Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng giai cấp công nhân trong những năm 1986 đế năm 2011 - Pdf 33

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên em xin phép được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Thạc
sĩ Nguyễn Văn Dũng, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em tận tình, chu
đáo để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Em xin cảm ơn các thầy, các cô của Khoa Lịch sử Trường Đại học sư
phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu đề tài.
Sự thành công của em ngày hôm nay còn phải kể đến sự cổ vũ, động
viên và tạo mọi điều kiện của gia đình, người thân và bạn bè.
Do sự hạn chế về thời gian, nên khóa luận tốt nghiệp không tránh khỏi
những thiếu sót. Em mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo
và các bạn sinh viên.
Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 02 tháng 5 năm 2013
Tác giả khóa luận

Đại Thị Hồng


LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em với sự
hướng dẫn của Thạc sĩ Nguyễn Văn Dũng. Các số liệu, dữ liệu, kết quả trong
khóa luận là hoàn toàn trung thực. Các nguồn tài liệu trích dẫn có nguồn gốc
và xuất xứ rõ ràng. Em xin cam đoan những điều trên là đúng sự thật.

Hà Nội, ngày 02 tháng 5 năm 2013
Tác giả khóa luận


sản Việt Nam........................................................................ 17
2.1.2. Phương thức lãnh đạo xây dựng giai cấp công nhân của
Đảng..................................................................................... 23
2.1.3. Thực trạng giai cấp công nhân khi bước vào thời kỳ đổi
mới....................................................................................... 24
2.2.

Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng
giai cấp công nhân từ năm 1986 đến năm 2011............... 27

2.2.1. Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng giai
cấp công nhân từ năm 1986 đến năm 1991..........................
2.2.2. Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng giai
cấp công nhân từ năm 1991 đến năm 2001.......................... 42


2.2.3. Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng giai
cấp công nhân từ năm 2001 đến năm 2011.......................... 58
Chương 3. MỘT SỐ KINH NGHIỆM LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG
GIAI CẤP CÔNG NHÂN TRONG NHỮNG NĂM
1986 ĐẾN NĂM 2011......................................................... 71
3.1.

Nhận thức và xác định đúng vai trò của giai cấp công
nhân trong quá trình đổi mới...........................................

3.2.

71


những thập kỷ tới, đáp ứng những đòi hỏi của tình hình mới.
Trong những thập kỷ qua, do ứng dụng được những tiến bộ của khoa
học - công nghệ, chủ nghĩa tư bản vẫn tiếp tục duy trì được sự phát triển về
kinh tế. Trong khi đó các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu lại
không giành được thắng lợi trong công cuộc cải tổ, cải cách nên bị sụp đổ. Vì
thế, một số thế lực chống đối và bọn phản động quốc tế tìm mọi cách phủ
nhận lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, nhất là những luận điểm về sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Tình
hình đó đòi hỏi cần có sự nghiên cứu về giai cấp công nhân nhằm xây dựng
và phát huy vai trò của giai cấp công nhân, đưa công nhân trở thành một giai
cấp vững mạnh, tạo cơ sở xã hội vững chắc cho sự phát triển của Đảng Cộng
sản, nhất là ở các nước Đảng Cộng sản nắm chính quyền. Mặt khác, từ khi

1


tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến nay, giai cấp công nhân Việt
Nam có nhiều chuyển biến về cơ cấu, công nhân khu vực quốc doanh giảm,
có sự phân tầng trong đội ngũ giai cấp công nhân. Một bộ phận công nhân có
cổ phần trong doanh nghiệp, người có cổ phần ít, người có cổ phần nhiều.
Một bộ phận công nhân chuyển từ doanh nghiệp quốc doanh sang làm việc
trong doanh nghiệp tư nhân. Một bộ phận công nhân phải ra khỏi dây truyền
sản xuất công nghiệp khi đổi mới, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước. Sự
phát triển của nền kinh tế thị trường và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước vừa tác động mạnh mẽ vừa đặt ra yêu cầu cao đối với giai cấp
công nhân, đòi hỏi giai cấp công nhân cần tăng cường về số lượng và chất
lượng. Đồng thời, phát huy vai trò của giai cấp công nhân trước tình hình
mới. Điều đó đặt ra cho Đảng nhiệm vụ quan trọng là lãnh đạo xây dựng và
phát huy vai trò của giai cấp công nhân, tổng kết những kinh nghiệm từ thực
tiễn xây dựng giai cấp công nhân trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa,

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giai cấp công nhân có đủ
khả năng, điều kiện để đảm nhận và hoàn thành thắng lợi sứ mệnh lịch sử của
mình trong sự nghiệp đó. Về thực trạng giai cấp công nhân, tác giả đã khái
quát thành 6 đặc điểm và nêu 6 hạn chế yếu kém cần khắc phục nhằm xây
dựng giai cấp công nhân vững mạnh.
Cuốn Xu hướng biến động giai cấp công nhân Việt Nam trong những
năm đầu thế kỷ XXI, xuất bản năm 2001 đã đăng tải nhiều công trình nghiên
cứu của các nhà khoa học về giai cấp công nhân Việt Nam.
Trong cuốn Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự phát triển của giai
cấp công nhân, do PGS Cao Văn Lượng làm chủ biên, xuất bản năm 2001,
các tác giả đã khẳng định giai cấp công nhân vẫn là lực lượng tiên tiến nhất
trong xã hội tuy còn ít về số lượng so với dân số và đang có sự phân tầng,

3


phân hóa giàu nghèo. Cũng trong cuốn sách này, các tác giả đã nêu các giải
pháp xây dựng giai cấp công nhân, củng cố và tăng cường vị trí giai cấp công
nhân trong xã hội.
GS.TS Trịnh Nhu nghiên cứu về phong trào công nhân và Công đoàn,
tham gia biên soạn bộ sách Lịch sử phong trào công nhân và Công đoàn Việt
Nam, xuất bản năm 2003. Trong tập III của bộ sách, viết về phong trào công
nhân và Công đoàn Việt Nam thời kỳ 1976 – 2000, các tác giả đã tái hiện bức
tranh chân thực về giai cấp công nhân và hoạt động của Tổ chức Công đoàn
trong hơn hai thập niên cuối thế kỷ XX với nhiều tư liệu phong phú và nhận
định khoa học.
PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc từ cách tiếp cận nghiên cứu về vai trò
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước cũng
đã đề cập đến vị trí, vai trò của giai cấp công nhân. Tác giả khẳng định rằng
trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội

3.3. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu đường lối, chủ trương của Đảng và sự chỉ đạo thực hiện chủ
trương xây dựng giai cấp công nhân của Đảng từ năm 1986 đến năm 2011.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu được sử dụng trong khóa luận là các văn kiện Đại hội
Đảng, các Nghị quyết, báo cáo chính trị của Đảng về xây dựng giai cấp công
nhân, các sách báo tuyên truyền về đường lối của Đảng… Ngoài ra có sử
dụng các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước liên
quan đến vấn đề Đảng lãnh đạo xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn
hiện nay.

5


4.2. Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học lịch sử, chủ yếu
sử dụng kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Ngoài ra còn sử
dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, tổng kết thực tiễn, thống kê, so sánh
và một số phương pháp khác.
5. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận đem đến cho người đọc cái nhìn toàn diện về sự phát triển
của giai cấp công nhân Việt Nam trong những năm từ 1986 đến năm 2011.
Đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong công tác xây dựng giai cấp công
nhân Việt Nam thông qua việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng.
Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho sự phát triển của
giai cấp công nhân Việt Nam trong giai đoạn sau. Đồng thời, góp phần vào sự
nghiệp xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh.
6. Bố cục của khóa luận

sản xuất phải đi làm thuê và bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư; giai cấp vô
sản được nền đại công nghiệp rèn luyện nên có tinh thần cách mạng cao; giai
cấp vô sản đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến. Dù với tên gọi khác
nhau, khi thì nhấn mạnh đến tính chất lao động, khi thì nhấn mạnh đến sở hữu
tư liệu sản xuất, nhưng giai cấp công nhân hay giai cấp vô sản đều gồm những
người lao động vận hành công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng
hiện đại, họ không có tư liệu sản xuất nên phải làm thuê cho nhà tư bản, bị
nhà tư bản bóc lột sức lao động nên có mâu thuẫn ngày càng sâu sắc với giai

7


cấp tư sản. Muốn giải phóng mình khỏi bóc lột, bất công, giai cấp công nhân
phải đấu tranh chống lại chế độ tư bản, tiến tới xây dựng chế độ xã hội mới do
chính giai cấp công nhân là chủ thể.Trong tác phẩm Tình cảnh giai cấp công
nhân Anh, Ph.Ăngghen đã phân tích giai cấp công nhân là hệ quả của cuộc
cách mạng công nghiệp. Đại công nghiệp đã làm nảy sinh ra giai cấp công
nhân, công nhân công nghiệp là hạt nhân của phong trào công nhân. Trong tác
phẩm Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản, Ph.Ănghen đã định nghĩa
giai cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ sống dựa vào việc bán sức
lao động của mình, chứ không phải sống dựa vào lợi nhuận của bất cứ số tư
bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, toàn bộ
sự sống còn của họ đều phụ thuộc vào yêu cầu về lao động, tức là vào tình
hình chuyển biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, và những sự biến động
của cuộc cạnh tranh không gì ngăn cản nổi. Giai cấp vô sản hay giai cấp của
những người vô sản là giai cấp lao động trong thế kỷ XIX.
Đầu thế kỷ XX, V.I.Lênin đã phát triển lý luận về giai cấp công nhân
của Mác – Ăngghen trong điều kiện cách mạng tháng Mười Nga thành công,
giai cấp công nhân Nga đã giành được chính quyền và trở thành người làm
chủ. Trong tác phẩm Sáng kiến vĩ đại, Lênin đã nêu về định nghĩa giai cấp

Loại quan điểm thứ ba cho rằng: cần kế thừa và phát triển định nghĩa
của Mác, Ph.Ăngghen, Lênin về giai cấp công nhân cho phù hợp với điều
kiện mới.
Giai cấp công nhân Việt Nam là một bộ phận của giai cấp công nhân
thế giới nên khái niệm giai cấp công nhân hiện đại ở Việt Nam cũng có điểm
giống khái niệm giai cấp công nhân hiện đại nêu trên. Tuy nhiên, vấn đề quan
trọng là cần tìm ra những điểm riêng khi định nghĩa về giai cấp công nhân
Việt Nam.
Qúa trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam đã hình thành nền kinh tế nhiều
thành phần và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, điều đó đã làm thay

9


đổi cơ cấu giai cấp công nhân.Vậy giai cấp công nhân hiện nay như thế nào?
Thành phần của nó ra sao? Một số ý kiến cho rằng, giai cấp công nhân Việt
Nam bao gồm người lao động trong các xí nghiệp quốc doanh, các liên doanh,
hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, doanh nghiệp tư nhân. Một số ý kiến khác
quan niệm giai cấp công nhân Việt Nam chỉ bao gồm những người lao động
trong các doanh nghiệp quốc doanh, trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất
của cải vật chất.
Theo kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và theo quan điểm
của Đảng, giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay là một tập đoàn những
người lao động có thu nhập chủ yếu bằng lao động làm công ăn lương, sống
và làm việc gắn với sản xuất, kinh doanh, dịch vụ công nghiệp. Do lao động
trong nền công nghiệp hiện đại và đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến
trong xã hội nên giai cấp công nhân Việt Nam có vai trò đi tiên phong trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế thị trường, theo
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đưa ra khái niệm về giai cấp công nhân Việt Nam là để có cơ sở xem xét

nghĩa, có nhiều trí thức xuất thân từ các giai cấp khác, nhưng trong quá trình
cách mạng tự nguyện đứng về lập trường công nhân; trí thức nước ta có lòng
yêu nước nồng nàn và nhiệt thành cống hiến cho sự nghiệp dân giàu nước
mạnh. Sự nghiệp xã hội chủ nghĩa đòi hỏi mở rộng nền tảng của khối liên
minh công nông thành liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và
tầng lớp trí thức”.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng đã khẳng định vị trí quan
trọng của giai cấp công nhân Việt Nam trong xã hội từ đó xác định vai trò, sứ
mệnh của giai cấp công nhân.
1.2. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ
CHÍ MINH VỀ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN
Lịch sử xã hội loài người, kể từ khi có giai cấp và đấu tranh giai cấp, đã
chứng minh rằng: ở mỗi thời kỳ lịch sử nhất định, đều có các giai cấp trung

11


tâm đóng vai trò quyết định tiến trình phát triển của lịch sử. Một trong những
công lao to lớn của các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học là phát hiện ra
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh rằng: Sứ mệnh lịch sử của giai
cấp công nhân không phải là do ý muốn chủ quan của giai cấp công nhân, của
Đảng Cộng sản, cũng không phải là do ý muốn chủ quan của các ông hay bất
cứ một cá nhân nào muốn là có được, mà sứ mệnh lịch sử ấy trước hết là do
những điều kiện khách quan, chủ yếu là do địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp
công nhân quy định. Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” và nhiều tác
phẩm khác, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã luận chứng rằng:
Do địa vị kinh tế - xã hội khách quan, giai cấp công nhân là giai cấp
gắn với lực lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới chủ nghĩa tư bản và với tính
cách như vậy, nó là nhân tố quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ

phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào đấu tranh của giai
cấp công nhân. Giai cấp công nhân chỉ thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử
của mình một khi có chính Đảng. Thông qua chính Đảng của mình, giai cấp
công nhân đề ra cương lĩnh cách mạng, đường lối chiến lược, sách lược,
phương pháp và hình thức cách mạng đúng đắn, từ đó lôi cuốn, tập hợp được
đông đảo quần chúng nhân dân lao động (nòng cốt là liên minh công nhân nông dân - trí thức) đi theo mình làm cách mạng.
C.Mác, Ph.Ăngghen và Lênin là những người đã phát hiện ra chân lý về
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và đã đấu tranh không mệt mỏi để đưa
chân lý ấy vào thực tiễn ở châu Âu từ giữa thế kỷ XIX đến những năm đầu
thế kỷ XX. Ở Việt Nam, người đầu tiên tiếp thu và đưa chân lý ấy vào thực
tiễn cách mạng, không ai khác là Hồ Chí Minh.
Với lòng yêu nước nồng nàn được bắt nguồn từ truyền thống của dân
tộc, lại trực tiếp chứng kiến cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân lầm than, khổ
cực. Hồ Chí Minh sớm nung nấu ý chí cứu nước, cứu dân. Trước những phong

13


trào yêu nước sôi động của dân tộc trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX, Người rất khâm phục tinh thần yêu nước, tinh thần bất khuất của các
văn thân, sĩ phu yêu nước nổi tiếng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,
Hoàng Hoa Thám… Và mặc dù chưa hiểu hết, chưa tự giải thích ngay được,
nhưng Người vẫn cảm nhận rằng con đường cứu nước, cứu dân của các vị tiền
bối sẽ không thể đem lại cho dân, cho nước độc lập tự do thật sự. Thất bại từ
các cuộc vận động cứu nước của các sĩ phu theo cách thức phong kiến và các
cuộc vận động cách mạng theo xu hướng tư sản đương thời, càng thôi thúc
Người ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân, dù lúc đó, Người chưa hình dung
ngay được con đường cứu nước, cứu dân ấy như thế nào. Trải qua những năm
tháng đầy gian khổ, bôn ba qua nhiều châu lục, làm nhiều việc khác nhau để
sống và hoạt động cách mạng, Người đã dần tích lũy được một vốn tri thức sâu

(3/2/1930). Đây là cái mốc quan trọng đánh dấu bước phát triển của giai cấp
công nhân Việt Nam từ tự phát lên tự giác.
Qua các văn kiện của Đảng từ năm 1930, các tác phẩm của Hồ Chí
Minh và kinh nghiệm thực tế của cách mạng nước ta đã chứng minh rằng: giai
cấp công nhân Việt Nam có vai trò to lớn, quyết định đến tiến trình phát triển
của cách mạng Việt Nam. Giai cấp công nhân Việt Nam, thông qua Đảng của
mình, có đủ khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành thắng lợi và chỉ có
giai cấp công nhân Việt Nam mới có đủ tư cách lãnh đạo cách mạng nước ta
đến toàn thắng.

15


Tiểu kết chương 1
Giai cấp công nhân là một giai cấp ra đời và phát triển cùng với những
điều kiện lịch sử đã sinh ra nó: đó là nền sản xuất công nghiệp, đó là sự phân
chia giai cấp trong xã hội. Và cũng như mọi hiện tượng xã hội khác, cùng với
sự phát triển của xã hội trong điều kiện lịch sử mới, giai cấp công nhân luôn
phát triển và được bổ sung thêm những phẩm chất và đặc trưng mới. Đó cũng
là một lẽ tất nhiên. Lịch sử đã và đang trải qua những biến động sâu sắc,
những thay đổi lớn lao, nhưng giai cấp công nhân vẫn là lực lượng xã hội cơ
bản, chủ yếu, đóng vai trò quyết định sự phát triển của lịch sử.
Là một bộ phận của giai cấp công nhân hiện đại, do đó, ngoài những
đặc trưng bản chất của giai cấp công nhân hiện đại, giai cấp công nhân Việt
Nam còn có những nét đặc thù do điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở Việt
Nam quy định. Chính vì vậy, xét trong tương quan lực lượng xã hội, giai cấp
công nhân Việt Nam là giai cấp tiên tiến nhất, giác ngộ nhất, cách mạng nhất.
Kết hợp chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công
nhân, giai cấp công nhân Việt Nam đã mau chóng trưởng thành, vươn lên
nắm quyền độc tôn lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Cách mạng Việt Nam từ

cách mạng. Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, luôn luôn gan góc
đương đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý luận cách mạng tiền phong và
kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân đã tỏ ra là
người lãnh đạo xứng đáng nhất và tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam.

17


Vai trò lãnh đạo cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam được
quyết định trước hết do giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến, cách mạng
nhất trong xă hội. Giai cấp công nhân Việt Nam sau khi đã cùng các lực
lượng dân tộc thực hiện thắng lợi cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiếp
tục đảm nhận trọng trách lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhằm xây
dựng một xã hội văn minh tiến bộ, dân giàu, nước mạnh, công bằng và dân
chủ. Tuy nhiên, vốn sinh trưởng trong ở một nước thuộc địa nửa phong kiến,
công nghiệp còn chậm phát triển, đa số công nhân xuất thân từ nông dân nên
công nhân Việt Nam còn bị ảnh hưởng nhiều của tư tưởng tư hữu, sản xuất
nhỏ, tác phong lao động chậm chạp, khả năng chấp hành quy trình quy phạm
trong sản xuất còn hạn chế. Vì vậy, xây dựng giai cấp công nhân đáp ứng
được đòi hỏi của thực tiễn cách mạng Việt Nam luôn được Đảng đề ra.
Năm 1974, khi miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng sau chiến tranh
phá hoại của đế quốc Mỹ, đồng chí Lê Duẩn đã viết: “Phải có đầy đủ ý thức
rằng giai cấp công nhân đã là giai cấp nắm chính quyền, giai cấp lãnh đạo
Nhà nước là giai cấp đi tiên phong trong sự nghiệp cải tạo xã hội cũ, xây dựng
xã hội mới” [2, tr.543].
Giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo cách mạng thông qua chính đảng
của giai cấp mình, bằng tinh thần triệt để cách mạng, tính tiên phong và hành
động gương mẫu. Cho nên, xây dựng giai cấp công nhân đòi hỏi phải xây dựng
Đảng trong sạch, vững mạnh. Xây dựng Đảng của giai cấp công nhân có bản
lĩnh chính trị vững vàng, tầm nhìn sâu rộng, tổ chức, kỷ luật chặt chẽ, nghiêm

tham ô, lãng phí, bảo vệ kỷ luật lao động, phải thi đua làm tốt, nhiều, mau, rẻ.
Cải thiện sinh hoạt phải dựa trên cơ sở tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm.
Tháng 12 năm 1976, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng
đã nêu rõ quan điểm của Đảng về xây dựng giai cấp công nhân. Đó là: “Chăm
lo xây dựng đội ngũ giai cấp công nhân không ngừng lớn mạnh về số lượng
và chất lượng, xứng đáng với vai trò là giai cấp tiên phong, giai cấp lãnh đạo

19


sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Phải hoàn thiện và thực hiện đầy đủ
những quy chế nhà nước, đảm bảo cho công nhân tham gia tích cực và có hiệu
quả vào việc quản lý xí nghiệp, quản lý kinh tế, quản lý xã hội” [5, tr.152].
Tháng 3 năm 1982, Đại hội Đảng lần thứ V khẳng định: “Giai cấp công
nhân nước ta lớn mạnh hơn nhiều. Đội ngũ công nhân tăng thêm 24%, công
nhân kỹ thuật đạt tới 1,7 triệu người. Trình độ chính trị, văn hóa và nghề
nghiệp của công nhân được nâng cao một bước.Trước khó khăn lớn về sản
xuất và đời sống, giai cấp công nhân ta vẫn tỏ rõ bản chất cách mạng, giữ vững và
phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội” [6, tr.119].
Để tăng cường khả năng quản lý, tổ chức sản xuất và nâng cao chất
lượng giai cấp công nhân, Đảng chú trọng đào tạo công nhân lành nghề. Nghị
quyết Đại hội nêu rõ: “Sắp xếp lại các trường lớp dạy nghề của các Bộ, các
địa phương và các cơ sở, cải tiến công tác tuyển sinh, nâng cao chất lượng và
hiệu quả đào tạo. Xác định quy mô đào tạo công nhân hợp với yêu cầu phát
triển sản xuất, rất chú trọng việc đào tạo công nhân kỹ thuật có tay nghề cao”
[14, tr.69].
-Phát huy vai trò của tổ chức công đoàn nhằm thực hiện tốt đường lối
vận động công nhân của Đảng
Trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, xuất bản năm 1927, Hồ Chí Minh
đã viết về mục đích của công hội ở Việt Nam: “Trước là để cho công nhân đi

cốt cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định tính tất yếu của liên minh công –
nông và các tầng lớp lao động khác, coi đó là vấn đề chiến lược, vấn đề sinh
tử của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng cơ bản ấy đã được vận dụng vào
Việt Nam, trở thành chủ trương, đường lối và nhiệm vụ chiến lược của cách
mạng Việt Nam. Ngay từ khi thành lập, Đảng ta đã chủ trương: “liên lạc với
các giai cấp”, “thu phục cho được đại bộ phận dân cày”, và “hết sức liên lạc
với tiểu tư sản trí thức”[4, tr.4]. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định:

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status