đảng cộng sản việt nam lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 1996 2006 - Pdf 33

I HC QUC GIA H NI
TRNG I HC KHOA HC X HI V NHN VN

-----***-----

NG KIM OANH

NG CNG SN VIT NAM lãnh đạo
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
(1996 - 2006)

Chuyờn ngnh: Lch s ng Cng sn Vit Nam
Mó s: 62.22.56.01

luận án tiến sĩ lịch sử

Ngi hng dn khoa hc
PGS.TS V Quang Hin

H NI - 2011

1


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1: Lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm
1996 đến năm 2000 ........................................................................................ 19
1.1. Những yếu tố tác động đến quá trình hoạch định chủ trương của Đảng
về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp .................................................... 19
1.1.1. Yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội ....................................................... 19

1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam nông nghiệp, nông dân và nông thôn có vai trò quan trọng
trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Hiện nay, là nước nông
nghiệp đang trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, vấn đề nông nghiệp, nông
dân và nông thôn vẫn chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
của Đảng (2006) khẳng định: “Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông
nghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng” [69,
tr.190]. Trong phát triển nông nghiệp thì chuyển dịch CCKTNN đóng vai trò
quan trọng hàng đầu. Vấn đề này nếu được đặt đúng vị trí của nó và giải
quyết một cách khoa học, sẽ trở thành những yếu tố tác động trực tiếp đến sự
phát triển bền vững, không chỉ riêng của ngành nông nghiệp, sự phát triển
kinh tế - xã hội, mà còn góp phần giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh
quốc phòng.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã dành
nhiều tâm sức và trí tuệ để lãnh đạo phát triển nền nông nghiệp theo hướng
phát triển toàn diện, hiện đại và tiến tới bền vững, xây dựng nông thôn phát
triển theo hướng văn minh, hiện đại. Xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng quy luật
khách quan, tư duy ngày càng được đổi mới của Đảng về nông nghiệp, về
CCKTNN theo hướng CNH, HĐH thể hiện qua các chủ trương, đường lối, đã
giải đáp đúng và trúng những vấn đề bức xúc do thực tiễn đặt ra.
Sau 20 năm đổi mới (1986-2006), dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng,
nông nghiệp - với tư cách là một bộ phận cấu thành nền kinh tế, đã có được
những thay đổi lớn, trong đó dấu ấn quan trọng là sự chuyển dịch CCKTNN.
Điều đó thể hiện rõ, từ một nền nông nghiệp được quản lý theo cơ chế kế

3


hoạch hóa tập trung, đã chuyển sang nền nông nghiệp vận hành theo cơ chế

lâm nghiệp và thủy sản; chuyển mạnh sang sản xuất các sản phẩm có thị
trường và hiệu quả kinh tế cao; đẩy mạnh thâm canh các loại cây trồng trên cơ
sở áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến, đồng bộ. Chuyển dịch CCKTNN phải
nhằm vẫn đảm bảo vững chắc an ninh lương thực, với xây dựng các khu,
vùng nông nghiệp hàng hóa và bảo vệ môi trường sinh thái. Việc nghiên cứu,
đánh giá khách quan, đầy đủ quá trình lãnh đạo, chỉ đạo chuyển dịch
CCKTNN sẽ góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn để Đảng tiếp tục đổi mới
đường lối phát triển nông nghiệp, góp phần nhanh chóng đưa đất nước đến
năm 2020 về cơ bản thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Vì
vậy, nghiên cứu quá trình lãnh đạo, chỉ đạo chuyển dịch CCKTNN là việc
làm cần thiết nhằm khẳng định rõ hơn vai trò lãnh đạo của Đảng trong phát
triển kinh tế nông nghiệp thời kỳ đổi mới. Với những lý do đó, chúng tôi chọn
đề tài “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp (1996-2006)” làm Luận án tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nông nghiệp là lĩnh vực quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Đổi mới,
phát triển nông nghiệp được Đảng xác định là mặt trận hàng đầu của sự
nghiệp đổi mới đất nước. Do vậy, việc nghiên cứu đường lối phát triển nông
nghiệp, tổng kết, đánh giá những thành tựu, hạn chế trong quá trình thực hiện
đường lối đó là lĩnh vực thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà
nghiên cứu và các nhà quản lý, được thể hiện trong nhiều tác phẩm, nhiều
công trình nghiên cứu khoa học. Cho đến nay, trên những cấp độ khác nhau,
đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh vực nông nghiệp nói
chung và chuyển dịch CCKTNN nói riêng, có thể khái quát và phân loại
thành một số nhóm sau:
2.1. Công trình khoa học nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn.

5




Nhà nước đối với vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn, tái hiện lại bức
tranh toàn cảnh của nông nghiệp, nông thôn thời kỳ đổi mới; khảo sát thực
tiễn ở một số tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ trong quá trình thực hiện CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Một số đề tài đã làm rõ phương hướng, mục tiêu, biện pháp chủ yếu để
thực hiện chuyển dịch CCKTNN thời kỳ đổi mới, những năm từ năm 1986
đến năm 2006; đến năm 2010 và năm 2020.
Nhìn chung, các công trình cấp Nhà nước, cấp Bộ nêu trên đã nghiên
cứu một cách tương đối toàn diện, sâu sắc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn,
chuyển dịch CCKTNN, cơ cấu lao động thời kỳ đổi mới; một số công trình
còn đề xuất phương hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn đến năm 2010
và năm 2020. Tuy nhiên, vấn đề Đảng lãnh đạo chuyển dịch ngành kinh tế
nông nghiệp thời kỳ 1996-2006 thì chưa có công trình nào đề cập một cách
toàn diện và sâu sắc.
2.2. Các công trình, các sách chuyên ngành về kinh tế nông nghiệp, nông
thôn. Đáng chú ý là:
- Góp phần phát triển bền vững nông thôn Việt Nam, của Nguyễn Xuân
Thảo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004. Nội dung cuốn sách
gồm những vấn đề nông nghiệp, nông thôn mang tính chiến lược, những vấn
đề sử dụng đất đai, an ninh lương thực, quy hoạch các vùng kinh tế, vấn đề
việc làm ở nông thôn, lợi ích người lao động; phân tích, luận giải đóng góp ý
kiến cho vấn đề sản xuất lương thực, quy hoạch các vùng kinh tế, vấn đề việc
làm ở nông thôn... Đây không phải là cuốn sách viết chuyên về chiến lược
phát triển nông nghiệp, nông thôn, nhưng có một số bài đã đề cập đến các
phần là những vấn đề lớn ở tầm chiến lược đối với phát triển nông nghiệp,
chuyển dịch CCKTNN.
- Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam, của PGS,TS Bùi Tất




Nguyễn Trần Quế làm Chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội,
2004, đã đi sâu phân tích và đánh giá một cách tổng quát sự chuyển dịch
CCKT Việt Nam trong những năm 1990-2002; nêu lên những điểm mạnh,
yếu, xu hướng chuyển dịch và các giải pháp thúc đẩy chuyển dịch CCKT
nhanh hơn. Bằng những số liệu phong phú có nguồn từ Tổng cục Thống kê
Việt Nam, các báo, tạp chí, cơ quan trong nước, kết hợp với sự luận giải khoa
học, cuốn sách đã cung cấp một bức tranh tổng quát về chuyển dịch CCKT
của Việt Nam trong những năm 1990-2002.
- Nông nghiệp, nông thôn Nam Bộ hướng tới thế kỷ XXI, của PGS,TS
Lâm Quang Huyên, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002. Đây là
công trình nghiên cứu về lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, nông dân có ý
nghĩa rất quan trọng về lý luận và sinh động về thực tiễn, đã tạo dựng một bức
tranh về nông nghiệp, nông thôn khu vực đồng bằng sông Cửu Long và Đông
Nam Bộ. Cuốn sách đã giới thiệu những thành tựu về các mặt: sản xuất, xây
dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, quan hệ sản xuất mới, nông thôn mới ở Nam
Bộ với những tư liệu phong phú, hình ảnh sống động; phân tích những thuận
lợi và khó khăn, những xu hướng chung và riêng trong nông nghiệp khi bước
vào thế kỷ XXI, làm rõ vai trò và nhiệm vụ của nông nghiệp, nông thôn Nam
Bộ trong quá trình CNH, HĐH đất nước.
- Nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, Trung tâm tư vấn đầu tư hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn
VACVINA (CECARDE), do PTS Đặng Thọ Xương (Chủ biên), Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997. Cuốn sách tập hợp nhiều nguồn tài liệu, kể
cả những số liệu điều tra và tính toán theo phương pháp mới, đặc biệt coi
trọng phương pháp phân tích thống kê, cuốn sách đã đưa ra những nhận xét
đánh giá thực trạng nông nghiệp, nông thôn, thực chất của những thành tựu đã

9



- Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới: Quá khứ
và hiện tại, của PGS, TS Nguyễn Văn Bích, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2007. Đây là cuốn sách tham khảo có ý nghĩa quan trọng trong việc
nhìn nhận một cách khá toàn diện lịch sử phát triển nông nghiệp, nông thôn
và nông dân Việt Nam trong thế kỷ XX, nhất là trong 20 năm đổi mới. Cuốn
sách phác họa bức tranh toàn cảnh về lĩnh vực nông nghiệp đến năm 2006,
làm sáng tỏ nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn trong nông nghiệp, nông
thôn, về quan hệ sản xuất, cơ chế quản lý. Đặc biệt, còn nêu lên được bối
cảnh về sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam nói chung, nền nông nghiệp,
nông thôn nói riêng.
- Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
trong thời kỳ mới, của TS Lê Quang Phi, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2007, đã phân tích sự lãnh đạo của Đảng trước yêu cầu khách quan
của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Đảng lãnh đạo đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn những năm 19962006. Một số kinh nghiệm Đảng lãnh đạo sự nghiệp CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn.
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam Con đường và bước đi, của GS,TS Nguyễn Kế Tuấn (Chủ biên), Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006. Cuốn sách được hình thành trên cơ sở kết
quả nghiên cứu đề tài khoa học “Con đường, bước đi và các giải pháp chiến
lược để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn”
mã số KX 02 - 07 thuộc Chương trình khoa học cấp nhà nước “Công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam - Con đường và bước
đi” mã số KX-02. Thông qua những lý giải có tính tổng quát về con đường,
bước đi và các giải pháp thực hiện công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp và

11



Ngoài ra còn một số cuốn như: Nông nghiệp, nông thôn thời kỳ đổi mới
1986-2002, của PGS,TS Nguyễn Sinh Cúc, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội,
2003; Nông nghiệp nông thôn Việt Nam - 20 năm đổi mới và phát triển, TS
Đặng Kim Sơn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006; Chuyển đổi
cơ cấu kinh tế nông nghiệp, của Viện kinh tế nông nghiệp xuất bản, 2004;
Đánh giá thực trạng của quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và
nông thôn giai đoạn 1996-2002, của Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp
Việt Nam xuất bản, 2004; Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với phát
triển nông nghiệp Việt Nam, của TS Nguyễn Từ (Chủ biên), Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008...
Nội dung những cuốn sách cũng nêu rõ thực trạng các vấn đề về nông
nghiệp, nông thôn, những thành tựu, khó khăn, tồn tại; những định hướng và
kiến nghị, giải pháp nhằm đưa nông nghiệp, nông thôn ngày càng phát triển.
Những cuốn này không chỉ đề cập đến những vấn đề mang tính chiến
lược, mà còn cả những vấn đề rất cơ bản, những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu
của nông nghiệp, nông thôn như sử dụng đất đai, an ninh lương thực, quy
hoạch các vùng kinh tế, vấn đề việc làm ở nông thôn, lợi ích người lao
động...; đi sâu phân tích và đóng góp ý kiến cho phương hướng phát triển của
những lĩnh vực, chuyên ngành lớn của nông nghiệp như vấn đề phát triển cây
công nghiệp, vùng nguyên liệu, nuôi trồng thủy sản, phát triển lâm nghiệp.
Những cuốn sách này là tài liệu nghiên cứu về phát triển nông nghiệp, nông
thôn, chuyển dịch CCKTNN rất đáng quan tâm.
Một số công trình đã trình bày những bước phát triển của kinh tế nông
nghiệp Việt Nam; đánh giá những thành tựu đạt được trong 20 năm đổi mới
của kinh tế nông nghiệp và bước đầu đề ra những giải pháp tiếp tục phát triển
nền nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH. Tuy nhiên, chưa có công trình nào

13




điều hành, chỉ đạo của Nhà nước. Nhiều cuốn sách đã làm sáng tỏ một số vấn
đề về lý luận và thực tiễn trong nông nghiệp, nông thôn, về quan hệ sản xuất,
cơ chế quản lý, bước đầu tổng kết quá trình đổi mới tư duy của Đảng về
CNH, HĐH đất nước và sự chỉ đạo thực hiện, cung cấp thêm tư liệu tham
khảo quý về lĩnh vực nông nghiệp và chuyển dịch CCKTNN.
Các công trình nêu trên mặc dù đã đi sâu nghiên cứu chủ trương, chính
sách của Đảng, về cơ chế quản lý nông nghiệp, chính sách đất đai, thuế và
chính sách phát triển nông nghiệp, vấn đề CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn, một số công trình đã đề cập sâu đến sự lãnh đạo của Đảng, của đảng bộ,
nhưng chỉ ở một số vùng, miền, một số tỉnh trong phát triển nông nghiệp,
trong chuyển dịch CCKT, ở những thời kỳ nhất định. Tuy nhiên, cũng chưa
có công trình nào nghiên cứu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về chuyển dịch
CCKTNN những năm 1996-2006.
2.4. Ngoài ra còn có các bài viết nghiên cứu về quá trình phát triển của
nền nông nghiệp; sự lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
hoặc một số vấn đề có liên quan đến CCKTNN, được đăng tải trên các tạp
chí, website, bản tin và các phương tiện thông tin đại chúng. Đáng chú ý là
bài của các tác giả: Nguyễn Đình Bích, “Phát triển công nghiệp nông thôn khâu mấu chốt trong chiến lược phát triển nhanh và bền vững nông nghiệp,
nông thôn”, Tạp chí Cộng sản, số 17, tháng 6-2003; Đỗ Kim Chung, “Công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở các vùng kinh tế - lãnh
thổ Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 25, tháng 6-1999; Nguyễn
Sinh Cúc, “Tổng quan nông nghiệp nước ta sau 15 năm đổi mới (19682000)”, Tạp chí Cộng sản, tháng 5-2001; Phan Diễn, “Tạo bước chuyển mạnh
hơn nữa tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”,
Tạp chí Cộng sản, số 28, tháng 10-2002; Nguyễn Tấn Dũng, “Để nông
nghiệp, nông thôn phát triển bền vững, nông dân giàu hơn”, Tạp chí Cộng

15



Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc với chủ đề “Những vấn đề lý luận
và thực tiễn về nông nghiệp, nông dân, nông thôn - Kinh nghiệm Việt Nam,
kinh nghiệm Trung Quốc” được tổ chức tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khách
Hòa, từ ngày 31-10-2008 đến ngày 02-11-2008.
Hội thảo góp phần làm rõ những nhận thức lý luận và thực tiễn về vấn đề
nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình CNH, HĐH và hội nhập
kinh tế quốc tế của hai nước. Hội thảo đã đáp ứng nhu cầu cấp bách về lý luận
cũng như tổng kết thực tiễn, phản ánh những kinh nghiệm quý báu rút ra từ
quá trình thực hiện chính sách đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn của
Việt Nam và chính sách “tam nông” của Trung Quốc; cung cấp những thông
tin rất quý về tình hình phát triển nông nghiệp, nông thôn và vấn đề nông dân
của Việt Nam và Trung Quốc; đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đòi hỏi
phải tiếp tục nghiên cứu để phù hợp với đặc điểm và điều kiện của nông
nghiệp, nông dân và nông thôn.
Các sách, bài báo và công trình nghiên cứu các ý kiến tham luận tại Hội
thảo là cơ sở để tác giả luận án có thể kế thừa, tiếp cận tư liệu và sự kiện lịch
sử, học hỏi phương pháp nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài.
Tuy nhiên, trong các công trình đã được công bố, hầu hết đều tập trung
nghiên cứu về phát triển kinh tế nông nghiệp nói chung trên phạm vi cả nước
hoặc trên một vùng kinh tế - lãnh thổ trọng điểm có nhiều điều kiện thuận lợi
và có điểm xuất phát cao hoặc chỉ trình bày, đánh giá những thành tựu của
nông nghiệp với tư cách là một bộ phận cấu thành nền kinh tế; hoặc đi vào
từng lĩnh vực cụ thể của kinh tế nông nghiệp như cơ chế quản lý, đổi mới
chính sách, CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn..., mà chưa có công trình nào
nghiên cứu toàn diện, sâu sắc vấn đề Đảng lãnh đạo, chỉ đạo quá trình chuyển
dịch CCKTNN từ năm 1996 đến năm 2006.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận án

17




luận án
5.1. Cơ sở lý luận:
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, nghị quyết, chỉ thị của Đảng Cộng
sản Việt Nam về phát triển nông nghiệp, nông thôn, về chuyển dịch
CCKTNN.
5.2. Nguồn tư liệu:
- Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin và Hồ Chí Minh về
nông nghiệp, CCKTNN.
- Các văn kiện, nghị quyết của Đại hội Đảng, Ban Chấp hành Trung
ương Đảng; các chỉ thị, nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về nông
nghiệp, CCKTNN.
- Các nghị quyết, quyết định của Chính phủ và các bộ, ngành có liên
quan; các nghị quyết của tỉnh, thành tiêu biểu.
- Một số luận án, luận văn, các công trình nghiên cứu liên quan đến đề
tài của tập thể, cá nhân các nhà khoa học.
5.3. Phương pháp nghiên cứu:
Luận án được thực hiện chủ yếu theo phương pháp lịch sử và phương
pháp lôgíc, kết hợp sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp
thống kê, so sánh.
6. Đóng góp khoa học của luận án
- Trình bày có hệ thống quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về
phát triển nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH, về chuyển dịch CCKTNN từ
năm 1996 đến năm 2006; phân tích góp phần làm rõ thêm sự phát triển nhận
thức của Đảng về CCKT ngành nông nghiệp, sự chuyển dịch CCKTNN tác
động đến phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.
- Góp phần tổng kết thực tiễn và lý luận, gợi mở một số vấn đề đặt ra


sử để lại, cùng với sự hạn chế trên nhiều mặt, CCKTNN đa số mang tính
thuần nông, trồng trọt là chủ yếu; trong đó độc canh cây lương thực. Nhưng
với xu thế chung của thế giới, sự tiến bộ của khoa học công nghệ và sự đa
dạng của nhu cầu thị trường nông sản, CCKTNN các nước đang phát triển,
trong đó có Việt Nam, đang chuyển dịch dần theo hướng phát triển toàn diện,
tập trung, quy mô lớn, đa canh cây trồng, vật nuôi và dịch vụ nông nghiệp.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp tồn tại, phát triển mang tính khách quan.
điều đó có nghĩa là không thể áp đặt một CCKTNN chung cho một quốc gia,
một vùng, một địa phương, theo ý muốn chủ quan của con người. CCKTNN
vốn là kết quả tổng hoà của các yếu tố khác nhau, sản xuất và dịch vụ nông
nghiệp, khách quan và chủ quan. Yếu tố khách quan là các điều kiện tự nhiên,
hệ sinh thái cây trồng, vật nuôi, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi
nước, mỗi vùng, mỗi địa phương... Yếu tố chủ quan là vai trò lãnh đạo của

21


Đảng và Nhà nước, thông qua chủ trương, đường lối của Đảng; cơ chế, chính
sách của Nhà nước, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật áp dụng trong trồng trọt,
chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng và chăm sóc rừng, dịch vụ nông, lâm,
thủy sản. Mối quan hệ, tác động của từng yếu tố đó được biểu hiện bằng
tương quan số lượng và chất lượng, và phụ thuộc vào nhiều yếu tố vừa đa
dạng vừa phức tạp. Mỗi yếu tố đều có ảnh hưởng đến CCKT và sự chuyển
dịch CCKT theo thời gian và không gian. Các yếu tố gắn kết với nhau, tạo
thành một hệ thống các mối quan hệ qua lại và tác động đến quá trình hình
thành và biến đổi của CCKTNN nói chung, cơ cấu từng ngành nghề trồng
trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản nói riêng. Các yếu tố đó có thể tác động
theo chiều hướng tích cực, thúc đẩy quá trình đó. Nhưng cũng có thể tác động
theo chiều hướng tiêu cực, làm chậm quá trình chuyển dịch CCKT ở mức độ
khác nhau. Bởi vậy, cần nhận thức đầy đủ vai trò và mức độ tác động của

tác động của nhiều yếu tố trong đó có yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, và
quy mô, tốc độ chuyển dịch CCKTNN cũng chịu tác động của các yếu tố cơ
bản đó.
- Yếu tố tự nhiên
Yếu tố tự nhiên bao gồm: đất đai, nguồn nước, vị trí địa lý, địa hình, khí
hậu, thời tiết, hệ sinh thái cây trồng, vật nuôi, rừng, biển... Nhóm yếu tố tự
nhiên có vai trò quyết định đối với sự hình thành và biến đổi của CCKTNN.
Bởi vì, trong CCKTNN, đối tượng chính là cây trồng, vật nuôi. Sản xuất nông
nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đều gắn liền với các yếu tố tự nhiên một cách
chặt chẽ vì cây trồng, vật nuôi đều chịu tác động trực tiếp của các yếu tố sinh
học, đất đai, rừng, biển, thời tiết, khí hậu, nguồn nước... Quá trình phát triển
cây trồng, vật nuôi gắn liền với các điều kiện tự nhiên của từng vùng, từng địa
phương. Vì vậy, cần tận dụng những điều kiện thuận lợi, tránh những yếu tố
không thuận lợi của tự nhiên để tạo ra nhiều sản phẩm nông nghiệp, với chi
phí thấp nhất mà đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất trên từng đơn vị
diện tích đất đai, mặt nước hoặc trên đầu gia súc, gia cầm, nhằm tăng thu
23


nhập, cải thiện đời sống cho người lao động.
Trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay
thế. Nguồn nước là nguồn sống của đất đai, cây trồng, vật nuôi. Vì vậy,
chuyển dịch CCKTNN của từng vùng, từng địa phương cũng như cả nước
trước hết phụ thuộc vào yếu tố đất đai và nguồn nước.
Về đất đai, theo số liệu Bộ Tài nguyên và Môi trường, năm 2000, trong
hơn 33,069 triệu ha đất tự nhiên của cả nước, đất nông nghiệp có 20,948 triệu
ha (theo phân loại của Luật Đất đai năm 1993), được phân chia ra như sau:
đất sản xuất nông nghiệp có 8,868 triệu ha, đất lâm nghiệp có 11,688 triệu ha,
đất mặt nước nuôi trồng thủy sản có 368,4 nghìn ha, đất làm muối 18 nghìn
ha, đất nông nghiệp khác 5,19 nghìn ha [156].

720m2/người;

Tây

Nguyên

2.098m2/người; Đông Nam Bộ 1.077m2/người, đồng bằng sông Cửu Long
1.875m2/người [156].
Đất lâm nghiệp: các vùng có diện tích đất lâm nghiệp nhiều gồm: Vùng
miền núi, trung du Bắc Bộ, có 5294,8 nghìn ha. Vùng Bắc Trung Bộ có
3135,8 nghìn ha. Vùng Tây Nguyên có 3073,7 nghìn ha (năm 2000), chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng quỹ đất nông nghiệp cả nước [156]. Trong những năm
đổi mới, đặc biệt là bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, hoạt động lâm
nghiệp từ chỗ dựa vào thành phần kinh tế quốc doanh là chủ yếu đã chuyển
sang phát triển lâm nghiệp xã hội với sự tham gia của nhiều thành phần kinh
tế. Hình thức khai thác cũng chuyển từ khai thác rừng tự nhiên là chính sang
trồng và chăm sóc rừng, đã tạo thuận lợi cho quá trình chuyển dịch cơ cấu sản
xuất lâm nghiệp và cơ cấu sử dụng đất rừng theo hướng tăng hiệu quả sử
dụng đất.
Đất nuôi trồng thủy sản: năm 2000 cả nước có 368,4 nghìn ha, chiếm
1,76% tổng diện tích đất nông nghiệp; có 1,13 triệu ha đất sông suối và mặt
nước chuyên dùng, chủ yếu là do tăng diện tích đất có mặt nước chuyên dùng
của các hồ chứa nước mới xây dựng, có thể tận dụng để nuôi thủy sản [150].
Bờ biển Việt Nam có chiều dài 3.260km, bao bọc lãnh thổ ở 3 hướng
Đông, Nam và Tây Nam; trung bình 100km2 đất liền có 1km bờ biển (cao gấp
6 lần tỷ lệ của thế giới). Dọc bờ biển có một số trung tâm đô thị lớn, 90 cảng
biển lớn nhỏ và gần 100 địa điểm có thể xây dựng cảng (kể cả cảng ở quy mô
trung chuyển thế giới). Ven bờ biển có nhiều loại khoáng sản và vật liệu xây
dựng phục vụ phát triển công nghiệp và hơn 6 vạn ha ruộng muối.
Ngoài bờ biển dài là lợi thế, Việt Nam còn có nhiều vịnh đẹp (Hạ Long,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status