1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong cách mạng của giai cấp
công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc Việt Nam. Đảng là tổ chức
lãnh đạo duy nhất cách mạng Việt Nam, đã đưa dân tộc ta tiến lên giành
những thắng lợi có ý nghĩa Lịch sử vĩ đại và có tính thời đại sâu sắc. Và ở độ
tuổi 15, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đứng lên giành chính quyền trong cả
nước, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thắng lợi đó có sự chung
lưng góp sức của các Đảng bộ và nhân dân các địa phương.
Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, Đảng ta vẫn luôn xác định phải
huy động sức mạnh của toàn dân, sức mạnh của từng địa phương để xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa. Vì vậy, nghiên cứu về sự ra đời của Đảng bộ và thực hiện chủ
trương của Trung ương Đảng, lãnh đạo nhân dân địa phương đứng lên khởi
nghĩa giành chính quyền nhằm làm rõ một vấn đề quan trọng trong Lịch sử
đấu tranh của Đảng, từ đó rút kinh nghiệm phục vụ hiện tại là việc làm có ý
nghĩa lí luận và thực tiễn.
Hòa Bình là vùng đất có truyền thống yêu nước và cách mạng. Trong
suốt chiều dài Lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, tỉnh Hòa
Bình luôn giữ một vị trí chiến lược quan trọng. Vì vậy, nơi đây đã trở thành
nơi cuộc khởi nghĩa diễn ra quyết liệt giữa ta và địch.
Nghiên cứu về sự ra đời của Đảng bộ và cuộc khởi nghĩa giành chính
quyền trên địa bàn tỉnh Hòa Bình sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc về:
- Quá trình ra đời của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình.
- Sự lãnh đạo tổ chức của Đảng với cuộc khởi nghĩa giành chính
quyền.
2
3
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích
Khai thác sâu, tìm hiểu kĩ hơn nữa quá trình ra đời của Đảng bộ tỉnh
Hòa Bình; những chủ trương, đường lối và quá trình lãnh đạo nhân dân đấu
tranh giành chính quyền. Làm rõ những thành tựu cũng như hạn chế trong quá
trình lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền. Từ đó rút ra những bài
học kinh nghiệm để lãnh đạo nhân dân trong giai đoạn hiện nay, đẩy mạnh sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa.
3.2. Nhiệm vụ
- Phân tích hoàn cảnh và quá trình ra đời của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình.
- Phân tích sự lãnh đạo xây dựng lực lượng và tiến hành đấu tranh trên
địa bàn tỉnh Hòa Bình thời kỳ 1939 - 1945 trên cơ sở quán triệt, thực hiện chỉ
thị Nghị quyết của Trung ương Đảng.
- Nhận xét những ưu điểm, hạn chế của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình trong
việc lãnh đạo nhân dân giành chính quyền.
- Nêu lên một số đặc điểm và rút ra bài học kinh nghiệm trong lãnh
đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về sự ra đời và sự lãnh đạo của Đảng bộ
tỉnh Hòa Bình trong cuộc đấu tranh giành chính quyền của nhân dân trong
tỉnh thời kỳ 1939 - 1945.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
- Các văn kiện của Đảng trong những năm 1939 - 1945.
- Các văn kiện của Đảng bộ tỉnh và các huyện.
- Lịch sử Đảng bộ các địa phương ở tỉnh Hòa Bình.
núi, là điểm chung chuyển sức hút ảnh hưởng chính trị kinh tế, văn hóa, xã
hội với một trung tâm lớn - thủ đô Hà Nội
Tỉnh Hòa Bình có diện tích tự nhiên 4.662,53 km2. Nằm trong giới hạn
20 độ 19 giây - 21 độ 08 giây vĩ bắc và 104 độ 48 giây - 105 độ 50 giây kinh
đông, phía Tây giáp tỉnh Sơn La, phía Nam giáp với tỉnh Ninh Bình, Hà Nam
và Thanh Hóa [25, tr.3].
Tỉnh Hòa Bình được thành lập từ ngày 22 - 06 - 1886, khi chính quyền
thực dân Pháp kí hiệp định cắt các vùng đất có nhiều đồng bào Mường cư trú
thuộc các tỉnh Hưng Hóa, Sơn Tây, Hà Nội và Ninh Bình để thành lập một
tỉnh mới gọi là là tỉnh Mường. Vào thời kì này, tỉnh Mường có bốn phủ: Vàng
An, Lương Sơn, Lạc Sơn và Chợ Bờ. Tỉnh lỵ đặt tại Chợ Bờ. Từ đó đến năm
1896, tỉnh lỵ và tổ chức hành chính của tỉnh Mường có nhiều thay đổi. Tỉnh lỵ
đặt tại Chợ Bờ ít lâu thì chuyển về Phương Lâm. Nhưng vì ở đây thường
xuyên bị ngập lụt nên lại chuyển về Chợ Bờ. Sau cuộc tấn công bất ngờ của
nghĩa quân Đốc Ngữ vào Chợ Bờ đêm 29 rạng 30 - 1 - 1891, thực dân Pháp
hoảng sợ chuyển lỵ sở đi chỗ khác. Ngày 5 - 9 - 1896, tỉnh lỵ Mường được
chuyển về đóng tại làng Vĩnh Diệu xã Hòa Bình, phía tả ngạn sông Đà, đối
diện với Phương Lâm. Từ đó tỉnh Mường được gọi là tỉnh Hòa Bình. Trong
quá trình thực dân Pháp tiến hành bình định, có thời gian chúng lập đạo quan
binh Mỹ Đức, bao gồm cả Kỳ Sơn, Lương Sơn, Lạc Sơn và Mai Đà. Lạc
Thủy thuộc về châu Lạc Sơn đến tháng 10 - 1908 thì chuyển về Hà Nam.
6
Từ năm 1896, đại giới của tỉnh Hòa bình về cơ bản đã được ổn định.
Đến tháng 1 - 1953, châu Lạc Thủy cùng một số xã thuộc Nho Quan (Ninh
Bình) được chuyển về Hòa Bình. Sau 1954, các châu chuyển thành đơn vị
hành chính cấp huyện và việc tổ chức hành chính các huyện có một số thay
đổi: Huyện Lương Sơn tách thành 2 huyện là Lương Sơn và Kim Bôi (1954),
kéo dài thành những cánh đồng tương đối bằng phẳng và các triền ven sông.
Do vị trí địa thế, địa hình có nhiều đặc điểm nên Hòa Bình trở thành một địa
bàn cơ động chiến lược ở Bắc Bộ, là cửa ngõ của vùng Tây Bắc, là hậu cứ bảo
vệ thành phố Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ. Địa hình, địa thế hiểm trở tạo nên
việc xây dựng căn cứ, một thế đất “tiến có thể đánh lui có thể giữ”. Thực tiễn
trong tiến trình Lịch sử núi rừng Hòa Bình từng nhiều lần là căn cứ dấy binh,
là địa bàn hoạt động chống xâm lăng, chống triều đình phong kiến thối nát.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954), Hoà Bình đã
từng là căn cứ của chiến trường quân khu III, là hành lang giao thông chiến
lược giữa liên khu III, liên khu IV với Việt Bắc, Tây Bắc.
Tỉnh Hòa Bình thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, có bốn mùa xuân, hạ,
thu, đông như các tỉnh miền Bắc Việt Nam tuy nhiên, rõ rệt hơn cả là sự thể
hiện hai mùa theo chế độ mưa trong năm là mùa mưa và mùa khô. Với khí
hậu như vậy có thể nói đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nền kinh tế
nông nghiệp, lâm nghiệp, trồng trọt,... của nhân dân trong tỉnh [25, tr.28]. Ở
địa bàn miền núi, nông - lâm nghiệp là tiềm năng kinh tế quan trọng hàng đầu
của tỉnh, đặc biệt là tiềm năng về lâm nghiệp. Từ xa xưa, rừng là tài nguyên
quý giá nhất của tỉnh Hòa Bình với nhiều loại gỗ quý có giá trị kinh tế, giá trị
sử dụng cao như các loại tư thiết bị dùng trong xây dựng, các loại lim, sến ,
táu, chò chỉ, lát hoa,... Dùng trong nghề mộc dân dụng. Ngoài ra còn rất nhiều
loại bương, tre, nứa, song, mây,... nhiều loại cây công nghiệp, cây ăn quả,
8
cùng những đặc sản rừng quý như nấm hương, mộc nhĩ, màng, cánh kiến,...
Trong rừng Hòa Bình có nhiều loại thuốc quý, theo điều tra bước đầu có tới
400 cây thuốc trong đó có quế, sa nhân, hoài sơn, hà thủ ô,... Trước đây trong
rừng còn có nhiều loài thú từ gà lôi, sóc,... và xa xưa còn có voi.
Hòa Bình nằm trong khu vực giáp ranh của ba khu hệ động vật của
nên nguồn thủy điện rất phong phú, có điều kiện phát triển thủy điện nhỏ trên
phạm vi rộng. Đặc biệt là nguồn năng lượng sông Đà là rất lớn. Trước đây
thực dân Pháp cũng muốn khai thác nguồn năng lượng này. Năm 1925, chúng
đã thăm dò lập đề án xây dựng thủy điện sông Đà nhưng không thực hiện
được. Từ năm 1979, với sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô, công trình thủy điện
trên sông Đà đã được khởi công xây dựng. Đây là công trình thủy điện lớn
nhất Đông Nam Á với 8 máy, có tổng công suất là 1,92 triệu kw, sản lượng
hàng năm là 8,16 tỷ kw/giờ.
Sông suối ở Hòa Bình hàng năm mang lại nguồn thủy sản đáng kể.
Ngay tại các vùng cao, lợi dụng nước chảy tự nhiên đồng bào Dao, Thái vẫn
có thể nuôi thả cá ao có kết quả tốt. Nhờ núi rừng và bàn tay lao động của
nhân dân các dân tộc đã tạo nên nhiều cảnh quan kì thú như: Núi đá Cột cờ
(Tân Lạc), hang Can (Kỳ Sơn), hang Trại (Lạc Sơn),... với những dấu hiệu
của nền văn hóa Hòa Bình nổi tiếng, những bản làng đẹp của đồng bào Thái
(bản Lác - Mai Châu), của đồng bào Mường (bản Đầm, thành phố Hòa
Bình),... Suối nước khoáng Mơ Đá (Kim Bôi) vừa là điểm du Lịch vừa là nơi
điều dưỡng và là nguồn nguyên liệu phong phú để sản xuất nước giải khát có
giá trị. Đặc biệt công trình thủy điện Hòa Bình “công trình thế kỷ” ngoài ra
còn có nhiều cảnh quan tươi đẹp hấp dẫn có Hoa Sơn Động, có bãi tắm Bờ,...
những cảnh quan trên cùng với những sản phẩm thủ công mang đậm màu sắc
văn hóa của các dân tộc trong tỉnh như: Hàng thổ cẩm... đã thể hiện tiềm năng
phong phú của nền du Lịch Hòa Bình.
10
Bên cạnh những tiềm năng lớn, đa dạng như đã nêu ở trên điều kiện tự
nhiên cũng mang lại cho Hòa Bình không ít khó khăn trở ngại. Trước hết là
giao thông không thuận lợi. Dưới thời thực dân, phong kiến ngoài một vài
trục giao thông chính (đường 6,12,15) hầu như không có mạng lưới giao
dùng để chặt cây, đào đất,... đã được tìm thấy ở nhiều nơi trong địa bàn tỉnh.
Các tài liệu Lịch sử học, dân tộc học cũng đã chứng minh được hàng trăm
năm trước, đây là một trung tâm dân cư quan trọng. Con người đã mở mang,
khai phá đất Hòa Bình. Ngày nay Hòa Bình là một trong những tỉnh miền núi
phía Bắc có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống. Theo số liệu điều tra dân số
tháng 4 năm 1999, trên địa bàn tỉnh Hòa Bình có 15 dân tộc sinh sống. Các
dân tộc đáng kể ở Hòa Bình gồm 6 dân tộc: Mường, Kinh, Thái, Dao, H
Mông chiếm 99,92% tổng số dân của toàn tỉnh. Các sắc thái dân tộc đã trở
thành đặc điểm cư dân quan trọng mà khi nhắc tới Hòa Bình, chúng ta không
bỏ qua được [25, tr.107].
Trong đó dân tộc Mường là một trong những dân tộc thiểu số đông nhất
ở nước ta hiện nay, ước chừng 70 vạn người, cư trú đông nhất ở tỉnh Hòa
Bình (trước kia Hòa Bình có tên gọi là tỉnh Mường). Thời Pháp thuộc, vào
năm 1893, qua thống kê có 46.297 người Mường sống ở đây, chiếm tỷ lệ
khoảng 85% dân số toàn tỉnh. Kết quả gần đây cho thấy người Mường và
người Kinh (Việt) có chung một nguồn gốc là người Lạc Việt và đều là những
cư dân bản địa sinh sống lâu đời trên mảnh đất Việt Nam. Bên cạnh người
Mường còn có người Kinh. Họ cư trú chủ yếu ở các thị xã, huyện lỵ và hai
bên đường quốc lộ. Người Thái (chủ yếu ở Mai Châu), người Dao ( Kim Bôi,
Đà Bắc, Lương Sơn), người H’Mông (vùng cao Mai Châu),...
Là một tỉnh miền núi với nhiều tộc người sinh sống và thiên nhiên
không mấy ưu đãi, con người tỉnh Hòa Bình luôn có một tình cảm và sức
sống mãnh liệt: cần cù, chụi khó, thật thà, bất khuất và tự tin. Thế nhưng,
sống dưới sự áp bức bóc lột của chế độ phong kiến Lang đạo, người dân tỉnh
12
Hòa Bình không khác gì nô lệ. Kể từ khi thực dân Pháp sang xâm lược nước
ta (1858), được thực dân Pháp bợ đỡ, bọn Tổng Lý, Lang đạo thỏa sức bóc lột
Minh xâm lược (1418) bằng cách đầu quân tiếp tế lương thực, bảo vệ xây
dựng căn cứ, lịch sử còn ghi rõ trong đoàn quân khởi nghĩa của Lê Lai tiếp về
giải phóng Đông Quan (Hà Nội). Kết thúc 10 năm đấu tranh gian khổ giành
độc lập dân tộc có rất nhiều thủ lĩnh nghĩa quân người Mường Hòa Bình.
Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh kết thúc, đất nước
đang trong cảnh hòa bình, xây dựng, mở mang bờ cõi thì nhiều tù trưởng địa
phương là miền núi nổi lên cát cứ. Năm 1431 đích thân vua Lê Thái Tổ phải
cầm quân vượt sông Đà đi dẹp loạn đèo Cát Hãn. Đến Thác Bờ (Đà Bắc) khi
vừa chuẩn bị xong bè mảng vượt sông, người đã cảm tác làm bài thơ về vẻ
đẹp của thác Bờ và khắc vào vách đá. Bài thơ hiện còn lưu truyền đến bây
giờ. Trong cuộc hành quân dẹp loạn đèo Cát Hãn, Lê Lợi đã được các dân tộc
ở địa phương hết sức ủng hộ. Tiêu biểu là 3 mẹ con gia đình người Dao ở xã
Vây Nưa và một bà mẹ người Mường ở xã Hào Tráng đã đi quyên góp thực
phẩm, tổ chức đóng bè mảng, hướng dẫn binh lính triều đình vượt sông an
toàn [18, tr.15].
Mùa xuân 1789, Nguyễn Huệ đưa đạo quân từ Phú Xuân (Huế) hành
quân thần tốc ra Thăng Long đại phá quân xâm lược Mãn Thanh. Một cánh
quân của ông theo đường Yên Mô - Nho Quan qua Lạc Sơn, Lương Sơn (Kim
Bôi ngày nay) để vòng về Ba Thá, tập kích đền Đại Áng, Khương Thượng
(ngoại ô Thăng Long). Khi qua Lương Sơn, Lạc Sơn, nghĩa quân đã được
nhân dân tham gia tích cực, trai tráng xung phong vào các đơn vị chiến đấu,
người già, con trẻ tiếp tế lương thực vận chuyển vũ khí, dẫn đường. Tương
truyền có nhiều người lính Mường đã lập công và được đích thân vua Quang
Trung khen thưởng.
14
Cùng với truyền thống yêu nước chống xâm lược, nhân dân các dân tộc
Hòa Bình còn có truyền thống đấu tranh chống áp bức, bóc lột của chế độ
phó sứ Rugiơri làm chủ hoàn toàn tỉnh lỵ, thực dân Pháp hốt hoảng phải điều
hàng trung đoàn lính viễn chinh lên đối phó. Tiếp theo cuộc khởi nghĩa Đốc
Ngữ là cuộc khởi nghĩa Đốc Bang, Tổng Kiêm ở vùng Kỳ Sơn. Quân khởi
nghĩa đã đánh vào thị xã Hòa Bình (2 - 8 - 1909), phá trại giam, giải phóng tù
nhân, tấn công trại lính địch giết chết tên giám binh Senhô gây nỗi kinh hoàng
cho bọn thực dân đầu sỏ ở Bắc Kỳ,…
Kể từ khi có Đảng - Đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân
Việt Nam, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam
nói chung và nhân dân các dân tộc Hòa Bình nói riêng liên tiếp giành được
những thắng lợi to lớn, mở đầu là thành công của “Cách mạng tháng Tám
năm 1945”, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam, từ một nước
thuộc địa nửa phong kiến trở thành nước độc lập - tự do.
1.2.1. Văn hóa
Là chủ nhân của vùng đất Hòa Bình, từ rất sớm các dân tộc trong tỉnh
đã tạo ra một nền văn hóa Hòa Bình giàu bản sắc, nền văn hóa Hòa Bình là
một nền văn hóa cổ đại được các nhà khảo cổ học người Pháp Madelene
Colali phát hiện và đặt tên, từ những di tích hang động tìm thấy ở vùng núi đá
vôi tỉnh Hòa Bình. Nền văn hóa được đặt tên là: “nền văn hóa Hòa Bình” vì
Hòa Bình là nơi có nhiều địa điểm nhất phát hiện và nghiên cứu khai quật.
Đến nay ở Việt Nam đã tìm thấy trên 130 địa điểm văn hóa Hòa Bình nằm rải
rác ở các tỉnh: Thanh Hóa, Lai Châu, Sơn La, Hà Giang, Ninh Bình, Nghệ
An, Quảng Bình,...
Đặc trưng nổi bật nhất của “nền văn hóa Hòa Bình” là tổ hợp di vật bao
gồm: đồ đá, đồ xương và đồ gốm. Trong đó chủ yếu là di vật đá. Thống kê ở
22 địa điểm thuộc văn hóa Hòa Bình được khai quật cho thấy trong số 4416
16
công cụ cuội có: 125 rùi mài lưỡi, 3915 công cụ ghè đẽo và 412 công cụ cuội
nguyên bản cao ráo, xinh xắn, gọn gàng, ngăn nắp, ẩn hiện dưới những tán
cây xanh tươi. Những khung cửi và hàng thổ cẩm rực rỡ do bàn tay người phụ
nữ Thái làm nên, cùng nhiều nét đặc sắc khác trong môi trường văn hóa đậm
hồn dân tộc.
Đất Hòa Bình giàu đẹp và thơ mộng có bề dày Lịch sử với những nét
văn hóa độc đáo đã cùng với cả nước đấu tranh xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Việt Nam. Nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình trong quá trình đấu tranh
dựng nước và giữ nước đã dựng nên một truyền thống hết sức quý báu - đó là
truyền thống yêu nước, yêu quê hương.
1.3. SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÒA BÌNH
Hòa Bình là một tỉnh miền núi, có vị trí chiến lược quan trọng, là cửa
ngõ lên vùng Tây Bắc, xuống đồng bằng Bắc Bộ, vào khu IV và lên chiến khu
Việt Bắc. Chính vì vậy ánh sáng cách mạng của Đảng đã đến với nhân dân
các dân tộc tỉnh Hòa Bình từ rất sớm. Tháng 8 năm 1929, đồng chí Đào Gia
Lựu - một cán bộ của Đông Dương Cộng sản Đảng thuộc chi bộ Nam Định bị
thực dân Pháp nghi ngờ hoạt động cộng sản. Chúng đã điều đồng chí Lựu lên
Hòa Bình dạy học với mục đích là “biệt sứ”. Nhân cơ hội đó, Tỉnh ủy Đông
Dương Cộng sản Đảng Nam Định đã giao nhiệm vụ cho đồng chí Đào Gia
Lựu tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, tiến tới xây dựng cơ sở cách mạng ở
Hòa Bình.
Ở huyện Lạc Thủy, một địa bàn tiếp giáp với huyện Gia Viễn, Gia
Khánh tỉnh Ninh Bình, cuối năm 1930, chi bộ Đảng Thanh Khê - Trung Trữ
huyện Gia Khánh đã cử đồng chí Hoàng Tường lên Lạc Thủy gây cơ sở cách
mạng và phát triển tổ chức. Thực hiện nhiệm vụ chi bộ giao, đồng chí Hoàng
Tường đã tuyên truyền xây dựng được cơ sở cách mạng ở làng Hoàng Đồng
(xã Khoan Dụ). Một số thanh niên tiến bộ ở làng Hoàng Đồng nhanh nhạy,
sớm giác ngộ cách mạng và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
18
bước cao hơn. Đồng chí Vũ Đình Bản phụ trách củng cố mở rộng cơ sở ở Vụ
Bản (Lạc Sơn), phố Vãng, suối Rút (Mai Đà). Đồng chí Vũ Thơ phụ trách
phong trào ở thị xã Hòa Bình và liên lạc với chi bộ nhà tù, đồng thời tìm cách
mở rộng cơ sở ở các vùng nông thôn xung quanh.
Sau một thời gian ngắn, phong trào cách mạng ở Hòa Bình đã có thêm
nhiều cơ sở ở Chợ Bờ, Phương Lâm. Đặc biệt, tổ chức cứu quốc thị xã Hòa
Bình đã mở rộng hoạt động ra vùng nông thôn, phát triển được cơ sở người
Mường Hòa Bình… Đến tháng 10 năm 1944, Mặt trận Việt Minh thị xã Hòa
Lâm (nay là thành phố Hòa Bình) chính thức được thành lập. Hầu hết các phố
trong nội thị đều có tổ chức quần chúng cứu quốc. Ở Vụ Bản (Lạc Sơn), phố
Vãng, suối Rút, Chợ Bờ, (Mai Đà) đã phát triển thêm được hàng trăm hội
viên cứu quốc mới. Ngày 22 - 12 - 1944 Đội Việt Nam Tuyên truyền giải
phóng quân (VNTTGPQ) được thành lập tại căn cứ địa Việt Bắc. Đội
VNTTGPQ có nhiệm vụ đẩy mạnh hoạt động vũ trang trong vùng và chuẩn bị
tiến xuống phía Nam. Hòa Bình là một tỉnh nằm trên con đường Nam tiến của
đội VNTTGPQ nên việc xây dựng lực lượng đón giải phóng quân tiến qua
Hòa Bình là một yêu cầu cấp thiết. Tất cả những yếu tố nêu trên đó chính là
cơ sở, là tiền đề cho sự ra đời của Đảng bộ Hòa Bình vào đầu năm 1945.
Tổ chức của Mặt trận Việt Minh khu vực Hòa Bình ngày một phát
triển. Cùng với đó là sự phát triển của các tổ chức cứu quốc Vụ Bản (Lạc
Sơn), phố Vãng, suối Rút (Mai Đà),… Mặt khác, phong trào cách mạng tỉnh
Hòa Bình ở vào thời điểm cuối năm 1944 đã có sự khởi sắc hòa nhịp với
phong trào cách mạng cả nước. Với những sự trưởng thành như thế, để đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, cuối tháng 1 năm 1945, đồng chí
Hoàng Quốc Việt, ủy viên ban thường vụ Trung ương Đảng - Bí thư xứ ủy
Bắc Kỳ đã triệu tập đồng chí Vũ Thơ và đồng chí Vũ Đình Bản tới họp tại
một cơ sở cách mạng ở hạ Hòa Bình - Phú Thọ. Thay mặt Trung ương Đảng,
2.1.1. Xây dựng lực lượng chính trị, tổ chức các hình thức đấu tranh,
tập hợp quần chúng
Trong những năm 1943 - 1944, phong trào cách mạng trong tỉnh nói
chung còn hẹp và yếu, các cán bộ lãnh đạo phong trào là Đảng viên còn ít,
mới có hai đồng chí. Các tổ chức quần chúng cứu quốc mới nhen nhóm lên
trong phạm vi thị xã, thị trấn với số lượng không đông. Đặc biệt là chưa có
một cơ sở cách mạng nào trong đồng bào người địa phương vùng nông thôn.
Tuy nhiên, những khó khăn trên chỉ là tạm thời, tình hình phong trào trong
tỉnh đang có những thuận lợi.
Một mặt thanh thế và uy tín của mặt trận Việt Minh đã lan rộng trong
nhân dân. Tin tức về sự hoạt động của hai tỉnh bạn Ninh Bình, Hà Đông dội
vào cùng với những ảnh hưởng của chi bộ nhà tù, sự hoạt động của các tổ
chức cứu quốc ở thị xã, thị trấn càng làm cho nhân dân trông đợi. Mặt khác,
chính sách bóc lột kìm hãm của phát xít Pháp, Nhật đã làm cho các tầng lớp
nhân dân trong tỉnh ngày càng căm ghét chúng. Do đó, một số quần chúng
tiên tiến trong nhân dân có xu hướng ủng hộ Việt Minh và muốn hành động
cách mạng.
Thực hiện chủ trương trên, Ban Cán sự đã củng cố và mở rộng các cơ
sở thị xã, thị trấn, tích cực khẩn trương tiến hành các hoạt động cách mạng.
Các đoàn thể cứu quốc sau khi được chấn chỉnh tổ chức chặt chẽ, đã đi vào nề
nếp sinh hoạt học tập chủ yếu là chương trình điều lệ Việt Minh. Một số cơ sở
nòng cốt của phong trào đã mạnh dạn hoạt động tuyên truyền cách mạng
trong nhân dân.
22
Sau một thời gian phong trào ở thị xã, thị trấn đã có thêm nhiều cơ sở ở
Chợ Bờ, Phương Lâm, Phố Đúng. Đặc biệt, tổ Công chức cứu quốc đã mở
rộng hoạt động vùng nông thôn, phát triển được một vài cơ sở người Mường
đấu tranh khéo léo, thế phát triển vững mạnh của phong trào cách mạng ở khu
vực thị xã. Thông qua đấu tranh, uy tín, ảnh hưởng của cách mạng ngày càng
sâu rộng, mạnh mẽ.
Ngoài những cuộc đấu tranh nói trên, quần chúng thị xã còn hăng hái
hỗ trợ các cuộc đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng bị giam giữ trong nhà
tù, sôi nổi nhất là cuộc đấu tranh đòi trả cám lợn. Anh em trong tù tuyệt thực
đấu tranh, quần chúng bí mật tiếp tế nước và đồ ăn cho các chiến sĩ, cuối cùng
đã giành thắng lợi.
Tiếp sau những cuộc đấu tranh kinh tế nói trên, Ban Cán sự Đảng lại
tiếp tục nâng cuộc đấu tranh bộ phận lên một hình thức cao hơn có đông đảo
quần chúng tham gia. Nhân kỷ niệm ngày Quốc tế phản đối chiến tranh (1 - 8
- 1944), một cuộc mít tinh lớn được tổ chức tại Vật Tháu. Hơn một trăm quần
chúng cứu quốc và có cảm tình với cách mạng đã tập trung tại đây nghe cán
bộ nói chuyện về chương trình cứu nước của Mặt trận Việt Minh, kêu gọi
nhân dân hăng hái tham gia ủng hộ cách mạng, chuẩn bị lực lượng tiến lên
giành độc lập tự do cho đất nước.
Phong trào đấu tranh kinh tế, chính trị sôi động trong những tháng từ
giữa đến cuối năm 1944 là một bước tập dượt quan trọng, có ảnh hưởng sâu
rộng, tạo đà cho phong trào cách mạng ở thị xã và trong toàn tỉnh tiến lên.
Sau khi Đảng ta chuyển trọng tâm hoạt động từ thành thị về nông thôn,
một số cán bộ lãnh đạo của Đảng bộ Hà Đông đã có chủ trương phát triển cơ
sở vào Hòa Bình, để dựa vào miền núi xây dựng căn cứ địa cách mạng. Nhiều
tổ chức Việt Minh đã hình thành ở những bản làng dọc đường 21, nơi tiếp
giáp giữa Hòa Bình và Hà Đông. Mạnh nhất là phong trào cách mạng ở hai xã
24
Nật Sơn và Nhuận Trạch (châu Lương Sơn), do Đảng bộ Hà Đông phát triển
và lãnh đạo.
kiện cho bước phát triển sau.
Đầu năm 1945, nạn đói diễn ra trầm trọng. Ban Cán sự Đảng Hòa Bình
đã quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng về Cao trào kháng Nhật cứu nước,
đồng thời đẩy mạnh hơn nữa phong trào phá kho thóc của Nhật chia cho dân
nghèo “gắn khẩu hiệu đòi cơm áo, chống thu thóc, thu thuế với khẩu hiệu
chính quyền cách mạng của nhân dân” [17, tr.370]. Phong trào nổi dậy phá
kho thóc của Nhật diễn ra sôi nổi, lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân
tham gia.
Ở nhiều nơi vần đề chống đói được chú trọng, tiêu biểu như ở thị xã,
Uỷ ban quân sự cách mạng tỉnh đã chỉ đạo chi bộ Đảng thị xã thành lập ban
chống đói, cứu được không ít người thoát khỏi cảnh đói rét. Ý nghĩa quan
trọng hơn cả là “Thông qua chống đói, công tác tuyên truyền, tập hợp quần
chúng được đẩy mạnh và thu được nhiều kết quả. Uy tín, ảnh hưởng của mặt
trận Việt Minh ngày thêm sâu rộng, việc phát triển các tổ chức cứu quốc thêm
thuận lợi hơn trước” [3, tr.73 - 74]. Tháng 8 - 1945, được sự chỉ đạo của Uỷ
ban quân sự cách mạng tỉnh, các tổ chức cứu quốc thị xã Hòa Bình - Thịnh
Lang nhân nước sông Đà lên cao, đã vận động hàng nghìn quần chúng dùng
thuyền nan, mang quang thúng, gậy gộc, đòn cân, dao, đột nhập vào kho thực
phẩm của Nhật ở phố Đúng thu được hàng chục tấn lương thực, thực phẩm
chia cho nhân dân.
Bên cạnh đó, Uỷ ban quân sự cách mạng tỉnh còn tổ chức nhân dân
chống chính sách nhổ lúa trồng đay, chống thu thóc, thu bông, thu thầu dầu,…
Tiêu biểu như: trong tháng 6 - 1945, ở hai xã Hòa Bình, Thịnh Lang đã nổ ra
ba cuộc đấu tranh giữ được hàng chục mẫu ngô không bị phá [10, tr.332]. Ở