TÌM HIỂU tác GIA lão tử và một số CHƯƠNG TRONG tác PHẨM đạo đức KINH - Pdf 33

ĐẠI HỌC HUẾ
ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
KHOA TIẾNG TRUNG

BÀI TIỂU LUẬN
(HÁN NGỮ CỔ ĐẠI)

TÌM HIỂU TÁC GIA LÃO TỬ VÀ MỘT SỐ CHƯƠNG TRONG
TÁC PHẨM ĐẠO ĐỨC KINH

Giảng viên giảng dạy: Ths. Liêu Vĩnh Dũng
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Nhàn
MSSV: 1275410088
Lớp: TRUNGTMK9

Huế, 12/2015


I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Lão Tử là hiện tượng khá lạ trong lịch sử triết học của nhân loại. Ông là
một triết gia lớn, ảnh hưởng tới cả Đông Á ngang với Khổng Tử, thời nào cũng
được nhân dân Trung Hoa tôn trọng. Nhân loại biết đến Khổng Tử với tư tưởng
hữu vi thì biết đến Lão Tử với tư tưởng vô vi, đây đều là các tư tưởng lớn trong
triết học Trung Quốc.
Ông nổi tiếng là vậy, vậy mà rất ít người biết chắc chắn về cuộc đời của
ông, về cả tác phẩm bất hủ của ông nữa. Từ thời Tư Mã Thiên, bao nhiêu người
tra cứu đủ sách cổ để tìm hiểu Lão Tử tên thật là gì, sống ở thời nào, làm gì, tiếp
xúc với ai, nhưng chỉ đưa ra được những giả thiết, và càng bàn lại càng thêm rối
vì ý kiến mâu thuẫn nhau. Ngay cả đến tác phẩm của Lão Tử, cuốn Đạo Đức
Kinh, là một trong những cuốn chuyên luận đáng chú ý nhất trong lịch sử triết


Đạo đức kinh” đã làm rõ được tư tưởng chính trị-xã hội của Lão Tử .
Thích Pháp Như đã nghiên cứu về đề tài “Quan điểm vô vi của Lão Tử và
vô vi của Đạo giáo” đã tìm ra những điểm giống và khác biệt giữa triết lí

-

Vô vi của Lão Tử với Vô vi của Đạo giáo.
Nguyễn Hiến Lê đã có quyển sách viết về “Lão Tử- Đạo đức kinh” tác
phẩm đã đi đi sâu nghiên cứu về cuộc sống của Lão Tử và phân tích 81

-

chương trong Đạo đức kinh.
Nguyễn Duy cũng đã nghiên cứu về đề tài “Lão Tử -Đạo đức kinh” cũng
đã làm rõ hơn về cuộc đời Lão Tử cũng như tác phẩm của ông.
Tuy nhiên các đề tài trên chỉ đi chuyên sâu nghiên cứu về cuộc đời của
Lão Tử mà chưa phân tích cụ thể, rõ ràng từng chương cụ thể trong Đạo
đức kinh. Đó cũng là lý do mà chúng tôi chọn đề tài này để nghiên cứu.

3. Mục đích nghiên cứu
-

Mục đích chủ yếu của việc nghiên cứu đề tài này chính là:
Làm hiểu rõ thêm về tiểu sử, cuộc đời, tên gọi của tác gia Lão Tử, hiểu
thêm về tác phẩm nguồn gốc, cấu trúc, ý nghĩa của tác phẩm Đạo Đức

-

Kinh,.

hưởng lớn, và ông được công nhận là Khai tổ của Đạo giáo (Đạotổ 道祖).
1.2. Cuộc đời
Lão Tử đã trở thành một anh hùng văn hoá quan trọng đối với các thế hệ
người Trung Quốc tiếp sau. Một số truyền thuyết nói rằng khi sinh ra tóc ông đã
bạc trắng, vì ông đã nằm trong bụng mẹ tám hay tám mươi năm, điều này giải
thích cho cái tên của ông, có thể được dịch thành “bậc thầy già cả” và “đứa trẻ
già”.
Theo truyền thống, và một tiểu sử gồm cả trong cuốn sử của Tư Mã Thiên, Lão
Tử sống cùng thời với Khổng Tử và sinh trước hay sau vài chục năm. Nếu đúng
thế tức là khoảng thời gian thế kỷ thứ sáu TCN, cùng thời với các triết gia Hy
Lạp tiền Socrates như Heraclitus và Pythagoras. Lão Tử là người làm chân giữ
sách trong thư viện triều đình nhà Chu. Khổng Tử đã có ý định hay đã tình cờ
gặp ông ở nước Chu, gần nơi hiện nay là Lạc Dương, nơi Khổng Tử định đọc
các cuốn sách trong thư viện. Theo những câu chuyện đó, trong nhiều tháng sau
đó, Khổng Tử và Lão Tử đã tranh luận về lễ nghi và phép tắc, vốn là những nền
tảng của Khổng giáo. Lão Tử phản đối mạnh mẽ những nghi thức mà ông cho là


rỗng tuếch. Truyền thuyết Đạo giáo kể rằng những cuộc tranh luận đó có ích
cho Khổng Tử nhiều hơn so với những gì có trong thư viện.
Sau này, Lão Tử nhận thấy rằng chính sự của vương quốc đang tan rã và quyết
định ra đi. Ông đi về phía Tây trên lưng một con trâu nước qua nước Tần và từ
đó biến mất vào sa mạc rộng lớn. Truyền thuyết kể rằng có một người gác cửa
tên Doãn Hỷ ở cửa phía tây của ải Hàm Cốc thuyết phục Lão Tử viết lại những
hiểu biết của mình trước khi đi vào sa mạc. Cho tới lúc ấy, Lão Tử mới chỉ nói
ra các triết thuyết của ông mà thôi, và giống như trường hợp của Jesus, Phật, và
Khổng Tử (những cuốn văn tuyển của họ hầu như được hoàn thành bởi các đệ
tử). Theo yêu cầu của người lính đó, Lão Tử đã viết để lại cuốn “Đạo Đức
Kinh”. Nhiều cuốn ghi chép và bức tranh về Lão Tử còn lại đến ngày nay,
thường thể hiện ông là một người già hói đầu với một chòm râu trắng hay đen

Thái Thượng Lão Quân (老老老老)
Thái Thượng Đạo Tổ
Lão Tử Đạo Quân (老老老老)
Huyền Đô đại lão gia
Dưới thời nhà Đường họ Lý, để tạo mối liên hệ với Lão Tử, coi ông là tổ
tiên của Hoàng gia, truy phong làm hoàng đế. Đời Đường Cao Tông tôn là Thái
Thượng Huyền Nguyên hoàng đế, đến đời Đường Huyền Tông lại gia phong
là Đại Thánh tổ Cao thượng Đại đạo Kim khuyết Huyền nguyên Thiên hoàng
Đại Đế.
2. Đạo Đức Kinh
Đạo Đức Kinh (tiếng Trung: 道道道)) là quyển sách do triết gia Lão Tử viết ra
vào khoảng năm 600 TCN. Theo truyền thuyết thì Lão Tử vì chán chường thế
sự nên cưỡi trâu xanh đi ở ẩn. Ông Doãn Hỷ đang làm quan giữ ải Hàm Cốc níu
lại "nếu ngài quyết đi ẩn cư xin vì tôi để lại một bộ sách!", Lão Tử bèn ở lại cửa
ải Hàm Cốc viết bộ "Đạo Đức Kinh" dặn Doãn Hỷ cứ tu theo đó thì đắc đạo. Do
đó, Đạo Đức Kinh còn được gọi là sách Lão Tử.
2.1 Nguyên lai và cấu trúc
Đạo Đức Kinh gồm có 81 chương với khoảng 5000 chữ Hán, chia làm 2
phần: Thượng Kinh và Hạ Kinh.




Thượng Kinh gồm 37 chương, bắt đầu bằng câu: “Đạo khả Đạo phi
thường Đạo”. Thượng Kinh luận về chữ Đạo nên được gọi là Đạo Kinh.



Hạ Kinh gồm 44 chương, bắt đầu bằng câu: “Thượng Đức bất Đức thị dĩ
hữu Đức”. Hạ Kinh luận về chữ Đức nên được gọi là Đức Kinh.

phương pháp huyền bí dạy về tu luyện để đắc thành bậc Thiên Tiên.
Đây là quyển kinh căn bản của Tiên giáo do Lão Tử (còn được gọi là Thái
Thượng Lão Quân) viết ra và người đời sau suy tôn ông là giáo chủ Tiên giáo.
Quan niệm về vũ trụ và nhân sinh của Lão Tử căn cứ trên hai chữ Đạo và Đức,
nên ông theo đó mà lập thành giáo lý. Nhiều người cho rằng giáo huấn của Lão
Tử thật kỳ lạ, vì ông khuyên người ta rèn luyện trí tuệ đạt tới mức tưởng như
ngu độn, đời sống không nên tranh giành, xử thế nên đơn giản, tính tình nên
giản phác.

3. MỘT SỐ TÁC PHẨM TRONG ĐẠO ĐỨC KINH
3.1 Chương 14: Tán Huyền

道道道

道 道
(道道)


視視視視視視視 ; 視視視視視視視 ; 視視視視視視視 視視視視視視視視 , 視
視視視視 視視視視視, 視視視視 , 視視視視視 , 視視視視視 視視視視視視視 , 視視
視視 , 視視視視 視 視視視視視視 , 視視視視視 視 視視視視視 , 視視視視視 ; 視視
視視 , 視視視視 視
TÁN HUYỀN
Thị chi bất kiến danh viết di; thính chi bất văn danh viết hi; bác chi bất đắc
danh viết vi. Thử tam giả bất khả trí cật, cố hỗn nhi vi nhất. Kì thượng bất kiểu,
kì hạ bất muội, thằng thằng bất khả danh, phục qui ư vô vật. Thị vị vô trạng chi
trạng, vô vật chi tượng, thị vị hốt hoảng. Nghinh chi bất kiến kì thủ, tuỳ chi bất
kiến kì hậu.Chấp cổ chi đạo, dĩ ngự kim chi hữu; năng tri cổ thuỷ, thị vị đạo kỉ.
視視視
視視(Trí cật ) 視gạn hỏi đến cùng

không thể giảng được, gọi tên được. Nhưng nó đầy khắp vũ trụ, là căn nguyên
của vạn vật, hễ giữ được nó là nắm được chân lí mà xử lí được mọi sự vật.

3.2 Chương 15: Hiển Đức

十十十

顯顯
(視視)


視視視視視視, 視視視視, 視視視視視 視視視視視, 視視視視視視視視, 視視
視視; 視視, 視視視視; 視視, 視視視; 視視, 視視視視視; 視視, 視視視; 視視, 視視
視;視視; 視視視視視視視視視視視視? 視視視視視視視視? 視視視視, 視視視視 視
視視視, 視視視視視視視
HIỂN ĐỨC
Cổ chi thiện vi đạo giả, vi diệu huyền thông, thâm bất khả thức. Phù duy bất
khả thức, cố cưỡng vị chi dung. Dự hề, nhược đông thiệp xuyên; do hề, nhược
úy tứ lân; nghiễm hề, kì nhược khách; hoán hề, nhược băng chi tương thích; đôn
hề, kì nhược phác; khoáng hề, kì nhược cốc; hỗn hề, kì nhược trọc. Thục năng
trọc dĩ tĩnh chi từ thanh? Thục năng an dĩ động chi từ sinh? Bảo thử đạo giả, bất
dục doanh. Phù duy bất doanh, cố năng tế nhi tân thành.
視視視
視(dự) 視rụt rè
視(do) 視e ngại, do dự
視(nghiễm) : nghiêm trang
視(phác) : chất phác
視(khoáng) : rộng
Dịch nghĩa:
Người đắc đạo thời xưa tinh tế, mầu nhiệm, thông đạt, sâu xa không thể biết

十十十

歸歸
(道道)


道道道,道道道,道道道道,道道道道道道道道道,道道道道道道道道道道,道道道道道道
道道道道道道道道,道道道,道道道道道道道,道道道,道道道,道道道,道道道,道道道,道
道道道道
QUI CĂN
(Lão Tử)
Trí hư cực, thủ tĩnh đốc, vạn vật tịnh tác, ngô dĩ quan phục. Phù vật vân vân, các
phục qui kì căn. Qui căn viết tĩnh, thị vị phục mệnh. Phục mệnh viết thường. Tri
thường viết minh, bất tri thường vọng tác hung. Tri thường dung, dung nãi công,
công nãi toàn, toàn nãi thiên, thiên nãi đạo, đạo nãi cửu, một thân bất đãi.
道道:
道 道(vọng tác): làm càn
道(đãi) : nguy
Dịch nghĩa:
Hết sức giữ được cực hư, cực tĩnh xem vạn vật sinh trưởng ta thấy được qui
luật phản phục (vạn vật từ vô mà sinh ra rồi trở về vô). Vạn vật phồn thịnh đều
trở về căn nguyên của chúng(tức đạo). Trở về căn nguyên thì tĩnh, (tĩnh là bản
tính của mọi vật, cho nên) trở về căn nguyên gọi là “trở về mệnh”. Trở về mệnh
là luật bất biến (thường) của vật. Biết luật bất biến thì sáng suốt, không biết luật
bất biến thì vọng động mà gây hoạ. Biết luật bất biến thì bao dung, bao dung thì
công bình (vô tư), công bình thì bao khắp, bao khắp thì phù hợp với tự nhiên,
phù hợp với tự nhiên thì phù hợp với đạo, hợp với đạo thì vĩnh cửu, suốt đời
không nguy.
Ý nghĩa:
Tách rời khỏi vòng biến dịch, để nhìn xem dòng biến dịch sẽ chuyển hướng về



視(hạ) : người dân
Dịch nghĩa:
Bậc trị dân giỏi nhất thì dân không biết là có vua, thấp hơn một bực thì dân yêu
quí và khen; thấp hơn nữa thì dân sợ; thấp nhất thì bị dân khinh lờn. Vua không
đủ thành tín thì dân không tin. Nhàn nhã, ung dung (vì vô vi) mà quí lời nói.
Vua công thành, việc xong rồi mà trăm họ đều bảo: “Tự nhiên mình được vậy”.
Ý nghĩa:
Lão tử cho thấy nền chính trị Trung Hoa đã trải qua nhiều thời kỳ, và càng
ngày càng sa đọa, từ thời đại hoàng kim “vô vi nhi trị” 道 道 道 道 xuống dần mãi
cho tới thời kỳ hữu vi 道 道 dùng bá đạo trị dân.
Để dễ bề khảo sát, ta có thể chia nền chính trị Trung Hoa thành nhiều thời kỳ
như sau:
1. Trước thời Tam Hoàng 道 道 và thời Tam Hoàng (khoảng 2800 trở về trước)
(Phục Hi 道 道, Thần Nông 道 道, Chúc Dung 道 道). Đó là thời của Vô vi nhi
trị 道 道 道 道.
2. Thời Ngũ Đế 老 老 (2700 - 2200) (Hoàng đế 道 道, Chuyên Húc 道 道, Đế Cốc
[Khốc] 道 道, Nghiêu 道, Thuấn 道). Đó là thời của Đức trị 道 道. Thời này phát
minh ra lễ nhạc, tôn ti trật tự, cung thất, áo xống, thư tịch, xe cộ, cầu đò.
3. Thời Tam Vương 道 道 (2200 - 1000): [Đại Vũ 道 道 (2505-2197); Thành
Thang 道 道 (1766-1753); Vũ Vương 道 道 (1122-1115)]. Đó là thời của Nghĩa
trị 道 道 và Hình phạt 道 道.
4. Thời Ngũ Bá 老 老 (老) (từ 1000 về sau): [Tề Hoàn Công 道 道 道 (683-641);
Tấn Văn Công 道 道 道 (634-626); Tần Mục Công 道 道 (道)道 (673-644); Tống


Tương Công 道 道 道 (649-653); Sở Trang Vương 道 道 道(612-589)]. Đó là thời
của Trí trị 道 道 và Mưu lược 道 道.
- Thời thái thượng tức là thời Tam Hoàng về trước. Thời ấy các bậc chân quân


道道道

歸歸
(道道)
道道道道 道 道道道道 , 道道道道 ? 道道道道 , 道道道道 ? 道道道道 , 道道道
道 道 道道道道道道 ! 道道道道 , 道道道道 , 道道道道 ; 道道道道道道道 , 道道道道
道道 , 道道 道道道道道 道 道道道道道 , 道道道道道 ; 道道道道道道道 , 道道道 !
道道道道 , 道道道道 ; 道道道道 , 道道道道 , 道 道道道道 , 道道道道道 道 道道道
道道 , 道道道道道道 道 道道道道道 , 道道道道 道
DỊ TỤC
Tuyệt học vô ưu. Duy chi dữ a, tương khứ kỉ hà? Thiện chi dữ ác, tương khứ
nhược hà? Nhân chi sở úy, bất khả bất úy. Hoang hề kì vị ương tai! Chúng nhân
hi hi, như hưởng thái lao, như xuân đăng đài; ngã độc bạc hề kì vị triệu; như anh
nhi chi vị hài; luy luy hề nhược vô sở qui. Chúng nhân giai hữu dư, nhi ngã độc
nhược di; ngã ngu nhân chi tâm dã tai, độn độn hề! Tục nhân chiêu chiêu, ngã
độc hôn hôn; tục nhân sát sát, ngã độc muộn muộn, đạm hề kì nhược hải, liêu hề
nhược vô chỉ. Chúng nhân giai hữu dĩ, nhi ngã độc ngoan thả bỉ. Ngã độc dị ư
nhân, nhi quí thực mẫu.
道道道


道(duy) : dạ (với ý cung kính)
道(A) : ơi (với ý khinh thường)
道 道(nhược hà) : là bao.
道(hoang) : rộng lớn, hoang vu
道 道(vi ưng) : không bờ bến
道 道(hi hi) : vui vẻ
道 道(luy luy) : nhớn nhác, phờ phạc
道 道(sát sát ): trong trẻo, tinh tường

không mấy lưu tâm đến thế sự, nên khi lâm sự, thường vụng về, ngây thơ,
không thể có những thủ đoạn gian ngoan, xảo nguyệt.
Xét theo tiêu chuẩn thế tục, thì phàm nhân có vẻ văn minh tân tiến, còn thánh
nhân thời lại có vẻ quê mùa, chất phác, vì một đằng theo rõi thời trang, thời thế;
một đằng sống nội tâm, mà không mấy chú trong đến những hình thức bên
ngoài.
Cái khác biệt của thánh nhân là:
Thánh nhân sống phối kết với Đạo, với Trời, không lìa xa Thiên chân, Thiên
thể, còn phàm nhân thì sống xa Đạo, xa Trời, bị cuốn lôi trong vòng hồng trần
tục lụy.
Câu “quí thực mẫu” của Lão tử toát lại đời sống huyền đồng của các bậc thánh
nhân mọi nơi mọi đời.
Câu này làm ta liên tưởng đến một đoạn sau đây trong quyển Mysticism của
Everlyn Underhill:
Nhà huyền học trực giác được một thế giới siêu nhiên nằm gọn trong biên
cương của lòng sốt mến, và một tâm hồn siêu thoát tục lụy, nhưng hằng khao


khát muốn vươn lên cho tới Tuyệt đối; chỉ vừa lòng khi được sống phối hợp với
Thượng đế. Lúc ấy, theo sự mô tả của Patmore, thánh nhân sẽ như “trẻ thơ còn
ngậm vú mẹ Tạo Hóa” hay như "người tình đã tìm lại được người tình”.


III. KẾT LUẬN
Hơn hai ngàn năm trước, khi thế giới còn rộng bao la, khi con người
còn chất phác, Lão Tử đã kêu gọi con người trở về với lối sống đơn giản mộc
mạc và hài hòa với thiên nhiên. Trước thực tế cuộc sống ngày nay những lời kêu
gọi này càng có ý nghĩa hơn và khẩn thiết hơn. Chính vì thế mà Đạo Đức Kinh
càng ngày càng có nhiều độc giả trên khắp thế giới Âu- Mỹ. Và Đạo Đức Kinh
từ lâu không phải là một tác phẩm xa lạ và độc giả thế giới. Đối với tác phẩm

ĐẠI HỌC HUẾ
ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
KHOA TIẾNG TRUNG

TIỂU LUẬN
(HÁN NGỮ CỔ ĐẠI)
Đề tài:
TÌM HIỂU VỀ TÁC GIA LÃO TỬ VÀ MỘT SỐ CHƯƠNG TRONG
ĐẠO ĐỨC KINH

Giảng viên giảng dạy: Ths. Liêu Vĩnh Dũng
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Nhàn
MSSV: 1275410088
Lớp: Trung TMK9
Môn: Hán ngữ cổ đại
Nhóm: 2

Huế, tháng 12/2015



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status