưng việc đào tạo lao động có
tay nghề còn quá ít nên việc thu hút lao động vốn là nông dân vào làm việc rất
hạn chế (chủ yếu là nông dân bị thu hồi đất sản xuất có độ tuổi dưới 35 tuổi).
Nhiều khu công nghiệp xây dựng ở những vùng nông thôn đã lấy đất