đảng cộng sản việt nam lãnh đạo xây dựng phát triển kinh tế tư nhân 1991 2004 - Pdf 33

Đại học quốc gia Hà nội

Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn

-------------------------------------------

Phạm Thị Lương Diệu

Đảng cộng sản việt nam lãnh đạo phát triển
kinh tế tư nhân
thời kỳ 1991-2004

Luận văn thạc sỹ khoa học lịch sử

Hà Nội, 2005


Đại học quốc gia hà nội

trường đại học khoa học xã hội và nhân văn

-------------------------------------------

Phạm thị lương diệu

Đảng cộng sản việt nam lãnh đạo phát triển
kinh tế tư nhân
thời kỳ 1991-2004
Chuyên ngành: Lịch sử đảng cộng sản việt nam
Mã số: 5.03.16


:

Kinh tế tư nhân

4

TBTN

:

Tư bản tư nhân

5

CTCP

:

Công ty cổ phần

6

CTTNHH

:

Công ty trách nhiệm hữu hạn

7


11

CTQG

:

Chính trị Quốc gia


Mục lục
Trang
Mở đầu

2

Chương 1: quan niệm của đảng về kinh tế tư nhân trong những năm
1976-1990 và sự lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế tư nhân của đảng
giai đoạn 1991-1995

9

1.1 Sơ lược quan niệm của Đảng về kinh tế tư nhân những năm
1976-1990

9

1.2 Đảng lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế tư nhân giai đoạn
1991-1995

22


88

1


Mở đầu
1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài
Kinh tế tư nhân là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần. Dựa trên cơ sở sự hình thành kinh tế tư nhân; căn cứ vào
quan điểm của Đảng và kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước,
trong luận văn này khái niệm “kinh tế tư nhân” được hiểu là loại hình tổ chức
kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Thành phần của kinh tế tư
nhân gồm: kinh tế cá thể, kinh tế tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân. Kinh tế cá
thể là hình thức kinh tế của một hộ gia đình hay một cá nhân hoạt động dựa
trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lao động của chính hộ cá nhân
gia đình đó, không thuê mướn lao động làm thuê. Kinh tế tiểu chủ là hình
thức kinh tế do một chủ tổ chức, quản lý và điều hành, hoạt động trên cơ sở
sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và có sử dụng lao động thuê mướn ngoài
lao động của chủ; quy mô vốn đầu tư và lao động nhỏ hơn của các hình thức
doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.
Kinh tế tư bản tư nhân bao gồm các công ty trách nhiệm hữu hạn (do một số
tư nhân làm chủ), doanh nghiệp tư nhân (là do một tư nhân làm chủ) và công
ty cổ phần được thành lập theo Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Công ty.
ở các nước theo kinh tế thị trường, sở hữu tư nhân được coi là một trong
những động lực chủ yếu để phát triển kinh tế. Phát triển kinh tế tư nhân có
nhiều tác dụng: tạo ra động lực cho sản xuất kinh doanh; duy trì cạnh tranh
giúp nền kinh tế trở nên năng động hơn; đa dạng hoá các chủ thể tham gia thị
trường, góp phần khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả nguồn lao động
xã hội… Kinh tế tư nhân gắn với sở hữu tư nhân nên có thể truyền lại cho thế

nghiên cứu kinh tế tư nhân ở nước ta rất phức tạp và khó khăn nhất là trên góc
độ lịch sử Đảng. Dù vậy, cho đến nay, vấn đề kinh tế tư nhân ở Việt Nam đã
thực sự trở thành một đề tài thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học trong
và ngoài nước.
Từ khi Đảng ta chủ trương chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều
tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các nhà nghiên cứu Việt
3


Nam đã rất chú ý đến sự phục hồi và phát triển của thành phần kinh tế tư
nhân. Cho tới nay, theo thống kê chưa đầy đủ, đã có hơn 200 đầu sách, bài
viết, các đề tài nghiên cứu, hơn 60 văn bản pháp lý và hơn 30 văn kiện của
Đảng về kinh tế tư nhân hoặc có liên quan đến thành phần kinh tế tư nhân.
Nổi bật nhất là đề tài cấp nhà nước hoàn thành năm 1993: “Phát triển và
quản lý kinh tế ngoài quốc doanh” do PGS. TS. Hoàng Kim Giao làm chủ
nhiệm. Đề tài tiến hành điều tra trên 100 doanh nghiệp tư nhân tại 16 tỉnh,
thành phố khắp cả nước. Với 70 báo cáo và tham luận, 34 chương sách và
một số ấn phẩm khác, đề tài đã phác hoạ một bức tranh phong phú về kinh tế
ngoài quốc doanh ở Việt Nam: vừa đa dạng, vừa linh hoạt, vừa tuỳ tiện với
các tên gọi khác nhau; lẫn lộn giữa cái đăng ký và cái có thật, giữa tên gọi và
thực chất..v..v… rất khó kiểm định. Một thực thể kinh tế được thừa nhận
nhưng chưa định hình, nhiều biến động, nhiều thăng trầm.
Một số công trình khác có tính thực tiễn cao như:
- “Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế
thị trường ở Việt Nam” do PTS. Nguyễn Hữu Hải chủ biên, đã nghiên cứu vai
trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trường, qua đó cho thấy
ở Việt Nam các doanh nghiệp tư nhân đa phần ở quy mô vừa và nhỏ. Từ đó
tác giả rút ra kết luận: phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là phù hợp với trình
độ quản lý của các chủ doanh nghiệp ở Việt Nam và thu hút được nguồn lao
động xã hội.

Nội, 2003)…
Các công trình nêu trên đã cho thấy hiện trạng sôi động của kinh tế tư
nhân ở nước ta hiện nay. ở từng góc độ, các công trình ấy đã cung cấp những
số liệu đáng quan tâm cho các nhà nghiên cứu, có giá trị đối với việc thực
hiện luận văn này.
Tuy nhiên vẫn chưa có công trình nào khảo sát một cách có hệ thống các
chủ trương, chính sách về kinh tế tư nhân của Đảng, sự lãnh đạo, chỉ đạo phát

5


triển kinh tế tư nhân của Đảng ở Việt Nam dưới góc độ khoa học lịch sử
Đảng, nhất là những năm gần đây.
Chọn và nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hy vọng qua luận văn của mình
sẽ phần nào làm rõ thêm vấn đề Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển
kinh tế tư nhân từ năm 1991 đến năm 2004 để thấy được sự lãnh đạo của
Đảng đối với thành phần kinh tế kinh tế tư nhân. Trên cơ sở đó, luận văn đi
tới những nhận định, rút ra những bài học kinh nghiệm, đề xuất một số kiến
nghị để góp phần thúc đẩy kinh tế tư nhân ở nước ta phát triển mạnh mẽ hơn
nữa theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được ý tưởng nói trên, nhiệm vụ của luận văn là:
- Tìm hiểu và trình bày tiến trình nhận thức, các quan niệm, chủ trương,
chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế tư nhân trong thời kỳ cả
nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội mà đặc biệt là từ năm 1991 đến năm 2004.
- Trình bày những nét cơ bản nhất quá trình vận động, phát triển của kinh
tế tư nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng thời kỳ 1991-2004, những thành tựu và
hạn chế của thành phần kinh tế này trong khoảng thời gian trên.
- Rút ra những kinh nghiệm chủ yếu về sự lãnh đạo phát triển kinh tế tư

hữu tư nhân và kinh tế tư nhân.
+ Các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta về chủ trương, đường lối, chính
sách đối với kinh tế tư nhân, nhất là trong những năm 1991-2004, đây là
nguồn tư liệu quan trọng nhất.
+ Niên giám thống kê của Tổng cục thống kê từ năm 1975 đến 2004.
+ Các công trình nghiên cứu vấn đề này trên các góc độ khác nhau
- Phương pháp thực hiện đề tài này là phương pháp lịch sử, phương pháp
lôgic và sự kết hợp giữa hai phương pháp đó. Ngoài ra còn sử dụng các
phương pháp khác như thống kê toán học, lịch đại, đồng đại, so sánh…

6. Đóng góp của luận văn
Thực hiện đề tài này có thể có những đóng góp sau:
7


- Làm rõ quá trình phát triển về nhận thức và chỉ đạo phát triển kinh tế tư
nhân của Đảng trong những năm 1991-2004.
- Hệ thống hoá tư liệu và nêu lên một cách có hệ thống thực trạng phát
triển kinh tế tư nhân theo sự chỉ đạo của Đảng trong những năm 1991-2004.
- Đưa ra một số nhận xét khái quát, nêu lên những thành tựu, hạn chế của
kinh tế tư nhân từ 1991 đến 2004, rút ra một số kinh nghiệm và kiến nghị
nhằm góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác lãnh đạo phát triển kinh
tế tư nhân của Đảng trong thời gian tới.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có ba
chương:
Chương 1: Quan niệm của Đảng về kinh tế tư nhân trong những năm
1976-1990 và sự lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế tư nhân của Đảng giai
đoạn 1991-1995
Chương 2: Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân trong những năm

trong giai đoạn mới là “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm
chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng:
cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư
tưởng và văn hoá…”, và đường lối xây dựng nền kinh tế XHCN ở nước ta là
“Đẩy mạnh công nghiệp hoá XHCN, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ
9


nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội
chủ nghĩa…”
Đường lối chung của cách mạng XHCN và đường lối xây dựng kinh tế
XHCN ở nước ta trong thời kỳ quá độ do Đại hội IV đề ra dựa trên cơ sở kinh
nghiệm của cách mạng XHCN ở miền Bắc (1954 - 1975), đồng thời xuất phát
từ đặc điểm tình hình đất nước và thế giới trong giai đoạn mới. Trong đó, đặc
điểm đất nước vừa trải qua sự tồn tại khá dài hai miền Nam Bắc với hai chế
độ chính trị, kinh tế, văn hoá và tâm lý xã hội khác nhau là đặc điểm có tính
chất rất đặc biệt ảnh hưởng đến việc hoạch định đường lối và biện pháp cách
mạng cụ thể.
Thực chất quá trình cách mạng XHCN ở nước ta là quá trình kết hợp
giữa cải tạo và xây dựng, vừa xoá bỏ cái cũ, vừa xây dựng cái mới. Trong đó,
nhiệm vụ xây dựng cái mới (lực lượng sản xuất mới, cơ sở kinh tế mới, kiến
trúc thượng tầng mới, đời sống vật chất mới và đời sống tinh thần, văn hoá
mới…) là chủ yếu.
Đảng ta chủ trương đến hết năm 1980 thì hoàn thiện về cơ bản cải tạo xã
hội chủ nghĩa ở miền Nam, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội
chủ nghĩa ở miền Bắc. Cụ thể là, hoàn thành việc cải tạo các thành phần kinh
tế phi xã hội chủ nghĩa thành các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa, tức là
đưa nền kinh tế nhiều thành phần thành nền kinh tế hai thành phần, gồm kinh
tế quốc doanh (nhà nước) và kinh tế tập thể (hợp tác xã).
Chủ trương cải tạo chủ nghĩa xã hội trên cả nước thời kỳ này là theo cách

hợp pháp. Tiến tới cải tiến một bước cơ bản các chính sách lưu thông phân
phối trong cả nước nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển theo hướng kết hợp lợi
ích tập thể, cá nhân và lợi ích Nhà nước. Hội nghị còn thông qua Nghị quyết
21-NQ/TƯ Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển hàng công nghiệp tiêu
dùng và công nghiệp địa phương tạo sự bảo đảm quyền chủ động sản xuất
kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của cơ sở, thực hiện chế độ kế hoạch
hoá bao cấp và kết hợp kế hoạch hoá với sử dụng quan hệ thị trường, gợi mở
việc phát huy hết năng lực chủ động trong sản xuất và kinh doanh.
Tinh thần của hai Nghị quyết trong Hội nghị 6 BCHTƯ (khoá IV, 1979)
là nhằm tháo gỡ từng bước những ràng buộc của cơ chế quản lý kinh tế lúc
đó, mở hướng cho sản xuất “bung ra”, kích thích lực lượng sản xuất phát
triển, đáp ứng yêu cầu bức xúc của đời sống xã hội.

11


Kết quả là đến giữa năm 1979, chúng ta đã căn bản hoàn thành việc
chuyển các cơ sở tư bản tư doanh trong các ngành công nghiệp, thương
nghiệp, vận tải, xây dựng và dịch vụ quan trọng thành các xí nghiệp quốc
doanh, công tư hợp doanh, đồng thời sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở đó theo
quy hoạch từng ngành.
Tuy nhiên, các Nghị quyết của Đảng ta trong năm 1979 cũng chỉ là các
giải pháp tình thế, điều chỉnh được một số khâu quan trọng trong hoạt động
kinh tế của đất nước chưa có được một cách cụ thể những cách thức vượt ra
khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội. Nên nền kinh tế quốc dân thời lúc này có
mức độ tăng trưởng rất thấp, thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể
phát triển chậm, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh trong đó có kinh tế
tư nhân vẫn được cải tạo theo mệnh lệnh hành chính, do đó cũng không đóng
góp được bao nhiêu cho thu nhập xã hội, kết quả là nền kinh tế nước ta bị mất
cân đối nghiêm trọng, cung cầu không hợp lý, lạm phát tăng, đời sống nhân

nông nghiệp, coi đó là hàng đầu, nhưng lại chưa chỉ rõ những chính sách thiết
thực để tập trung cho nông nghiệp. Những Hội nghị tiếp theo của Trung ương
Đảng khoá V đã tập trung tìm nhiều cách để tháo gỡ cho cục diện chung về
kinh tế - xã hội những năm cuối của kế hoạch 5 năm (1981-1985) như cải
cách về giá - lương - tiền, cải cách về phân phối - lưu thông, thực hiện cơ chế
khoán sản phẩm trong nông nghiệp… nhưng đó cũng chỉ là những biện pháp
tình thế, có ý nghĩa và hiệu quả ở một mức độ nhất định.
Kế hoạch 5 năm (1981-1985), nhân dân ta đã đạt được những thành tựu
và tiến bộ quan trọng: trong sản xuất nông nghiệp và công nghiệp chặn được
đà giảm sút ở những năm 1976-1980, có được hàng trăm công trình tương đối
lớn và hàng nghìn công trình vừa và nhỏ, trong đó có những cơ sở quan trọng
về điện và dầu khí, xi măng, cơ khí, dệt, đường, thuỷ lợi, giao thông… đặt
nền móng cho cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, đại bộ phận nông dân Nam
Bộ đi vào con đường làm ăn tập thể thực hiện nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ
nghĩa, đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên đã có nhiều tiến bộ trong việc xây
dựng đời sống mới..v..v..
Nhưng, đến hết năm 1985, đất nước vẫn phải đối mặt với cuộc khủng
hoảng kinh tế - xã hội: sản xuất tăng chậm, nhiều chỉ tiêu quan trọng của kế
hạch 5 năm không đạt được, tài nguyên bị lãng phí, phân phối lưu thông rối
ren, nhiều người lao động chưa có việc làm, hàng tiêu dùng không đủ, nhà ở
13


và điều kiện vệ sinh thiếu thốn. Đặc bịêt, việc cải tạo xã hội chủ nghĩa nền
kinh tế miền Nam rất chật vật và có một hậu quả kép: bản thân mô hình kế
hoạch hoá tập trung không đẩy sự phát triển kinh tế lên được và cơ chế thị
trường cũng bị bóp méo.
Mười năm (1975-1985) Đảng lãnh đạo nhân dân ta xây dựng lại đất nước
trong bước đi ban đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã giành được
những thành tựu căn bản về các mặt kinh tế, chính trị, xã hội. Nhưng cũng

cơ chế quản lý theo kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp. Kéo theo nó là một
loạt quan niệm không được chặt chẽ và những biện pháp, chủ trương tương
ứng còn sai sót.
Quan niệm rằng phải xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ
nghĩa, vì nó xây dựng trên cơ sở tư hữu về tư liệu sản xuất, là mầm mống của
chế độ tư bản chủ nghĩa, chế độ người bóc lột người. Quan niệm rằng muốn
phát triển kinh tế và điều hành việc phân phối sản phẩm trong xã hội được
công bằng phải do một kế hoạch tập trung, quan liêu, bao cấp.
Hai quan niệm bao trùm đời sống chính trị lúc đó dẫn đến kết quả là làm
“đẻ non” quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, kéo tụt năng xuất lao động, thu
nhập quốc dân, và, tạo ra cho xã hội căn bệnh quen thụ động, ỷ lại, trông chờ,
thủ tiêu nhiều tiềm năng, sáng tạo và trách nhiệm công dân của người lao
động.
Vì duy ý chí mà trở nên phiến diện trong lý luận. Chính các nhà sáng lập
chủ nghĩa Mác đã chỉ ra rằng “kinh tế tư nhân - với tư cách là những “mảnh”
của các phương thức sản xuất trước chủ nghĩa xã hội sẽ còn chung sống với
các “mảnh” xã hội chủ nghĩa mới được khai sinh và lớn dần lên trong một xã
hội quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chừng nào mà trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất chưa cho phép “xã hội chủ nghĩa hoá” toàn bộ các quan hệ sản
xuất, thì kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân còn tồn tại và phát triển. Quá trình
chuyển hoá nó cũng diễn ra dần dần, thông qua việc cải tạo để cho các
“mảnh” tiền xã hội chủ nghĩa ngày càng chứa nhiều yếu tố xã hội chủ nghĩa
hơn; chứ không phải thủ tiêu nó thông qua mệnh lệnh hành chính” [45, 174].
Trong thời kỳ quá độ tồn tại nền kinh tế quá độ, đặc trưng cơ bản nhất
của nền kinh tế quá độ là nền kinh tế nhiều thành phần. Tính quy luật đó diễn
ra trong lịch sử phát triển của các nước đang trong thời kỳ quá độ lên chủ
15


nghĩa xã hội. V.I.Lênin còn hướng dẫn: ở các nước đi lên chủ nghĩa xã hội,

các thành phần kinh tế này để có những quyết sách phù hợp hơn trong nhiệm
vụ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VI (1986) đã ghi vào văn
kiện:“Trong nhận thức cũng như trong hoạt động, chúng ta chưa thật sự thừa
nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta còn tồn tại trong một thời
gian tương đối dài, chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp
giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ lực lượng sản xuất”, do
đó“đã có những biểu hiện nôn nóng muốn xoá bỏ ngay các thành phần phi xã
hội chủ nghĩa, nhanh chóng biến kinh tế tư nhân thành quốc doanh” [19, 23].
Có thể nói, tư tưởng đổi mới đã manh nha từ Hội nghị TƯ lần thứ 6
(khoá IV, 1979), khi Đảng ta thấy được những trở ngại, khó khăn, lực cản của
cơ chế cũ đối với sự tăng trưởng kinh tế và tới việc nâng cao mức sống của
nhân dân. Nhưng lúc đó, chủ yếu mới là đổi mới trong sự kiểm điểm, trong
những mong muốn, những bước thử nghiệm vạch lối tìm đường.
Đến Đại hội VI của Đảng, việc phát triển kinh tế tư nhân mới chính thức
được chấp nhận, và được khuyến khích đầu tư phát triển thông qua các chính
sách được ban hành tiếp theo. Đảng và Nhà nước ta đã kịp thời nhìn nhận,
đánh giá lại và chấp nhận sự phát triển của kinh tế tư nhân như một tất yếu
khách quan, kịp với xu thế chung của khu vực và thế giới.
Đảng Cộng sản Việt Nam, bằng trí tuệ và quyết tâm của Đại hội VI đã
quyết định đổi mới nền kinh tế của đất nước. Công cuộc đổi mới này nhằm
đưa nền kinh tế thoát khỏi tình trạng suy thoái, bế tắc và khủng hoảng. Thực
chất của sự đổi mới kinh tế là chuyển kinh tế từ mô hình kế hoạch hoá tập
trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nội dung của
công cuộc đổi mới kinh tế là thừa nhận một cơ cấu kinh tế nhiều thành phần,
khôi phục và cho phép các thành phần kinh tế phát triển. Đại hội đã chỉ ra sai
lầm trong việc xoá bỏ thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa và các thành phần
17




hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, luôn có tác dụng thúc
đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất” [44, 58].
Cơ cấu kinh tế là tổng thể những mối quan hệ chủ yếu cả về chất và
lượng giữa các bộ phận hợp thành, bao gồm cả kinh tế kỹ thuật và kinh tế xã
hội. Những bộ phận đó phải nhất thiết gắn bó hữu cơ với nhau, tác động phụ
thuộc lẫn nhau, làm điều kiện trực tiếp cho nhau trong sản xuất và gián tiếp
trong lưu thông.
Kinh tế tư nhân theo Đại hội VI xác định gồm: kinh tế tiểu sản xuất hàng
hoá (tiểu thủ công, nông dân cá thể, những người buôn bán và kinh doanh
dịch vụ cá thể); kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tự cung tự cấp trong một số bộ
phận đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây nguyên và các vùng núi khác. Đó là
một bộ phận hợp thành trong một chỉnh thể cơ cấu kinh tế trong cả nước.
Đảng và Nhà nước đã thừa nhận một cách khoa học về vai trò và vị trí
của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế quốc dân, xoá bỏ những thành kiến phân
biệt đối xử, gây khó khăn cho những người sản xuất kinh doanh trong khu
vực này. Để phát huy tiềm năng của kinh tế tư nhân, Đảng đã sửa đổi bổ sung,
công bố rộng rãi chính sách nhất quán đối với từng thành phần kinh tế. Những
quy định có tính chất nguyên tắc đã cụ thể hoá thành luật để mọi người yên
tâm, bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh.
Nghị quyết 29 của HĐBT (3-1988) ban hành chính sách đối với kinh tế
gia đình trong hoạt động sản xuất và dịch vụ.
Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (4-1988) quyết định đổi mới quản lý
kinh tế nông nghiệp. Đảng ta đã kiểm điểm sâu sắc sự lãnh đạo đối với nông
nghiệp, chỉ rõ tư tưởng chủ quan nóng vội trong cải tạo, gò ép nông dân vào
hợp tác xã, vào tập đoàn sản xuất, tập thể hoá tư liệu sản xuất một cách triệt
để trong khi chưa đủ điều kiện là những hạn chế rất căn bản làm cho nông
nghiệp chậm phát triển trong khi đất nước ta rất có tiềm năng về tài nguyên
đất và sức lao động trong nông nghiệp. Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khoá
19

20


tài sản và quyền lợi của người góp vốn đầu tư, đẩy mạnh tốc độ về phát triển
kinh tế. Luật Công ty được coi là bước đột phá quan trọng vào thành trì của
cơ chế quan liêu bao cấp - cơ chế “xin, cho” trước đây.
Tóm lại sự đổi mới trong tư duy kinh tế từ sau Đại hội VI (12-1986) của
Đảng là sự đổi mới về chất. Đổi mới từ cách đặt vấn đề. Vẫn trung thành với
với các nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin, vẫn trung thành với lý
tưởng xã hội chủ nghĩa của Hồ Chí Minh, nhưng Đảng phải sáng tạo trong
bước đi của mình, không trệch quỹ đạo, cũng không máy móc, giáo điều bản
vị, chú tâm vào hiệu quả, đẩy nhanh chất lượng của nền kinh tế và sự tiến bộ
xã hội, phù hợp với quy luật lịch sử, với bối cảnh quốc tế và trong nước.
Tinh thần đổi mới đường lối xây dựng đất nước trong Đại hội VI được
thể chế hoá trong các chính sách của Đảng đã tạo ra cơ sở cho việc chuyển
nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước.
Từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường,
các thành phần kinh tế tư nhân sau nhiều năm bị ràng buộc, nay được tự do
trong sản xuất kinh doanh, đã trở thành người bạn đồng hành trong nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần. Nó mau chóng được tổ chức dưới hình thức
doanh nghiệp tư nhân, công ty tư nhân và hộ cá thể. Số liệu của Tổng cục
Thống kê cho thấy từ năm 1986 đến năm 1990, tỷ trọng KTTN so với kinh tế
quốc doanh (KTQD) trong tổng sản phẩm xã hội tăng lên rõ rệt: KTQD là
34,95%, kinh tế ngoài quốc doanh (KTNQD) là 65,1%, đến năm 1988, KTQD
là 30%, KTNQD là 69,5% và tới năm 1990: KTQD là 36,3%, KTNQD là
63,7%. Số lao động thuộc thành phần KTNQD cũng tăng đều đặn: năm 1986
chiếm 85,3%, năm 1989 lên 85,8%, năm 1990 lên 88%. Ngân sách thu được
từ khu vực KTTN cũng đáng chú ý năm 1987: 17,7%, năm 1988: 21,4%, năm
1990: 22%.

Nghị quyết Trung ương sau đó được thực thi, thể hiện sức mạnh trí tuệ của
Đảng và khả năng cách mạng của quần chúng. Nhưng nền kinh tế nước ta vẫn
chưa thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng.
22


Trích đoạn Đảng chỉ đạo phát triển kinh tế tư nhân trong 5 năm 1991 Nộp ngân sách tỷ đồng 0,12 0,09 0,07 0,06 0, Chủ trương phát triển kinh tế tư nhân của Đại hội VIII của Đảng (6-1996) Đảng chỉ đạo phát triển kinh tế tư nhân trong 5 năm 1996 DNTBTN % so năm trước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status