LUẬN VĂN:
Pháp chế xó hội chủ nghĩa trong xây dựng
và ban hành văn bản quy phạm pháp luật
của Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa,
Đảng và Nhà nước ta luôn xác định: "quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa". Do vậy, Nhà nước ta đã ban hành được rất nhiều các
Bộ luật, Luật, Nghị định và các văn bản QPPL trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, đáp
ứng với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước. Các văn bản trên đã và đang từng
bước đi vào cuộc sống, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp
quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng văn bản QPPL, tính pháp chế xã hội chủ nghĩa
chưa cao và chưa được chú trọng. Văn bản QPPL khi được ban hành chậm đi vào cuộc
sống, có những văn bản không có hiệu quả, có những văn bản vừa ban hành đã phải sửa
đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ. Điều này dẫn đến tình trạng tính kỷ luật, kỷ cương trong xây
dựng và ban hành văn bản thực hiện không nghiêm minh.
Xuất phát từ yêu cầu đó, trong việc xây dựng và ban hành văn bản QPPL nói chung và
của UBND cấp tỉnh nói riêng phải tuân thủ pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong xây dựng và ban hành văn bản QPPL phải tuân thủ
nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật. Cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản QPPL phải
theo đúng trình tự, thủ tục, đúng thẩm quyền, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất
với hệ thống pháp luật hiện hành.
Do vậy, pháp chế xã hội chủ nghĩa trong xây dựng và ban hành văn bản QPPL của
UBND cấp tỉnh có vai trò hết sức quan trọng trong việc thiết lập trật tự, kỷ cương trong
xây dựng và ban hành văn bản QPPL. Từ đó, góp phần tạo lập sự ổn định trong xây dựng
và ban hành văn bản QPPL của UBND cấp tỉnh, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả
hành văn bản chưa cao, chưa đáp ứng với yêu cầu; việc chấp hành quy trình, trình tự xây
dựng và ban hành văn bản QPPL thực hiện không nghiêm túc nên nội dung, hình thức vẫn
còn sai sót; văn bản QPPL khi được ban hành chậm tổ chức thực hiện, thiếu sự giám sát,
kiểm tra nên văn bản chậm đi vào cuộc sống.
Nguyên nhân của hạn chế này là: về khách quan: các văn bản QPPL ở Trung ương
hướng dẫn về xây dựng và ban hành văn bản QPPL còn quá chung chung, thiếu đồng bộ cả
về nội dung và hình thức; về chủ quan: trình độ, kỹ năng về soạn thảo và ban hành văn bản
QPPL ở một số đội ngũ cán bộ, công chức chưa cao, sự phân định giữa thẩm quyền chung
và thẩm quyền riêng trong ban hành văn bản chưa rõ ràng, cụ thể nên việc ban hành văn
bản vẫn còn sai về thẩm quyền.
Xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi phải
tăng cường pháp chế trong xây dựng và ban hành văn bản QPPL của cả nước nói chung, ở
Nghệ An nói riêng là một vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết, nhằm lập lại trật tự, kỷ
cương trong xây dựng và ban hành văn bản QPPL.
Từ những lý do nêu trên, tôi chọn đề tài: " Pháp chế xó hội chủ nghĩa trong xây
dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An "
để nghiên cứu viết luận văn thạc sỹ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Sau khi Luật Ban hành văn bản QPPL năm 1996 được ban hành, sửa đổi, bổ sung
năm 2002; Luật Ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND được Quốc hội thông qua
ngày 03/12/2004 đã được tổ chức thực hiện một cách thống nhất và có hiệu quả. Thủ
tướng Chính phủ đã có Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 phê duyệt
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, trong đó có nội
dung hết sức quan trọng là cải cách thể chế, đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn
bản QPPL. Theo đó Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo thành lập ban chỉ đạo Chương trình đổi
mới công tác xây dựng, ban hành và nâng cao chất lượng văn bản QPPL, giao cho Bộ
trưởng Bộ Tư pháp làm chủ nhiệm chương trình, phối hợp với các Bộ, Ngành trung ương.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã quyết định thành lập Ban chỉ đạo chương trình đổi mới công tác
gia Hồ Chí Minh, 2001.
- Th.S Võ Trí Hảo, "Hoàn thiện hoạt động xây dựng văn bản QPPL", NXB Tư
pháp-Hà Nội 2004.
- Luận văn Thạc sỹ Luật học của Lê Văn Thảo về: "Tăng cường pháp chế XHCN
trong xét xử các vụ án hình sự ở Nghệ An hiện nay", Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, 2004.
- Đề tài cấp Bộ: Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động ban hành văn bản QPPL của
Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ở nước ta hiện
nay. Chủ nhiệm đề tài: TS. Đỗ Ngọc Hải (2006).
Tuy nhiên, các đề tài trên mang tính tổng quan trong phạm vi cả nước, đi sâu phân
tích về đổi mới quy trình xây dựng, ban hành văn bản QPPL. ở đây, dưới góc độ xây
dựng nhà nước pháp quyền, bảo đảm pháp chế XHCH trong xây dựng và ban hành văn
bản QPPL của UBND tỉnh Nghệ An, từ vấn đề lý luận và thực tiễn ở một cấp chính
quyền (cấp tỉnh) để từng bước nâng cao hơn nữa chất lượng xây dựng và ban hành văn
bản QPPL ở địa phương. Đây là vấn đề hết sức cần thiết và phức tạp mà một số Đề tài
đã đề cập đến nhưng trong phạm vi cả nước. Do vậy, khi lựa chọn đề tài bản thân vẫn
còn nhiều trăn trở để tìm tòi một số luận điểm về lý luận cũng như thực tiễn xây dựng
và ban hành văn bản QPPL của UBND tỉnh làm đề tài nghiên cứu.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong khuôn khổ một luận văn cao học, với điều kiện là cán bộ hoạt động thực
tiễn ở cấp tỉnh thuộc lĩnh vực cơ quan tư pháp, tham mưu trực tiếp cho UBND tỉnh
trong việc xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hoá văn bản QPPL nên việc
nghiên cứu chủ yếu giới hạn ở phạm vi cấp tỉnh. Người viết luận văn tập trung vào vấn
đề pháp chế xã hội chủ nghĩa trong xây dựng và ban hành văn bản QPPL của UBND
tỉnh Nghệ An hiện nay. Để từ đó, đánh giá một cách khách quan, toàn diện về tình
hình ban hành văn bản QPPL của UBND tỉnh, phải xuất phát từ cơ sở lý luận, bảo
đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành. Văn
bản QPPL của Uỷ ban nhân tỉnh phải bảo đảm tính khả thi và phù hợp với thực tiễn
phương pháp cụ thể khác như phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, lịch sử, thống kê,
điều tra, khảo sát thực tiễn.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn đi sâu nghiên cứu về pháp chế xã hội chủ nghĩa trong xây dựng và ban
hành văn bản QPPL của UBND tỉnh Nghệ An, đây là vấn đề phức tạp, được tiếp cận ở
nhiều góc độ khác nhau, do vậy mong muốn của người viết đưa ra một số luận cứ trong
thực tiễn hoạt động để góp phần đánh giá một cách khách quan, khoa học trong việc xây
dựng và ban hành văn bản QPPL của chính quyền địa phương. Từ đó bổ sung và khắc
phục những hạn chế, tồn tại trong xây dựng và ban hành văn bản QPPL, nâng cao năng lực
của cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương và địa phương, tránh được tình trạng thiếu
khách quan, cục bộ trong việc xây dựng văn bản QPPL, bảo đảm tính công khai, minh
bạch của văn bản QPPL, để văn bản khi ban hành được tuân thủ một cách nghiêm minh.
Luận văn cũng góp phần cung cấp cho cán bộ, công chức trong ngành tư pháp, pháp
chế ngành, cơ quan tham mưu, tổng hợp làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo, vận dụng
trong việc xây dựng và ban hành văn bản QPPL của UBND địa phương.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập
môn Nhà nước và pháp luật trong hệ thống các trường chính trị và các trường đại học
chuyên luật và không chuyên luật.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu
bởi 3 chương 6 tiết.
Chương 1
Cơ sở lý luận về pháp chế xã hội chủ nghĩa
trong xây dựng và ban hành văn bản quy phạm Pháp Luật của uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
1.1. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng và ban hành văn bản quy
chấm dứt hiệu lực khi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước ban hành mới, sửa đổi, bổ
sung, tuyên bố hủy bỏ hoặc thời hạn áp dụng đã hết.
văn bản QPPL được phân chia thành văn bản QPPL của Trung ương và văn bản
QPPL của địa phương. Văn bản QPPL của Trung ương được xây dựng và ban hành theo
trình tự, thủ tục quy định của Luật Ban hành văn bản QPPL năm 1996 và được Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2002.
Văn bản QPPL của chính quyền địa phương được xây dựng và ban hành theo trình
tự, thủ tục quy định của Luật Ban hành văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân, UBND,
được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03 tháng12 năm 2004.
Điều 1 Luật Ban hành văn bản QPPL ngày 12/11/1996, sửa đổi bổ sung ngày
16/12/2002 định nghĩa về văn bản QPPL như sau: "Văn bản QPPL là văn bản do cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử
sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo
định hướng xã hội chủ nghĩa" [30].
Về khái niệm văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân, UBND, Điều 1 Luật Ban hành
văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân, UBND quy định:
Văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân, UBND là văn bản do Hội đồng
nhân dân, UBND ban hành theo trình tự, thủ tục do Luật này quy định, trong đó
có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực trong phạm vi địa phương, được Nhà nước bảo
đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội ở địa phương theo định hướng
xã hội chủ nghĩa.
Văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân được ban hành dưới hình thức nghị
quyết. Văn bản QPPL của UBND được ban hành dưới hình thức quyết định, chỉ
thị [31].
Khái niệm văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân, UBND được quy định tại Điều 1
của Luật Ban hành văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân, UBND nhằm phân biệt với văn
bản QPPL do các cơ quan nhà nước trung ương ban hành. Trong hoạt động của Nhà nước,
các cơ quan có thẩm quyền thường ban hành hai loại văn bản là văn bản QPPL và văn bản
dụng pháp luật; giai đoạn thứ ba là xuất hiện các quan hệ pháp luật; giai đoạn thứ tư là các
chủ thể bằng hành vi của mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý trên thực tế. Cơ
chế điều chỉnh pháp luật hết sức quan trọng nhằm đạt tới một trật tự xã hội mà trong đó
các hành vi của các chủ thể quan hệ pháp luật phù hợp với pháp luật.
Xây dựng và ban hành văn bản QPPL là giai đoạn đầu tiên của cơ chế điều chỉnh
pháp luật. Sản phẩm của giai đoạn này là tạo ra các QPPL, yếu tố khởi phát cho các
giai đoạn còn lại. Mục đích của cơ chế điều chỉnh pháp luật, các căn cứ để áp dụng
pháp luật cũng như các điều kiện xuất hiện quan hệ pháp luật đều được đặt ra trong giai
đoạn xây dựng và ban hành văn bản QPPL. Cơ chế điều chỉnh pháp luật muốn vận hành
theo đúng quỹ đạo, đạt được mục đích điều chỉnh mà không gây ra các "phản ứng phụ"
còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố của từng giai đoạn, trong đó giai đoạn xây dựng và ban
hành văn bản QPPL tốt chưa đủ tạo ra cơ chế điều chỉnh pháp luật tốt. Nhưng ngược
lại, nếu giai đoạn xây dựng và ban hành văn bản QPPL không tốt dẫn đến toàn bộ cơ
chế điều chỉnh pháp luật kém hiệu quả hoặc vô tác dụng.
Việc xây dựng và ban hành văn bản QPPL của UBND tỉnh cũng chính là giai đoạn
đầu tiên của cơ chế điều chỉnh pháp luật trong phạm vi một địa phương. Khi một văn bản
QPPL của UBND tỉnh xây dựng và ban hành sẽ tạo điều kiện và tiền đề cho các cơ quan
Nhà nước, tổ chức và công dân áp dụng, thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế,
chính trị, xã hội đã đề ra. Do vậy, việc xây dựng và ban hành một văn bản QPPL của
UBND cấp tỉnh đòi hỏi phải đầu tư trí tuệ, khả năng và trình độ rất cao, có như vậy văn
bản mới có chất lượng và có tính khả thi trong thực tiễn.
Nghiên cứu hoạt động xây dựng ban hành văn bản QPPL của UBND cấp tỉnh cho
thấy có những đặc trưng sau:
- Hoạt động xây dựng và ban hành văn bản QPPL nói chung, của UBND cấp tỉnh là
một hoạt động mang tính khoa học và sáng tạo. Tính khoa học được thể hiện ở quy trình
xây dựng một văn bản quy phạm phải tuân thủ các bước về trình tự, thủ tục, thiết kế một
văn bản theo đúng bố cục, nội dung, hình thức, ngôn ngữ, để khi một văn bản QPPL được
ban hành bảo đảm tính pháp lý cao. Còn sự sáng tạo của hoạt động xây dựng và ban hành
cao. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, đa số các cơ quan soạn thảo văn bản QPPL còn mang
tính chất truyền thống, kinh nghiệm, năng lực và trình độ chuyên môn còn yếu và thiếu
rất nhiều. Nên văn bản ban hành phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần, hiệu quả không cao,
thậm chí có văn bản không áp dụng được trong cuộc sống. Do vậy, quy trình soạn thảo
văn bản phải hết sức chặt chẽ, cụ thể, tác động rất lớn đến chất lượng của văn bản khi
được ban hành.
Trên cơ sở dự thảo văn bản của cơ quan soạn thảo trình, UBND tỉnh thảo luận, phân
tích về các cơ chế, chính sách, yêu cầu quản lý về kinh tế - xã hội ở địa phương để quyết
định việc ban hành hay không ban hành đối với từng văn bản QPPL. Đây là công đoạn rất
nghiêm ngặt, đòi hỏi đầu tư trí tuệ của tập thể thành viên UBND tỉnh để tạo ra một sản
phẩm mới: Văn bản QPPL đi vào cuộc sống.
- Xây dựng và ban hành văn bản QPPL của UBND tỉnh là hoạt động có tính kỹ
thuật cao, tuân theo những nguyên tắc, quy trình của Luật Ban hành văn bản QPPL của
Hội đồng nhân dân, UBND năm 2004.
Hoạt động xây dựng và ban hành văn bản QPPL nhằm đưa ra các quy tắc xử sự
chung cho các chủ thể của quan hệ pháp luật, do vậy phải tính toán vấn đề một cách toàn
diện, đồng bộ, dựa trên các cơ sở của khoa học pháp lý. Cơ quan, người được phân công
chủ trì soạn thảo phải là những chuyên gia, những người am hiểu về lĩnh vực chuyên
ngành, nhưng phải có khả năng tổng hợp, hiểu và nắm vững pháp luật, cập nhật thông tin
và các văn bản pháp luật hiện hành của cấp trên, có như vậy khi xây dựng một văn bản
pháp quy mới bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, có tính khả thi trong thực tiễn.
Việc xây dựng và ban hành văn bản QPPL của UBND tỉnh cũng phải tuân thủ các
nguyên tắc cơ bản, quy trình hết sức chặt chẽ của Luật Ban hành văn bản QPPL của Hội
đồng nhân dân, UBND. Các nguyên tắc cơ bản trong xây dựng và ban hành văn bản QPPL
bao gồm:
+ Văn bản QPPL phải được ban hành theo chương trình, kế hoạch đã được phê
duyệt hàng năm. Đây là một nguyên tắc để tạo tính chủ động, khoa học trong việc dự kiến
các văn bản QPPL cần ban hành sát đúng với thực tiễn, yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội ở
địa phương.
1.2. Khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong xây dựng và ban hành văn bản
quy phạm pháp luật của ủy ban nhân dân cấp tỉnh
1.2.1. Khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa
Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một khái niệm cơ bản được hình thành trong nền khoa
học pháp lý của các nước xã hội chủ nghĩa. ở Việt Nam, pháp chế xã hội chủ nghĩa đã trở
thành nguyên tắc chỉ đạo trong hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam, vai trò quản lý
của Nhà nước và sự chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của công dân.
Quan điểm của lý luận Mác-Lênin về Nhà nước và pháp luật cho rằng: Pháp chế xã
hội chủ nghĩa là một hiện tượng xã hội phong phú và phức tạp. Nội hàm của khái niệm
pháp chế rất rộng, nhưng hầu hết các định nghĩa khoa học đều thống nhất đặc trưng cơ bản
nhất của pháp chế, đó là sự tuân thủ một cách triệt để, chính xác, nghiêm minh các QPPL
của tất cả các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế, các cá
nhân có trách nhiệm và mọi công dân.
C.Mác và Ph.Ăngghen là những người đã đưa ra phương pháp luận khoa học và tiên
tiến nhất khi nghiên cứu về lý luận Nhà nước và pháp luật. Thuật ngữ pháp chế đã được
C.Mác và Ph.ăngghen nhắc đến nhiều lần trong tác phẩm của mình.
Khi nghiên cứu về quan hệ giữa Nhà nước và công dân trong nền kinh tế tư bản chủ
nghĩa, C.Mác cho rằng pháp chế là một chế độ tuân thủ pháp luật trong thực tiễn.
Còn Ph.ăngghen, trong tác phẩm "Bàn về vấn đề nhà ở" đã luận về pháp chế như
sau:
ở một giai đoạn rất cổ xưa nào đấy của sự phát triển xã hội, nhu cầu làm
cho người ta thấy cần phải tập hợp dưới một quy tắc chung. Những hành vi sản
xuất phân phối và trao đổi sản phẩm tái diễn hàng ngày cần phải làm thế nào để
mọi người phải phục tùng những điều kiện về sản xuất, trao đổi.
Quy tắc đó thoạt tiên là thói quen sau đó trở thành pháp luật. Có pháp luật
thì những cơ quan có nhiệm vụ duy trì pháp luật đó tất phải xuất hiện: quyền lực
công cộng, nhà nước. Trong tiến trình phát triển sau này của xã hội, pháp luật phát
triển thành pháp chế ít nhiều rộng rãi. Pháp chế càng phức tạp bao nhiêu thì thuật ngữ
của nó càng xa rời thuật ngữ biểu hiện những điều kiện kinh tế thông thường của xã
tuân thủ nghiêm chỉnh pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Trên cơ sở khái niệm chung về pháp chế XHCN và sự phân tích trên có thể rút ra
khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong xây dựng và ban hành văn bản QPPL của
UBND cấp tỉnh như sau: "Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong xây dựng và ban hành văn bản
QPPL của UBND cấp tỉnh là sự đòi hỏi tất cả các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các
cá nhân được Nhà nước trao quyền phải chấp hành nghiêm chỉnh, triệt để, chính xác và tự
giác các quy định trong Luật ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND trong quá
trình xây dựng ban hành các Quyết định, Chỉ thị của UBND để cho các văn bản bảo đảm
tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành".
1.3. Các nguyên tắc, nội dung và vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong
xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
1.3.1. Các nguyên tắc cơ bản của pháp chế xã hội chủ nghĩa
Thứ nhất, phải bảo đảm tính thống nhất của pháp chế trên quy mô toàn quốc. Tính
thống nhất của pháp chế xã hội chủ nghĩa chính là sự thống nhất bên trong của hệ thống
pháp luật xã hội chủ nghĩa của mọi quốc gia. Theo quan điểm của Lênin, nguyên tắc thống
nhất gồm hai nội dung: Tính thống nhất của pháp luật trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia; hai
là, việc áp dụng pháp luật phải bảo đảm công khai, minh bạch, chính xác và đồng bộ, phát
huy được tính chủ động, sáng tạo và đặc thù của địa phương. V.I.Lênin nêu rõ: "Pháp chế
không thể là pháp chế của tỉnh Ca-lu-ga hoặc tỉnh Ca-dan được mà phải là pháp chế duy
nhất cho toàn nước Nga và cho toàn thể Liên bang các nước Cộng hòa Xô viết nữa" [23,
tr.232]. Tính thống nhất của pháp chế xã hội chủ nghĩa bao gồm sự thống nhất ở các khâu
của quá trình xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống, kiểm tra
và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Để bảo đảm tính thống nhất của pháp chế xã hội
chủ nghĩa, các văn bản QPPL của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp dưới không được
trái với Hiến pháp, luật, các văn bản của cấp trên, loại bỏ những hiện tượng cục bộ, bản vị
địa phương, xâm phạm đến tính thống nhất của pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai là nguyên tắc bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và luật. Hiến pháp và các
đạo luật là các văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất do cơ quan quyền lực nhà nước cao
Trên đây là những nguyên tắc cơ bản trong lý luận pháp chế xã hội chủ nghĩa. Tuy
nhiên, để tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa không những phải thực hiện các nguyên
tắc cơ bản trên mà còn phải xem xét tới các mối quan hệ sau đây:
- Mối tương quan giữa pháp chế xã hội chủ nghĩa với văn hóa.
Tình trạng pháp chế của một quốc gia được quy định bởi khả năng tự nhận thức, tự
điều chỉnh hành vi phù hợp với lợi ích xã hội, của các thành viên trong xã hội. Tình trạng
pháp chế không những phụ thuộc vào trình độ học vấn nói chung mà còn phụ thuộc vào ý
thức pháp luật của mọi người, vào lối sống và quan niệm, chuẩn mực đạo đức mà họ ứng
xử. V.I.Lênin cho rằng: "Nếu chúng ta không áp dụng cho bằng được điều kiện cơ bản ấy
để thiết lập pháp chế thống nhất trong toàn Liên bang, thì không thể nào nói đến vấn đề
bảo vệ và xây dựng bất cứ một nền văn hóa nào được" [23, tr.233].
Như vậy, để tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, phải quan tâm đến việc nâng
cao dân trí, trình độ văn hóa, ý thức pháp luật cho cán bộ và nhân dân, từng bước nâng cao
dân trí và pháp lý cho các thành viên trong xã hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
- Pháp chế xã hội chủ nghĩa gắn liền với dân chủ.
Bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước dân chủ, là nhà nước của dân,
do dân, vì dân. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân và
toàn thể nhân dân lao động, người dân thực sự là người làm chủ trong xã hội. Tính dân chủ
trong nhà nước xã hội chủ nghĩa được thực hiện thông qua dân chủ trực tiếp và dân chủ đại
diện, nhân dân lao động được tham gia vào trong quản lý nhà nước, trong quản lý xã hội.
V.I.Lênin viết: "Phát triển dân chủ đến cùng, tìm ra những hình thức của sự phát triển ấy,
đem thử nghiệm những hình thức ấy trong thực tiễn" [21, tr.97].
- Mối tương quan giữa pháp chế và tính hợp lý.
Cần nhận thức đúng đắn mối tương quan giữa pháp chế xã hội chủ nghĩa và tính
hợp lý trong việc áp dụng và thực hiện các văn bản QPPL. Nếu đồng nhất hoặc đối lập
giữa pháp chế và tính hợp lý đều là sai lầm, sẽ dẫn đến sự tùy tiện, biểu hiện của quan liêu
hoặc giáo điều khi áp dụng các QPPL. Hệ thống pháp luật là thống nhất, đồng bộ, pháp
luật quy định những quy tắc xử sự chung nhất, không có ngoại lệ, trong trường hợp này,