1
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, nền kinh tế luôn gắn liền với nó
là sự tồn tại và phát triển của con người. Kinh tế là một trong những nhân tố
quan trọng góp phần tạo dựng nên các nền văn minh thế giới mà không ai,
không gì có thể phủ nhận được. Đó là nền văn minh nông nghiệp, công
nghiệp và hậu Kinh tế là một trong những nhân tố quan trọng góp phần tạo
dựng nên các nền văn minh thế giới mà không ai, không gì có thể phủ nhận
được. công nghiệp... Việt Nam cũng là một quốc gia không nằm ngoài quy
luật đó. Nông nghiệp là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, đặc biệt đối
với các quốc gia phương Đông. Khi nghiên cứu một thời kỳ (về nông nghiệp),
giúp ta hiểu và nghiên cứu các giai đoạn khác.
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn là ba vấn đề có mối liên hệ mật
thiết, tùy thuộc lẫn nhau và có vai trò lớn trong sự nghiệp đấu tranh giành độc
lập, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH). Phát triển nông
nghiệp nâng cao đời sống của nông dân là nhiệm vụ chiến lược vô cùng quan
trọng trong mọi thời kỳ lịch sử.
Về sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn, Nghị quyết Đại hội
Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV nêu rõ: “ Tập trung đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn, coi phát triển nông nghiệp và kinh tế
nông thôn là nhiệm vụ quan trọng nhằm mục tiêu không ngừng nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần của nông dân, bảo đảm an ninh trật tự nông thôn, tạo
tiền đề và môi trường thuận lợi thúc đẩy công nghiệp dịch vụ phát triển. Phấn
đấu tốc độ tăng trưởng nông - lâm nghiệp - thủy sản bình quân 55,5%/năm”.[36]
Phát huy truyền thống tiên phong và sáng tạo, thực hiện Nghị quyết
(NQ) Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, ngày 27/12/2006, Ban chấp hành
2
Đảng bộ tỉnh đã ban hành Nghị quyết 03-NQ/TU “Về phát triển nông nghiệp,
nông thôn, nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2006- 2010, định hướng đến
Việt Nam (1945-1995), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội; “Đổi mới ở Việt Nam nhớ lại và suy ngẫm”, Nxb Tri thức năm 2008 của tác giả Đào Xuân Sâm.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu và
giải quyết một cách có hệ thống sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về
vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân từ năm 2006-2010. Vì vậy tôi
chọn đề tài trên để làm luận văn tốt nghiệp cử nhân lịch sử chuyên ngành lịch
sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Là nghiên cứu về vấn đề Tam nông của tỉnh Vĩnh Phúc thông qua
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIV về
“Phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân giai đoạn
2006-2010, định hướng đến năm 2020” ở tỉnh Vĩnh Phúc đã ra đời như thế
nào, quá trình thực hiện, kết quả và những tác động Nghị quyết đến mọi mặt
của xã hội ra sao.
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu Nghị quyết 03-NQ/TU về
“Phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân giai đoạn
2006-2010, định hướng đến năm 2020” ở tỉnh Vĩnh Phúc.
Thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề trên trong giai đoạn từ
2006-2010.
5
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
- Nghiên cứu về tình hình nông nghiệp, nông thôn, nông dân Vĩnh Phúc
trước khi tỉnh ủy ban hành Nghị quyết 03-NQ/TU.
- Nghiên cứu hoàn cảnh ra đời, nội dung cơ bản và quá trình thực hiện
Nghị quyết 03-NQ/TU
- Nghiên cứu kết quả thực hiện, kinh nghiệm cơ bản trong việc thực
hiện Nghị quyết 03-NQ/TU và những vấn đề đặt ra
7. KẾT CẤU KHÓA LUẬN
Bài khóa luận Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục, luận văn chia thành 2 chương, 8 tiết.
7
Chương 1
QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 03-NQ/TU
“VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN NÂNG CAO
ĐỜI SỐNG NÔNG DÂN GIAI ĐOẠN 2006-2010 ĐỊNH HƯỚNG
2020” CỦA TỈNH VĨNH PHÚC
1.1. KHÁI QUÁT VỀ VĨNH PHÚC VÀ TÌNH HÌNH NÔNG NGHIỆP,
NÔNG THÔN VĨNH PHÚC TRƯỚC KHI TỈNH ỦY BAN HÀNH NGHỊ
QUYẾT 03-NQ/TU
1.1.1 Khái quát về Vĩnh Phúc
1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
* Về địa lý hành chính: Vĩnh Phúc là tỉnh nằm trong khu vực châu thổ
sông Hồng thuộc trung du và miền núi phía Bắc, có tọa độ từ 21035' (tại xã
Đạo Trù, huyện Tam Đảo) đến 21°19' (tại xã Trung Hà, huyện Yên Lạc) vĩ độ
Bắc; từ 1050 109' (tại xã Bạch Lưu, huyện Sông Lô) đến 105047’ (tại xã Ngọc
Thanh, thị xã Phúc Yên) kinh độ Đông.
Trước khi Quốc hội ban hành Nghị quyết 15/2008/QH 12 ngày
29 - 5 - 2008 chuyển toàn bộ huyện Mê Linh về thành phố Hà Nội
Vĩnh Phúc có diện tích tự nhiên là 1.371,47 km2, gồm 9 đơn vị hành
chính: thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và 7 huyện: Lập Thạch,
Tam Dương, Bình Xuyên, Tam Đảo, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Mê
Linh. Sau khi Chính phủ điều chỉnh địa giới tính theo Nghị quyết
của Quốc hội, diện tích tự nhiên của Vĩnh Phúc còn 1.231,6 km2
gồm 9 đơn vị hành chính (1 thành phố,1 thị xã và 7 huyện) là: thành
Vĩnh Phúc có đặc điểm riêng biệt về địa lý hành chính, tháng 2/1950
hợp nhất 2 tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên thành tỉnh Vĩnh Phúc. Đến ngày 26/1/
9
1968, Vĩnh Phúc sáp nhập với tỉnh Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú. Ngày
1/1/1997, tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập thành tỉnh riêng biệt.
* Địa hình: Vĩnh Phúc ở vào vùng đỉnh châu thổ sông Hồng, khoảng
giữa miền Bắc Việt Nam, là khu chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng.
Vĩnh Phúc có cả 3 vùng sinh thái: Đồng bằng, trung du và miền núi hay còn
gọi là địa hình miền núi, địa hình vùng đồi và địa hình đồng bằng. Đó là kết
quả tổng hợp từ các quá trình địa chất nội sinh và ngoại sinh cùng vài tác
động của con người như đắp đê ngăn nước, đắp đập, phá rừng làm nương rẫy.
*Đất đai: Gồm nhiều loại đất, chất đất. Đất sét có nhiều ở Hương Canh
(Bình Xuyên), Hiền Lễ (thị xã Phúc Yên)... tạo điều kiện cho nghề gốm, gạch,
ngói, vật liệu xây dựng... Đất thịt, phù sa tập trung chủ yếu ở các huyện Vĩnh
Tường, Yên Lạc và đất trồng cây lâm nghiệp tập trung ở các huyện Tam Đảo,
Tam Dương... Đất trồng đay, cói... phân bố ở huyện Tam Dương. Đặc biệt là
đất bồi ven sông Hồng, Sông Lô, sông Phó Đáy ở các huyện Vĩnh Tường,
Yên Lạc và Sông Lô là điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp.
* Khí hậu: Nhiệt đới, nóng ẩm, mỗi năm trung bình 142 ngày mưa với
lượng nước 1.500mm, giờ nắng trung bình 1500 giờ, nhiệt độ trung bình là
21°C độ ẩm trung bình là 84 %. Đặc điểm khí hậu này rất thích hợp với việc
phát triển kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi và các cây công nghiệp
ngắn, dài ngày.
* Tài nguyên nước: Vĩnh Phúc có một mạng lưới sông, suối, ngòi khá
dày đặc với hai hệ thống sông chính là sông Hồng và sông Cà Lồ. Ngoài ra
còn có các sông như: Sông Lô, sông Phó Đáy.
Ngoài hệ thống sông ngòi và trữ lượng nước ngầm, Vĩnh Phúc còn có
nhiều đầm, hồ lớn. Thiên tạo có Đầm Vạc (thành phố Vĩnh Yên); đầm Dưng,
chủ đạo gắn liền với quá trình phát triền của Người Việt cổ.
Như vậy, qua hằng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của tổ
11
tiên, Vĩnh Phúc không chỉ tự hào là cội nguồn, là đất phát tích của dân tộc, mà
bất kì ở giai đoạn lịch sử nào cũng có những đóng góp quan trọng vào sự sinh
tồn của dân tộc, tạo nên những giá trị vật chất và tinh thần của xã hội để lại
dấu ấn đậm nét trong thiên nhiên, trong sinh hoạt xã hội, trong tính cách con
người Vĩnh Phúc. Những truyền thống quý báu đó là những giá trị bền vững
để nhân dân Vĩnh Phúc viết tiếp những trang sử vẻ vang của quê hương, khi
có sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
* Các thành phần dân tộc trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Trong tổng số 9 đơn vị hành chính cấp huyện hiện nay ở Vĩnh Phúc có
4 huyện, thị xã có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống thành cộng đồng đó là
Bình Xuyên, Tam Đảo, Lập Thạch, Phúc Yên. Trong báo cáo tổng kết công
tác dân tộc năm 2004 của Ban Dân tộc và tôn giáo của tỉnh Vĩnh Phúc có viết:
Hiện nay toàn tỉnh có 39 xã được công nhận là xã miền núi với
301 thôn, bản, 47.000 hộ và 235.000 khẩu, trong đó đồng bào dân
tộc thiểu số gồm 7.365 hộ, 38.082 khẩu, chiếm 3,13 % dân số cả
tỉnh. Đồng bào dân tộc thiểu số sống tập trung chủ yếu ở 17 xã
thuộc 4 huyện, thị xã, trong đó chiếm tỉ lệ cao nhất là huyện Tam
Đảo (9/9 xã, thị trấn có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống với
5.451 hộ, 25.226 khẩu bằng 38% dân số cả huyện). Trong số các
dân tộc sống thành cộng đồng thì đông nhất là dân tộc Sán Dìu
chiếm 88,49%, dân tộc Cao Lan (Sán Chay) chiếm 3,6%, dân tộc
Tày chiếm 2,44%, dân tộc Dao chiếm 1,86%, dân tộc Mường chiếm
0,97%. Còn lại các dân tộc khác chiếm 1,38%. Các dân tộc sống
đan xen, đoàn kết, hoà thuận và hỗ trợ nhau phát triển. [2]
* Dân số.
tổng sản lượng, đó là thắng lợi lớn và có thể nói là thắng lợi lớn nhất từ sau
năm 1959 đến nay”. Năm 1963, Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh dẫn đầu
13
toàn miền Bắc về sản xuất lương thực, trồng cây, làm thủy lợi và phong trào
hợp tác hóa nông nghiệp, đặc biệt là về năng suất lúa. [33, tr. 5]
Đến năm 1964 sản xuất nông nghiệp ở Vĩnh Phúc đạt được thành tích
cao, nhất là huyện Vĩnh Tường đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi
biểu dương, trong bài “Hai huyện đáng khen” đăng trên báo Nhân dân số ra
ngày 9-12-1964 viết: “Vụ mùa năm nay, ở các tỉnh có một số hợp tác xã đã
gặt được mỗi mẫu tây từ 3 đến 4 tấn thóc. Đó là những cố gắng đáng khen.
Nhưng đáng khen hơn cả là hai huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) và Lâm Thao
(Phú Thọ)”. [34, tr. 7]
Cùng với phát triển kinh tế nông nghiệp, đời sống của nông dân Vĩnh
Phúc được nâng lên một bước, bộ mặt nông thôn từng bước đổi mới. Đặc biệt,
Đảng bộ rất quan tâm lãnh đạo phát triển sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế...
nhằm từng bước nâng cao dân trí, cải thiện một bước đời sống văn hóa, tinh
thần cho nhân dân. Vì vậy, mặc dù có nhiều khó khăn về đầu tư trang thiết bị,
cơ sở hạ tầng... nhưng các hoạt động văn hóa – xã hội đã thực sự có những
chuyển biến tích cực.
Ngày 29-7-1977, Ban thường vụ Tỉnh ủy ra Nghị quyết: “Về cải tiến
một số chế độ quản lý trong HTX nông nghiệp”, chủ trương từng bước khoán
sản lượng, có thưởng phạt ở từng khâu sản xuất, chuyển từ chế độ phân phối
bằng hiện vật sang chế độ phân phối thu nhập bằng tiền ở những cơ sở, HTX
có đủ điều kiện cải tiến quản lý.
Ngày 13-1-1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 100CT/TW về “Cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và
người lao động trong HTX nông nghiệp”. Chỉ thị nêu rõ ba mục đích của
khoán sản phẩm là: “Bảo đảm phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh
tế; củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất XHCN ở nông thôn; nâng cao thu
15
bước đời sống cán bộ, công nhân, lực lượng vũ trang và nhân dân lao động.
[7, tr. 509]
Ngày 15-4-1987, Tỉnh ủy Vĩnh Phú ra Nghị quyết số 04-NQ/TU về
chương trình lương thực, thực phẩm đến năm 1990. Nghị quyết nêu rõ đến
năm 1990, tỉnh phải tự trang trải nhu cầu ăn, có dự trữ và có lương thực phát
triển chăn nuôi từng bước phát triển.
Chỉ thị 100-CT/TW đưa ra bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn
gặp một số khó khăn nhất định. Chính vì vậy ngày 5-4-1988, Bộ Chính trị ra
Nghị quyết số 10-NQ/TW “Về đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp”,
Nghị quyết 10 đề ra cơ chế khoán mới, xác định HTX nông nghiệp là đơn vị
kinh tế tự chủ, tự quản, hộ xã viên là đơn vị nhận khoán với HTX.
Ngày 11-11-1988 Tỉnh ủy ra Nghị quyết số 15-NQ/TU “Về tiếp tục đổi
mới quản lý kinh tế trong các HTX nông nghiệp”.
Để đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta, tháng 6-1993,
Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng, khóa VII ra Nghị
quyết “Về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn”. Hội nghị
nhấn mạnh quan điểm phải đặt sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn
theo hướng sản xuất hàng hóa trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, coi đó là nhiệm vụ chiến lược có tầm quan trọng hàng đầu.
Năm 1993, Tỉnh ủy Vĩnh Phú phát động năm giao thông nông thôn,
huy động gần 30 tỷ đồng cho việc làm mới, tu sửa đường, cầu cống, giải
quyết một bước căn bản đường đi lại và vận tải bằng xe cơ giới nhỏ trong
nông thôn... Năm 1994, 47% số hộ nông dân đã có điện sử dụng phục vụ đời
sống và sản xuất.
Ngày 6-1-1996, Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XI ra Nghị quyết về
điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh. Trong đó tỉnh Vĩnh Phú được tách
hai tỉnh là Vĩnh Phúc và Phú Thọ. Sau 29 năm hợp nhất, Vĩnh Phúc được tái
phẩm chất đạo đức mới được hình thành và được xã hội chấp nhận. Qua đó,
17
người nông dân đã được tham gia các phong trào văn hoá, văn nghệ, thể thao
của địa phương, từng bước nâng cao mức hưởng thụ văn hoá - thể thao của
mình. Đã có 90% số hộ gia đình ở nông thôn có phương tiện nghe, nhìn, trên
20% hộ gia đình có điện thoại cố định, 100% gia đình có radio, 100% số xã
có hệ thống loa truyền thanh tới thôn, làng.
1.2. HOÀN CẢNH RA ĐỜI CUẢ NGHỊ QUYẾT 03-NQ/TU
Sau khi được tái lập (01-01-1997), từ một tỉnh thuần nông, nền kinh tế
Vĩnh Phúc đã có sự chuyển mình ngoạn mục theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Giai đoạn 1997-2000, tốc độ tăng GDP của nền kinh tế đạt 18,1% năm
(mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII là 18-20%/năm) trong đó: Công
nghiệp – xây dựng tăng 42,55%/năm, dịch vụ tăng 11,8%/năm, nông nghiệp
tăng 5,7%/năm; Giai đoạn 2001- 2005, tốc độ tăng GDP nền kinh tế đạt
15%/năm (mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII là trên 10%/năm) trong
đó: Công nghiệp – xây dựng tăng 20,85%/năm, dịch vụ tăng 13,95%/năm,
nông nghiệp tăng 6,4%/năm. Cơ cấu kinh tế tăng mạnh theo hướng tăng tỷ
trọng công nghiệp; thu hút đầu tư các thành phần kinh tế tăng mạnh, tiềm lực
kinh tế và cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường. Nông nghiệp - nông thôn
bước đầu được quan tâm; Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp,
hỗ trợ đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, từng bước thay đổi bộ mặt nông thôn
của tỉnh. [49. tr. 2]
Tuy nhiên, trong phát triển nông nghiệp, nông thôn còn bộc lộ những
tồn tại, yếu kém:
Trong nông nghiệp, nông thôn: Bình quân ruộng đất thấp, sản xuất
manh mún, việc thực hiện chính sách đất nông nghiệp còn bất cập. Công nghệ
sản xuất lạc hậu, thủ công. Tỷ lệ lao động thiếu việc làm tăng, trong sản xuất
nông - lâm nghiệp - thủy sản chỉ đảm bảo 59,65% thời gian lao động của nông
19
làm việc tại các nhà máy, xí nghiệp nên một bộ phận nông dân trở thành
thất nghiệp không có việc làm. Tỉnh đã có chính sách cấp đất dịch vụ
cho hộ nông dân mất đất sản xuất, nhưng trong thực tế khó thực hiện.
[1, tr.112]
Hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp thấp: Tỉnh ta có diện tích đất bạc
màu, nghèo dinh dưỡng lớn, mặc dù hệ số sử dụng đất cao, 80% diện tích đã
sản xuất 1 vụ/năm, nhiều diện tích 4 vụ, các tiến bộ kỹ thuật được chuyển
giao, ứng dụng mạnh, nhưng giá trị sản xuất không cao.
Chất lượng sản phẩm thấp, giá thành cao nên khó cạnh tranh,
trong khi chế biến, tiêu thụ nông sản kém phát triển, hạn chế sản xuất
hàng hoá. Các chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông - lâm
nghiệp - thuỷ sản thực hiện chưa đồng bộ.
Chăn nuôi phát triển khá, đã khẳng định vai trò là mũi đột phá trong
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh, giá trị
sản xuất đạt cao (gần 1,2 ngàn tỷ đồng), nhưng vẫn thiếu bền vững.
Công nghệ sản xuất còn lạc hậu, mức độ áp dụng kỹ thuật - công
nghệ và cơ giới hoá, hiện đại hoá trong sản xuất nông nghiệp thấp.
Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp chưa đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Giai đoạn 2006-2010, Nghị quyết Đại hội đảng bộ tỉnh lần thứ XIV xác
định mục tiêu:
Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao theo hướng ổn định, bền vững,
tạo chuyển biến mạnh về chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, chủ
động và chuẩn bị tốt cho hội nhập kinh tế. Khai thác có hiệu quả các nguồn
lực cho đầu tư phát triển;… Chú trọng phát triển văn hóa, giáo dục đào tạo,
khoa học công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc và nâng cao sức
khỏe nhân dân, đẩy mạnh giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ hộ nghèo, tăng tỷ lệ
21
1.3 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỊ QUYẾT 03-NQ/TU
Quan điểm phát triển nông nghiệp - nông thôn của Nghị quyết 03/NQTU là “Phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời
sống nông dân là nhiệm vụ chiến lược quan trọng hàng đầu trong quá trình
công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn”. [39, tr. 6] “Hỗ trợ cho
nông nghiệp - nông thôn trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động,
đồng thời tăng thu ngân sách để tái đầu tư cho nông nghiệp - nông thôn;…
Trước hết là phát triển lực lượng sản xuất, trong đó chú trọng phát huy nguồn
lực con người tạo môi trường thuận lợi giải phóng sức sản xuất của mọi thành
phần kinh tế và tạo điều kiện cho nông dân chủ động đầu tư phát triển nông
nghiệp - nông thôn; Giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với
ổn định xã hội, bảo vệ môi trường, phòng chống giảm nhẹ thiên tai, xây dựng
nông thôn mới nhằm giải quyết việc làm, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật
chất tinh thần của nông dân. Từng bước thu hẹp khoảng cách về mức sống
giữa thành thị và nông thôn, giữa nông dân và các thành phần xã hội khác, giữ
gìn và phát huy có giá trị văn hóa truyền thống; Nâng cao ý thức chấp hành
pháp luật cho nhân dân. Phát huy dân chủ, tăng cường khối đại đoàn kết toàn
dân; Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”.
Phương châm để thực hiện Nghị quyết “ Giảm đóng góp, tăng đầu tư,
phát triển nông thôn toàn diện”.
Mục tiêu của Nghị quyết 03-NQ/TU là “khai thác tối đa lợi thế về vị trí
địa lý, tài nguyên và vai trò trọng yếu của nông dân trong phát triển kinh tế - xã
hội nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH,HĐH),… giải
quyết việc làm, phân công lại lao động xã hội, trong đó chuyển phần lớn lao
động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp, dịch vụ, tăng thu
nhập từ sản xuất nông nghiệp và các ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn;
Xây dựng nông thôn mới giàu đẹp, văn minh, có hệ thống kết cấu hạ tầng kinh
23
văn hóa, 80% làng đạt tiêu chuẩn văn hóa, 100% các xã, thôn, bản có nhà văn
hóa, khu hoạt động thể dục thể thao và vui chơi giải trí cho trẻ em. Xây dựng
20 làng văn hóa trọng điểm. Các dịch vụ bưu chính viễn thông, điện, giao
thông nông thôn, nước sạch và vệ sinh môi trường đáp ứng yêu cầu CNHHĐH nông nghiệp - nông thôn. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Ít nhất có 80% tổ chức cơ sở đảng
đạt trong sạch vững mạnh, bộ máy chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội
hoạt động có chất lượng, hiệu quả.
1.4 QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 03-NQ/TU VỀ NÔNG
NGHIỆP, NÔNG THÔN, NÂNG CAO ĐỜI SỐNG NÔNG DÂN GIAI
ĐOẠN 2006-2010, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020
1.4.1 Sự chỉ đạo, lãnh đạo thực hiện của các cấp chính quyền.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nghị quyết
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV và Chương trình công tác toàn khoá của
Tỉnh uỷ, ngày 27- 12-2006, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ra Nghị quyết số:
03-NQ/TU về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân
giai đoạn 2006-2010, định hướng đến năm 2020. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo
của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh và Ban chỉ đạo thực hiện NQ03 của tỉnh,
thời gian qua các Sở, ban, ngành đã tập trung phối hợp với các cấp, các ngành
triển khai chỉ đạo thực hiện NQ03 gắn với chức năng, nhiệm vụ của mình và
đạt kết quả tốt.
1.4.1.1 Công tác chuẩn bị triển khai thực hiện Nghị quyết
Công tác tham mưu, trình Tỉnh uỷ ra các Quyết định thành lập, kiện
toàn Ban chỉ đạo thực hiện Nghị quyết, UBND tỉnh có quyết định thành lập
các Tiểu ban của Ban chỉ đạo, tổ công tác giúp việc BCĐ và ban hành quy chế
hoạt động, phân công nhiệm vụ của các thành viên trong BCĐ; Kế hoạch tổ
chức thực hiện NQ03 của UBND tỉnh; Kế hoạch số: 22-KH/TU ngày 12-7-
24
trung tuyên truyền phổ biến sâu rộng nội dung của Nghị quyết 03 đến mọi
tầng lớp nhân dân.
Thông qua hoạt động tuyên truyền phổ biến, quán triệt, học tập Nghị
quyết vừa qua, đã tạo được sự quan tâm, đồng thuận của đông đảo cán bộ,
đảng viên và nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Các ý kiến đều cho rằng nội
dung của Nghị quyết 03 đã gắn với thực tiễn, sát với dân; các chủ trương,
định hướng, giải pháp đưa ra đáp ứng được mong mỏi, nguyện vọng của nhân
dân. [46, tr. 2]
1.4.2 Cụ thể hoá sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh phúc về vấn đề nông
nghiệp, nông thôn, nông dân từ năm 2006 đến năm 2010
1.4.2.1. Các nghị quyết của HĐND tỉnh đã được cụ thể hoá và tổ chức thực
hiện.
Nghị quyết số: 16/2007/NQ-HĐND về chương trình giảm nghèo,
giải quyết việc làm giai đoạn 2007-2010.
Sở Lao động – Thương binh xã hội đã phối hợp với các sở ban ngành,
các huyện, thành, thị triển khai nội dung chương trình theo kế hoạch. Từ năm
2006 đến nay đã cấp 472,378 thẻ Bảo hiểm y tế cho các đối tượng với tổng
chi phí 41.140 triệu đồng. Xét duyệt miễn giảm học phí, đóng góp xây dựng
(2006-2008) cho 100.940 học sinh với kinh phí 20.932 triệu đồng; trợ cấp học
tập hàng tháng với mức 100.000đ/tháng, hỗ trợ học bổng học sinh dân tộc nội
trú 400.000đ/tháng; tổng số học sinh được hỗ trợ10.978 em, với tổng cho phí
7.04 triệu; hỗ trợ xây dựng 3.470/6.072 nhà đại đoàn kết với tổng chi phí
57.576 triệu đồng.
Về thực hiện chính sách tín dụng cho vay vốn đối với hộ nghèo và học
sinh sinh viên:
Đã có 37 nghìn hộ nghèo và cận nghèo được vay vốn Ngân
hàng chính sách xã hội với mức lãi suất 0,65%/tháng, tổng dư nợ