ứng dụng kỹ thuật viễn thám đánh giá ô nhiễm môi trường sông Thị Vải - Pdf 33

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN............................................................................................................................
2.1.2.Đặc điểm khí hậu lưu vực sông Thò Vải..........................................................6
Các hoạt động dòch vụ của cảng..............................................................................24
2.3.10.Bùn lắng sơng Thị Vải............................................................................................30
DANH MUÏC CAÙC BAÛNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
Chương 1 - PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, vấn đề ô nhiễm môi trường đã trở thành mối
quan tâm của nhân loại, đặc biệt ở những thành phố có hoạt động sản xuất công
nghiệp phát triển. Các hoạt động sản xuất công nghiệp một mặt thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế nhưng mặt khác lại làm gia tăng các tác động xấu đến môi trường.
Lưu vực sông Thò Vải nằm trong vùng KTTĐPN thuộc đòa phận các tỉnh
Đồng Nai, Bà Ròa – Vũng Tàu và Tp. HCM. Vùng tả ngạn sông Thò Vải có trục
quốc lộ 51 là tuyến đường huyết mạch nối liền thành phố biển Vũng Tàu với các
trung tâm kinh tế lớn như Tp.HCM, Tp. Biên Hòa (tỉnh Đồng Nai) cùng với hệ
thống cảng nước sâu hiện đang là một vùng rất thuận lợi để phát triển, xây dựng
các KCN mới và đô thò mới.
Quá trình phát triển công nghiệp và hoạt động hàng hải trên lưu vực sông
Thò Vải là điều tất yếu đã mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho khu vực nói riêng và
cho cả nước nói chung. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển đó đã gây ra nhiều tác
động tiêu cực đến môi trường tự nhiên và sức khỏe cộng đồng, một thực tế trước
mắt là sông Thò Vải đã và đang ngày càng ô nhiễm nghiêm trọng do nước thải đổ
ra từ các KCN và chất thải đổ ra từ họat động của các cảng.
Để có thể quan trắc và quản lý ô nhiễm, kỹ thuật Viễn Thám có thể cung
cấp những dữ liệu và phương pháp xử lý nhằm phát hiện và ước tính, dự báo
những khu vực bò ô nhiễm trên lưu vực sông.
Chính vì lý do trên, để góp phần quản lý và cải thiện môi trường cho lưu
vực sông Thò Vải tôi đã mạnh dạn đưa ra đề tài “Ứng dụng kỹ thuật viễn thám
đánh giá ô nhiễm sông Thò Vải do hoạt động hàng hải và công nghiệp”. Nhằm

hoạch đầu tư và bảo vệ môi trường của vùng nghiên cứu.
• Phương pháp viễn thám để phân tích và đánh giá môi trường của vùng
nghiên cứu.
1.5. Đối tượng nghiên cứu và Giới hạn – phạm vi đề tài
• Đối tượng nghiên cứu là sông Thò Vải.
• Do thời gian thực hiện đề tài có giới hạn nên đề tài chỉ tập trung vào
việc phân tích đánh giá ô nhiễm sông Thò Vải do hoạt động công nghiệp trên
lưu vực sông ở tỉnh Đồng Nai và Bà Ròa – Vũng Tàu và hoạt động hàng hải
thuộc đòa phận Bà Ròa - Vũng Tàu.
1.6. Kết quả đạt được
• Các bản đồ phân vùng chất lượng nước
• Các giải pháp quản lý chất lượng nước
Chương 2 – ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - KINH TẾ -
XÃ HỘI - MÔI TRƯỜNG KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1. Đòa hình
Lvs Thò Vải có đòa hình tương đối bằng phẳng. Khu vực Đông và Đông Bắc
có đòa hình tương đối cao (trung bình khoảng 10 -100 m), cao nhất 462m (núi Thò
Vải) và đòa hình thấp dần về phía Tây Nam. Khu vực Nam và Tây Nam sông Thò
Vải là vùng đầm lầy trũng thấp bò ngập triều (rừng ngập mặn) với độ cao trung
bình khoảng 0 - 2 m. Khu vực Tây Bắc có đòa hình tương đối cao dao động trong
khoảng 10 - 30 m và giảm dần về phía sông Thò Vải.
2.1.2. Đặc điểm khí hậu lưu vực sông Thò Vải
Môi trường sông Thò Vải hình thành và phát triển trên nền tảng các điều
kiện tự nhiên nhất đònh trong đó có khí hậu.
Sông Thò Vải nằm trong vùng vỹ tuyến Bắc, có vò trí đòa lý 10
0
29

vó độ

273mm.
4. Gió
Hướng gió chủ đạo tại khu vực chòu sự chi phối bởi hai hệ thống hoàn lưu
gió mùa:
• Mùa khô: Gió Đông – Đông Nam.
• Mùa mưa: Gió Tây Nam – Tây.
Giữa hai mùa gió có một khoảng thời gian chuyển tiếp ngắn. Tốc độ gió
trung bình tháng từ 1,5 – 2 m/s.
2.1.3. Đặc điểm khí tượng thủy văn
Sông Thò Vải là một nhánh sông nằm ở khu vực hạ lưu hệ thống sông
Đồng Nai, thuộc đòa bàn các tỉnh Đồng Nai, Bà Ròa – Vũng Tàu và Thành Phố
Hồ Chí Minh. Sông Thò Vải bắt nguồn từ khu vực xã Nhơn Thọ, huyện Long
Thành, tỉnh Đồng Nai (nối tiếp suối Cả) chảy qua đòa bàn huyện Châu Thành
(tỉnh Bà Ròa – Vũng Tàu) và huyện Cần Giờ (TPHCM) trước khi đổ ra biển
Đông qua vònh Gành Rái. Phía thượng lưu sông Thò Vải gồm suối Cả (41Km),
suối Le (19KM) và nhiều kênh, rạch, suối nhỏ xen kẽ với các khu rừng ngập mặn
nghèo; phần chảy qua đòa phận tỉnh Đồng Nai và Bà Ròa – Vũng Tàu với diện
tích lưu vực đến ngã ba (hợp lưu) sông Gò Gia – Thò Vải là 494 km
2
, sau đó chảy
tiếp vào sông Cái Mép (thuộc đòa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bà Ròa –
Vũng Tàu) và đổ ra Biển Đông tại Vònh Gành Rái. Ở phía hạ lưu sông có các
nhánh nối liền với hệ thống sông Đồng Nai. Hướng dòng chảy của sông Thò Vải
gần như song song với quốc lộ 51 từ Long Thành đi Bà Ròa.
Thủy triều tại khu vực vònh Gành Rái, sông Thò Vải – Gò Gia thuộc loại
bán nhật triều không đều, được biểu hiện thành hai thành phần nhật triều và bán
nhật triều.
Tại Vũng Tàu: Mực nước trung bình cả năm trong giai đoạn 1979 – 1990 là
14cm, mực nước cực đại đã quan trắc trong thời kỳ nói trên là 153cm và mực
nước cực tiểu quan trắc được trong thời kỳ này là -309cm tại Vũng Tàu.

thống cảng nước sâu phát triển và là cửa ngõ giao thông thủy cho cả vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam hiện tại cũng như về lâu dài.
Sông Thò Vải không giống bất kỳ con sông nào ở Nam Bộ Việt Nam. Đặc
điểm thủy văn của nó có những nét hoàn toàn riêng biệt như sau:
1. Sông Thò Vải có nguồn gốc là một vònh biển hẹp
Dựa vào số liệu bình đồ tỉ lệ 1: 10000 (công ty Tư vấn Giao thông phía Nam đo
đặc năm 1990, 1994) và số liệu độ sâu gần đây nhất đã xây dựng một cơ sở dữ
liệu đòa hình đáy sông phục vụ các mô hình thủy lực. Phần sông ở gần cửa Cái
Mép khá sâu (độ sâu lớn nhất đạt đến 55m tại ngã ba sông Gò Gia – Cái Mép –
Thò Vải). Đáy sông có độ dốc lớn. Độ sâu sông này giảm dần khi tiến lên hùng
Bắc. Khi đạt đến ngã ba Đồng Kho - Thò Vải, độ sâu chỉ còn khoảng 9 – 10m.
Tuy nhiên đôi khi độ sâu tăng lên và giảm xuống rất đột ngột. Với đòa hình như
vậy, chế độ vận chuyển của nước và vật chất tại đây càng trở nên phức tạp.
2. Sông Thò Vải là một hệ thống tương đối biệt lập nhờ các giáp nước và
nối với vònh Gành Rái. Vònh này là một vùng biển nông và tương đối khép kín.
Đường bờ sông Thò Vải khá quanh co.
3. Đáy sông là sét rắn lẫn san hô chết và ít bùn so với các sông rạch của
huyện Cần Giờ thuộc hạ du sông Đồng Nai bên cạnh.
4. Theo số liệu khảo sát trong 30 năm qua, lòng sông Thò Vải ít thay đổi.
5. Sông Thò Vải rộng khoảng 400 – 600m. Bờ phải của phần phía Bắc
sông Thò Vải là khu vực chứa nước rộng lớn. Càng đi vào sâu, dòng sông càng
trở nên phức tạp với vô số các cù lao và bãi cạn
6. Sông Thò Vải có phần thượng nguồn rất nhỏ bé và có thể coi nó như là
một sông cụt nếu so sánh ảnh hưởng phần thượng nguồn này với ảnh hưởng của
phần hạ nguồn.
7. Sông Thò Vải không có các mùa kiệt và mùa lũ tương ứng với hai mùa
mưa và mùa khô như các sông khác trong vùng Nam bộ, ở đây chỉ có thể các cơn
lũ quét nhỏ, thời gian ngắn hay sự ngập úng do mưa lớn tại chỗ, nhưng tuyệt đối
không có lũ dài ngày do nước từ thượng nguồn đổ về.
8. Mùa triều kiệt (tháng 6 và tháng7) và mùa triều cường (tháng 11 và

STT Huyện Xã/thò trấn Diện tích (ha) Dân số (người)
1
Long Thành
Xã Long Phước 4.420 12.933
2 Xã Phước Thái 1.720 15.794
3
Nhơn Trạch
Xã Phước An 14.799 7.240
4 Xã Long Thọ 2.388 7.292
5
Tân Thành
Xã Mỹ Xuân 37.059 19.544
6 Thò trấn Phú Mỹ 3.100 14.687
7 Xã Tân Phước 5.500 8.322
8 Xã Phước Hòa 5.540 10.896
9
Cần Giờ
Xã Thạnh An 13.142 4.146
Tổng số 87.688 100.854
Nguồn: Tổng hợp số liệu năm 2006
Trên 50% dân số sống bằng nghề nông, chủ yếu là trồng lúa một vụ với
năng suất thấp trong mùa mưa ở các vùng đất thấp giáp ranh giữa vùng triền gò
và vùng trũng thấp của LVS Thò Vải. Những năm gần đây, kinh tế vườn khá phát
triển với nhiều loại cây ăn trái, rau, đậu… Bên cạnh đó, người dân còn trồng điều
ở các vùng triền gò của thò trấn Phú Mỹ, Mỹ Xuân, Phước Thái và khu vực này
trở thành vành đai xanh phục vụ đô thò. Đất nông nghiệp bò thu hẹp dần do
chuyển sang đất xây dựng.
Phần đông dân sống ven sông Thò Vải sống chủ yếu dựa vào nghề nông,
làm muối, nuôi tôm và đánh bắt thủy sản. Ngoài ra, một số lao động có trình độ
văn hóa cao được tuyển dụng vào làm việc trong các KCN, nhưng do mặt bằng

nước sâu. Hiện nay, ven sông Thò Vải có các cảng Gò Dầu, cảng Bà Ròa Serece,
cảng Cái Mép, cảng nhà máy điện Phú Mỹ… đã đi vào hoạt động. Trong thời gian
tới, các cảng ở Tp.HCM sẽ được di dời về khu vực Cái Mép (cảng Sài Gòn, Tân
Cảng, cảng Ba Son,…) sẽ làm cho hoạt động giao thông thủy trên sông Thò Vải
ngày càng phát triển.
Tuyến quốc lộ 51 nằm dọc phía Đông sông Thò Vải là tuyến đường huyết
mạch tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa từ BR-VT đi
về Long Thành, Nhơn Trạch, Tp.HCM và ngược lại, thúc đẩy quá trình đô thò hóa
và công nghiệp hóa trên đòa bàn. Trong những năm gần đây, nhiều tuyến đường
nông thôn ở các xã trên đòa bàn được bê tông hóa và xây dựng mới. Nhiều đường
nông thôn được trải đá mi, hay tráng nhựa rất khang trang, tạo điều kiện thuận lợi
cho việc đi lại và thông thương hàng hóa. Tuy nhiên, một số đường liên thôn vẫn
còn nhỏ hẹp và dễ ngập úng vào mùa mưa.
2.2.5. Hiện trạng nuôi và đánh bắt thủy sản
Nghề khai thác thủy sản trên vùng RNM là nghề sinh sống mang tính
truyền thống lâu đời của nhiều hộ dân tại đây. Trước năm 1994, nghề khai thác
thủy sản rất phát triển, chủ yếu là khai thác tôm, cá trên sông rạch. Trong những
năm gần đây, sản lượng khai thác đang có chiều hướng giảm dần do môi trường
nước bò ô nhiễm và nạn sử dụng xung điện khai thác thủy sản đã làm hủy hoại
nguồn lợi thủy sản. Đa số người dân làm nghề này đều là dân nghèo đòa phương
và một số ngư dân từ các tỉnh miền Tây đến đây sinh sống.
Theo kết quả điều tra 30 hộ trong tổng số 296 hộ ngư dân khai thác thủy
sản trên đòa bàn các xã Long Thọ, Phước An, Long Phước của kỹ sư Phùng Cẩm
Hà (Sở NN&PTNT tỉnh Đồng Nai, 2004), 100% hộ ngư dân cho biết sản lượng
thủy sản khai thác hiện nay đã suy giảm rất nhiều, ít hơn 50-60% sản lượng của
những năm 90 trở về trước do chất thải của các KCN làm cho nước sông Thò Vải
ngày càng bò ô nhiễm. Trên 50% hộ dân hành nghề khai thác trước đây có điều
kiện đã chuyển sang nghề khác để sinh sống. Những hộ không đủ điều kiện để
chuyển nghề khác do thu nhập không đủ trang trải cho kinh tế gia đình nên đã có
nhiều người vẫn cố tình sử dụng những nghề mang tính hủy diệt như te điện, cào

làm giảm sức sản xuất của rừng và suy kiệt nguồn lợi thủy sản của RNM.
Nhìn chung, khai thác và nuôi thủy sản trên LVS Thò Vải đã bò suy giảm
đáng kể về chất lượng và số lượng tôm cá.
2.2.6. Hiện trạng phát triển Công Nghiệp và quản lý môi trường trên LVS
Thò Vải
a. Hiện trạng và xu hướng phát triển CN ở LVS Thò Vải
Trong giai đoạn 2001 - 2006, tốc độ tăng trưởng GDP công nghiệp trên đòa
bàn các tỉnh trong khu vực nghiên cứu khá cao so với các tỉnh thành khác trong cả
nước, trung bình khoảng 14 - 16%. Tốc độ tăng trưởng về kinh tế đạt 9 - 12,8%.
GDP bình quân trên đầu người năm 2006 trong vùng đạt 785 - 6.000 USD. Xu
hướng phát triển kinh tế hiện nay của các tỉnh thành trong vùng KTTĐPN nói
chung và LVS Thò Vải nói riêng là tăng nhanh tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây
dựng và dòch vụ, giảm dần khu vực nông - lâm - ngư nghiệp.
Do thuận lợi về cơ sở hạ tầng, giao thông, năng lượng, thò trường tiêu thụ, thò
trường nguyên liệu và đổi mới các chính sách nên quá trình CN hóa trên Lvs Thò
Vải phát triển rất nhanh. Đến năm 2006, ven sông Thò Vải có 11 KCN đã được
quy hoạch với tổng diện tích 4.594 ha, đã cho thuê được khoảng 1.429 ha (trên
180 dự án) đạt tỷ lệ 45% diện tích dùng cho thuê, trong đó: 5 KCN thuộc huyện
Nhơn Trạch, 1 KCN thuộc huyện Long Thành và 5 KCN thuộc huyện Tân Thành.
Dự kiến đến năm 2010, các KCN này sẽ được lấp đầy 100% diện tích.
Bảng 3. Tổng hợp hiện trạng cho thuê đất tại các KCN ven sông Thò Vải đến năm 2006
STT Tên KCN
Tổng diện
tích (ha)
Diện tích
dùng cho thuê
(ha)
Diện tích
đã cho thuê
(ha)

ï
7 Mỹ Xuân A 270 177 83 15
Nặng/nhe
ï
8
Mỹ Xuân
A2
313 223 45 6
Nặng/nhe
ï
9
Mỹ Xuân
B1
226 - 21 4
Nặng/nhe
ï
10 Phú Mỹ I 945 651 410 25
Nặng/nhe
ï
11 Cái Mép 670 449 136 5
Nặng/nhe
ï
Tổng số 4.594 3.113 1.429 183
Ghi chú:
- Công nghiệp nhẹ: các ngành dệt may, da dày, điện tử,
chế biến thực phẩm.
- Công nghiệp nặng: các ngành năng lượng, hóa chất,
luyện kim, vật liệu xây dựng, cơ khí, đóng tàu…
Nguồn:Sở TN&MT tỉnh Đồng Nai và BR-VT, 2006
b. Hiện trạng quản lý môi trường ở các KCN ven sông Thò Vải

• Đội ngũ cán bộ quản lý môi trường của các ngành các cấp ở đòa phương
vẫn còn thiếu về chất lượng lẫn trình độ chuyên môn để thực hiện nhiệm vụ được
giao.
Sự kiện gần đây nhất là từ tháng 03/2006 đến tháng 05/2006, Cục Môi
trường phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh Đồng Nai và BR-VT, Viện Môi
trường và Tài nguyên thuộc Đại học Quốc gia Tp.HCM, Viện Hóa học thuộc
Viện Khoa học và Công nghệ tổ chức kiểm tra 79 cơ sở sản xuất, kinh doanh và
dòch vụ (gọi tắt là cơ sở), các KCN đang hoạt động trên LVS Thò Vải, đồng thời
tiến hành quan trắc môi trường sông Thò Vải, nhằm xác đònh nguyên nhân gây ô
nhiễm, đề xuất các biện pháp quản lý, BVMT sông Thò Vải. Kết quả kiểm tra cho
thấy:
 Có 7 cơ sở thực hiện tốt công tác BVMT (được xếp loại xanh), trong đó
tỉnh Đồng Nai có 6 cơ sở và tỉnh BR-VT có 1 cơ sở;
 Có 21 cơ sở chưa thực hiện tốt công tác BVMT (được xếp loại vàng),
trong đó tỉnh Đồng Nai có 16 cơ sở và tỉnh BR-VT có 5 cơ sở;
 Có 12 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nặng, chưa thực hiện tốt công tác
BVMT (được xếp loại nâu), trong đó tỉnh Đồng Nai có 11 cơ sở và tỉnh BR-VT có
1 cơ sở;
 Có 20 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, chưa thực hiện tốt
công tác BVMT (được xếp loại đen), trong đó tỉnh Đồng Nai có 12 cơ sở và tỉnh
BR-VT có 8 cơ sở;
 19 cơ sở chưa đủ điều kiện để tiến hành đánh giá, xếp loại (do tạm
ngưng hoạt động, do đang trong quá trình xây dựng, do tại thời điểm kiểm tra
không có nước thải…), trong đó tỉnh Đồng Nai có 12 cơ sở và tỉnh BR-VT có 7 cơ
sở.
Việc xử lý nước thải tại các KCN ven sông Thò Vải nhìn chung chưa tốt: chỉ
một số doanh nghiệp trong các KCN đã xây dựng và vận hành hệ thống nước thải
cho doanh nghiệp mình như công ty cổ phần hữu hạn Vedan, công ty phân bón
Việt Nhật, công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa, nhà máy Đạm Phú Mỹ, công ty
liên doanh DOP… Tuy nhiên, hầu hết các KCN đều chưa có hệ thống xử lý nước

đây là vùng tài nguyên cảng của đất nước.
Tỉnh Bà Ròa - Vũng Tàu là khu vực tập trung chủ yếu các dự án đầu tư và
khai thác quan trọng của ngành Dầu khí. Hệ thống cảng Thò Vải – Vũng Tàu có
chức năng quan trọng là phục vụ các nhu cầu khai thác của ngành Dầu khí, đáp
ứng các yêu cầu xuất nhập hàng cho các dự án thuộc Ngành dầu khí trong khu
vực và vùng phụ cận góp phần tăng cường năng lực của lónh vực dòch vụ Dầu khí,
phục vụ nhu cầu xuất nhập hàng hóa của các cơ sở kinh tế và các khu công
nghiệp trong khu vực. Hiện có 3 cụm cảng dọc theo sông Thò Vải, bao gồm khu
vực cảng gò dầu C, khu vực cảng Phú Mỹ và khu vực cảng Cái Mép.
Khu vực Phú Mỹ thu hút được sự chú ý của các nhà đầu tư sớm nhất trong
các cảng dọc sông Thò Vải, bởi vì lòng sông này có lòng sông sâu và có khả năng
tiếp nhận tàu 30.000 DWT với chi phí đầu tư thấp hơn. Hiện tại, khu vực này đã
có 2 cảng hoạt động là: cảng dầu nhà máy Điện Phú Mỹ có 2 bến tàu chở
dầu10.000 DWT và cảng Phú Mỹ của Công ty Liên doanh Baria Serece gồm
300m bến có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải tới 60.000 DWT, đây là cảng hàng
rời lớn nhất trong khu vực.
Khu vực Cái Mép có bờ với chiều 4 km, lòng sông có chiều rộng hơn
1000m và lòng sông có nhiều đoạn sông sâu 30m. Hiện tại, cảng LPG Cái Mép
đã được xây dựng, cảng VINAFOOD và Vũng Tàu Petro đang được xây dựng.
Bảng 4. Hệ Thống Cảng Biển Thuộc Khu Vực Sông Thò Vải Tỉnh Bà Ròa Vũng Tàu
STT Tên bến
cảng
Năm công
bố
Loại
cảng
Số
lượng
cầu
cảng

Interflour
Cái Mép
23/6/2003 Chuyên
dùng
01 270 2.000.000

50.000
C.Ty
TNHH
Iterflour
3 Cảng
BARIA
SERECE
03/9/1996 Tổng hợp 07 651 2.000.000

60.000
C.Ty LD
BariaSere
ce
4 Cảng Dầu
NM Điện
Phú Mỹ 2-1
11/9/1997 Chuyên
dùng
01 175 150.000

10.000
Nhà máy
điện Phú
Mỹ

C.Ty kỹ
thuật
DVDK
8 Cảng Nhà
Máy Thép
Phú Mỹ
27/10/2006 Tổng hợp 01 230 900.000

50.000
C.ty thép
Miền
Nam
9
Cảng
Container
Cái Mép
Thượng
(đang Xây
Dựng )
Chuyên
dùng
02 600 6.600.000

50.000
Tân cảng
Sài Gòn
10
Cầu Cảng
NM Đóng
Tàu Ba Son

Xây Dựng
2008)
Chuyên
dùng
04 1.200 4.500.000

50.000
Cảng Sài
Gòn
13
Cảng Sài
Gòn Mới
(Dự Kiến
Xây Dựng
Năm 2007)
Tổng hợp 02 300 1.500.000

30.000
14 Tổng 29 5.381 25.170.000
 Các hoạt động dòch vụ của cảng
 Dòch vụ cảng: bốc xếp hàng hóa, sử dụng bãi để lưu giữ hàng hóa, cho
thuê dài hạn, ngắn hạn, bảo dưỡng lắp ráp các cấu kiện hàng hóa, cho thuê bến
cập tàu và các dòch vụ khác có liên quan đến bến tàu;
 Dòch vụ kho bãi: cho thuê kho, bãi, cho thuê văn phòng làm việc;
 Dòch vụ cung ứng vật tư thiết bò: cho thuê thiết bò, phương tiện vận
chuyển, cung cấp nhiên liệu, nước, dung dòch và các loại vật tư kỹ thuật cho tàu
thăm dò, tàu khoan, giàn khoan, tàu dòch vụ, tàu con thoi;
 Dòch vụ đại lý tàu biển, thông tin liên lạc: làm đại lý cho các tàu theo
yêu cầu của chủ tàu;
 Dòch vụ sửa chữa: sửa chữa các phương tiện vận tải thủy bộ qua cảng,

vực Gò Dầu - Mỹ Xuân, nước có màu đen, mùi hôi rất khó chòu do bò ô nhiễm bởi
nước thải của nhà máy Vedan và KCN Gò Dầu. Do chế độ thủy triều (triều đổi
dòng 4 lần/ngày) và hình thái sông nên nước bẩn ở khu vực này hầu như không
được pha loãng.
2.3.3. Hàm lượng Oxy hòa tan (DO)
Kết quả quan trắc sông Thò Vải của Sở TN&MT tỉnh Đồng Nai giai đoạn
2001 - 2006 cho thấy hàm lượng DO tương đối thấp và có sự phân hóa giữa các
đoạn sông: khu vực cửa sông nhờ được pha loãng tốt nên hàm lượng DO ở khu
vực này vẫn còn ở mức cao, trung bình khoảng 3,8-6,4 mg/l và vẫn còn nằm trong
giới hạn cho phép của tiêu chuẩn nước mặt đối với nguồn loại B. Riêng khu vực
cảng Gò Dầu có hàm lượng DO rất thấp, trung bình khoảng 0,8-4,2 mg/l (năm
2003, giá trò DO < 1 mg/l) do khu vực này tiếp nhận nguồn nước thải rất lớn từ
cụm nhà máy Vedan và KCN Gò Dầu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status