Đảng lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1961 đến 1975 - Pdf 33

LUẬN VĂN:

Đảng lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước ở
miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước từ năm 1961 đến 1975


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khi nghiên cứu xã hội tư bản, đặc biệt là sự hoạt động của người lao động trong xã
hội, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng, thi đua là một hiện tượng khách quan nảy sinh do
sự tiếp xúc xã hội trong quá trình lao động sản xuất. C.Mác viết “…ngay sự tiếp xúc xã hội
cũng đã đẻ ra thi đua” [38, tr.474].
Trong một số tác phẩm của mình, V.I Lê nin đã đề cập đến thi đua, coi thi đua là
một tất yếu và là một nguồn tiềm năng to lớn của chủ nghĩa xã hội. Ngay từ năm 1918,
V.I Lênin nhấn mạnh: chủ nghĩa xã hội “đã tạo ra khả năng áp dụng thi đua một cách
thực sự rộng rãi, với một quy mô thực sự to lớn, tạo ra khả năng thu hút thực sự đa số
nhân dân lao động vào vũ đài hoạt động khiến họ có thể tỏ rõ bản lĩnh, dốc hết năng lực
của mình, phát hiện những tài năng mà nhân dân sẵn có cả một nguồn vô tận” [35,
tr.234-235].
Vận dụng quan điểm của V.I.Lênin: “một trong những nhiệm vụ của đảng cộng
sản cầm quyền là phải tổ chức thi đua” [35, tr.234-235], lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn quan tâm đến vận động thi đua yêu nước cả về lý luận và thực tiễn. Người coi
đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của mọi thời kỳ cách mạng, là nền tảng, là động lực
của sự phát triển, là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, bảo đảm cho
sự phát triển bền vững của quốc gia dân tộc. Xuất phát từ quan điểm coi nhân dân là
người làm nên lịch sử, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nên ngay từ đầu, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân tham gia việc nước, việc dân. Tháng 8 năm 1945,
trong tình thế vận nước ngàn cân treo sợi tóc bởi “giặc đói”, “giặc dốt” và nạn thù trong,
giặc ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động ngay chiến dịch tăng gia sản xuất, chống
nạn thất học và sau đó tổ chức phong trào “Tuần lễ vàng”, “Hũ gạo tiết kiệm”. Ngày 26

trọng vào tiến trình thực hiện mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam thời kỳ này.
Chọn vấn đề “Đảng lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1961 đến 1975” làm đề tài luận văn Thạc sĩ
khoa học Lịch sử - Chuyên ngành Lịch sử Đảng, chúng tôi muốn góp phần nghiên cứu
vai trò của phong trào thi đua yêu nước trong quá trình miền Bắc thực hiện nhiệm vụ là
hậu phương chiến lược, đặc biệt là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của Hồ Chí Minh về
thi đua yêu nước của Đảng Lao động Việt Nam trong suốt tiến trình phát triển và đi đến


thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Làm rõ bước phát triển và những
đóng góp cụ thể của phong trào thi đua yêu nước là cơ sở đánh giá những hy sinh cao cả
cũng như đóng góp vô giá mà nhân dân miền Bắc đã dành cho đồng bào miền Nam trong
sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Tìm minh chứng
thuyết phục để khẳng định một sự thật rằng: thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là thắng lợi chung của nhân dân
Việt Nam. Đồng thời nghiên cứu những kinh nghiệm của Đảng trong quá trình lãnh đạo
phong trào thi đua yêu nước ở một thời kỳ lịch sử hào hùng và oanh liệt như trong kháng
chiến chống Mỹ sẽ góp phần thiết thực vào việc thực hiện thắng lợi các phong trào thi
đua, các cuộc vận động lớn của Đảng trong sự nghiệp đổi mới.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Là thực tiễn sôi động của những ngày nhân dân miền Bắc thực hiện nhiệm vụ tạo
dựng tiền đề đầu tiên cho chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng
của hậu phương lớn cùng nhân dân miền Nam đánh bại âm mưu xâm lược của đế quốc
Mỹ, phong trào thi đua yêu nước phản ánh khá trung thực quá trình Đảng cũng như chính
quyền cách mạng hiện thực hóa nhiệm vụ chiến lược mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
III (9-1960) đề ra. Xét trên tất cả các mặt, “Đảng lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước ở
miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1961 đến 1975” là một đề tài
rộng, thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu, đặc biệt là các đồng chí lãnh đạo
Đảng, Nhà nước và các đồng chí trực tiếp tham gia hoạt động trong lĩnh vực thi đua khen
thưởng. Thực tế, phong trào thi đua yêu nước đã được quan tâm nghiên cứu trên nhiều

thành thắng lợi kế hoạch 5 năm lần thứ nhất” (Nxb Lao động, Hà Nội.1963), “Hồ Chí
Minh với phong trào thi đua yêu nước” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2000) của Lê
Văn Yên, Nguyễn Văn Cát, “Hồ Chí Minh: Về phong trào thi đua yêu nước” (Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội. 2004), “Đảng, Bác Hồ với thi đua yêu nước và công tác thi đua
khen thưởng” (Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội.2008) (Ban thi đua- Khen thưởng
Trung ương, Tạp chí Thi đua - Khen thưởng), “Chủ tịch Hồ Chí Minh với phong trào thi
đua yêu nước” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2008). Nhìn chung các công trình trên
đã góp phần làm rõ quan điểm chung của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua yêu
nước, đồng thời đi vào luận chứng vai trò cũng như sự chủ động, sáng tạo trong công tác
lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với phong trào thi đua qua từng giai đoạn cách mạng. Ý


nghĩa lý luận của các công trình này là rất lớn. Tuy nhiên, việc đánh giá một cách hệ
thống, toàn diện về phong trào thi đua yêu nước cũng như tất cả những vấn đề có liên
quan là điều mà các công trình kể trên chưa đạt được.
Một số công trình đi sâu nghiên cứu thi đua yêu nước ở góc độ từng phong trào cụ
thể như: “Lịch sử phong trào phụ nữ Việt Nam” (Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1980) của tác giả
Nguyễn Thị Thập, “Phong trào phụ nữ Ba đảm đang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước” (Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, Hà Nội 2003) của tác giả Lê Chân Phương,
“Phong trào nữ công nhân lao động và hoạt động nữ công công đoàn Việt Nam (19301993)” (Nxb Lao động, Hà Nội.1995), “Lịch sử Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
và phong trào thanh niên Việt Nam” (Nxb Thanh niên, Hà Nội.2001) do Văn Tùng (Chủ
biên)…Các công trình này góp phần phát họa bức tranh sinh động về phong trào thi đua
yêu nước trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Song, vì nghiên cứu phong trào của
từng giới, từng ngành, từng đối tượng cụ thể mà các công trình này hầu như mang giá trị
lịch sử hơn là giá trị lý luận.
Một trong những đóng góp quan trọng khác góp phần làm sinh động và sáng rõ lý
luận về thi đua yêu nước cũng như thành tựu của phong trào thi đua yêu nước ở các cấp,
ngành, địa phương là một số công trình được đăng tải rải rác trên các tạp chí, đặc biệt là
các bài viết nhân kỷ niệm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động Lời kêu gọi thi đua ái
quốc. Có thể kể đến một số bài viết có giá trị như: Trần Ngọc Tuệ (2005): Tính ưu việt và

trình nào nghiên cứu phong trào thi đua yêu nước từ 1961 – 1975 dưới giác độ một
chuyên đề lịch sử. Vì vậy tìm hiểu sâu sắc và hệ thống hơn về phong trào thi đua yêu
nước ở miền Bắc từ năm 1961 đến 1975 dưới sự lãnh đạo của Đảng vẫn là đề tài mới mẻ
mà tác giả tâm huyết.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Luận văn hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc từ 1961- 1975, từ đó:
- Làm sáng tỏ chủ trương của Đảng đối với phong trào thi đua yêu nước ở miền
Bắc trong giai đoạn 1961 - 1975. Khẳng định đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở
miền Bắc từ 1961 đến 1975 là hoàn toàn đúng đắn.


- Thông qua các phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc, khẳng định vai trò của
hậu phương miền Bắc đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của đồng bào miền
Nam.
- Từ thực tiễn lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong những năm
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, luận văn nêu lên kinh nghiệm của Đảng trong lãnh đạo
phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc những năm 1961 – 1975 và vận dụng vào công
cuộc đổi mới hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Luận văn trình bày yêu cầu khách quan để Đảng phát động phong trào thi đua
yêu nước ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhất là từ năm 1961 đến
1975.
- Trình bày có hệ thống chủ trương, đường lối của Đảng đối với phong trào thi đua
yêu nước ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1961 đến 1975.
- Trình bày quá trình Đảng tổ chức thực hiện các phong trào thi đua yêu nước ở
miền Bắc từ năm 1961 đến 1975.
- Tổng kết một số kinh nghiệm của Đảng trong lãnh đạo phong trào thi đua yêu
nước ở miền Bắc từ năm 1961 đến 1975 để vận dụng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa

- Nêu bật vai trò, vị trí của hậu phương lớn miền Bắc đối với cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước.
- Góp phần củng cố niềm tin của nhân dân cả nước đối với sự lãnh đạo của Đảng,
đặc biệt trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn được chia làm 2 chương, 5 tiết


Chương 1
PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC Ở MIỀN BẮC TỪ NĂM 1961 ĐẾN 1965
DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

1.1. SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC
Nhân tố quyết định làm nên tầm vóc vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước chính là sự lãnh đạo của Đảng. Và một trong những vấn đề mang ý nghĩa chiến
lược là Đảng đã giải quyết tốt quan hệ giữa hai chiến lược cách mạng XHCN ở miền Bắc
và CMDTDCND ở miền Nam. Đặc biệt là Đảng có đường lối CMXHCN nhằm xây dựng
miền Bắc vững mạnh làm căn cứ địa cách mạng cả nước, đóng vai trò hậu phương đối
với tiền tuyến lớn miền Nam. Nhận thức rõ tình hình của đất nước nói chung, của miền
Bắc nói riêng cũng như nhiệm vụ cách mạng mới đang đặt ra trở thành yêu cầu cấp bách,
có ý nghĩa quyết định đối với quá trình Đảng lãnh đạo, tổ chức phong trào thi đua yêu
nước ở miền Bắc trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi với việc ký kết Hiệp
định Giơnevơ (21-7-1954), cách mạng nước ta bước vào thời kỳ mới với đặc điểm lớn
nhất là đất nước tạm thời chia làm hai miền. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, tiến
hành khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế và bước vào thời kỳ quá độ lên
CNXH. Ở miền Nam, đế quốc Mỹ từng bước gạt Pháp, độc chiếm miền Nam, biến miền
Nam thành thuộc địa kiểu mới, thành căn cứ quân sự, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước
ta. Nhân dân miền Nam phải tiếp tục tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhằm

một cân thép, không một cân hóa chất, điện lực chỉ đủ thắp sáng cho một số thành phố,
cơ khí chỉ là những xưởng sửa chữa nhỏ” [54, tr.204-205]. Khoa học kỹ thuật vô cùng lạc
hậu. Cả khu mỏ Hòn Gai chỉ có 2 cán bộ khoa học kỹ thuật. Nhà máy dệt Nam Định với
hàng nghìn công nhân mà không có một kỹ sư nào. Hơn 15 vạn người bị thất nghiệp ở
thành thị và nông thôn. Kinh tế quốc dân miền Bắc mất cân đối nghiêm trọng.
Các tệ nạn xã hội, các hủ tục lạc hậu tàn dư của chế độ cũ chưa được xóa bỏ. Trình
độ học vấn của của nhân dân rất thấp, nhiều người chưa biết đọc, biết viết, nhất là ở vùng
các dân tộc ít người. Đội ngũ lao động có trình độ văn hóa và kỹ thuật để xây dựng xã hội
mới thiếu trầm trọng. Đến năm 1955, cả miền Bắc chỉ có 30 kỹ sư và cán bộ kỹ thuật.


Hệ thống y tế nhỏ yếu, lạc hậu. Năm 1955 hơn 13 triệu dân miền Bắc mới chỉ có
78 cơ sở điều trị với 115 bác sĩ, 3.796 y sỹ và y tá [65, tr.56]. Nhiều bệnh xã hội như lao
phổi, sốt rét, hoa liễu, đau mắt hột chưa có khả năng loại bỏ.
Tất cả những khó khăn trên là trở ngại lớn đối với miền Bắc khi thực hiện nhiệm
vụ cách mạng trong giai đoạn mới.
Ở miền Nam, dưới sự chỉ huy của đế quốc Mỹ, Ngô Đình Diệm cùng bè lũ tay sai
ra sức phá hoại Hiệp định Giơnevơ. Chúng tổ chức “trưng cầu dân ý” giả hiệu, bày trò
“phế truất Bảo Đại”, tổ chức tuyển cử riêng rẽ và gian lận, bầu ra quốc hội, âm mưu biến
miền Nam thành một quốc gia riêng biệt. Đi đôi với xây dựng ngụy quyền, Mỹ - Diệm ra
sức tăng cường ngụy quân. Xây dựng “quân đội quốc gia”, thực chất là một đội quân
đánh thuê, do Mỹ tổ chức, chỉ huy, trang bị, huấn luyện và trả lương.
Mỹ đã đưa vào miền Nam một khối lượng lớn vũ khí và phương tiện chiến tranh.
Gấp rút xây dựng một hệ thống căn cứ và công trình quân sự bao gồm các sân bay, bến
cảng, hệ thống thông tin liên lạc và kho tàng. Trong khi nhân dân miền Nam nghiêm
chỉnh thi hành Hiệp định Giơnevơ, thì Mỹ và chính quyền tay sai đã tiến hành một cuộc
chiến tranh thực dân mới phá hoại hòa bình. Với đầy rẫy nhà tù, dây thép gai và đồn bốt,
cùng quốc sách “tố cộng, diệt cộng” của chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm nhân dân
miền Nam phải sống trong bầu không khí căng thẳng, ngột ngạt. Cách mạng miền Nam
đứng trước những thử thách nặng nề.

miền Bắc thành nền tảng vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất
nước nhà…chúng ta hoạt động không ngừng cho Nam – Bắc gần gũi nhau,
chúng ta kiên quyết đấu tranh củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn
thành độc lập và dân chủ trong cả nước [22, tr.276].
Đến Hội nghị Trung ương 10 (từ 25-8 đến 5-10-1956), Đảng chủ trương: “Ra sức
khôi phục và phát triển quan hệ Bắc – Nam” vì “Đấu tranh khôi phục và phát triển quan
hệ Bắc – Nam có một tác dụng lớn trong cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Quan hệ
Bắc – Nam được thực hiện sẽ có ảnh hưởng tốt và có tác dụng quan trọng đối với đấu
tranh thực hiện thống nhất. đó là công tác thiết thực để làm cho hai miền gần gũi nhau,
để dần dần đi đến hiệp thương bàn việc thực hiện thống nhất nước nhà” [22, tr.591].
Trước sự vi phạm nghiêm trọng những điều khoản được quy định trong Hiệp định
Giơnevơ của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, tại Hội nghị Trung ương 13 (12 – 1957), Đảng
đã khẳng định lại nhiệm vụ cách mạng của toàn Đảng, toàn dân ta hiện nay là: củng cố


miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội; tiếp tục đấu tranh để thực hiện
thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ bằng phương pháp hòa bình. Trong
đó, “xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thực hiện thống nhất nước nhà, những
nhiệm vụ ấy đều phải phấn đấu lâu dài, gian khổ và phức tạp mới hoàn thành được”,
“Miền Bắc là căn cứ địa cách mạng to lớn chung cho cả nước”, “miền Bắc có được củng
cố và tiến dần lên chủ nghĩa xã hội thì đời sống nhân dân miền Bắc càng ngày càng được
cải thiện. Điều đó cổ vũ cán bộ, đảng viên và đồng bào ở miền Nam đấu tranh mạnh mẽ
để mau thống nhất với miền Bắc và được hưởng tự do, hạnh phúc như nhân dân miền
Bắc”, “nhiệm vụ củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội có tính
chất quyết định cho toàn bộ thắng lợi của cách mạng trong giai đoạn mới” [23, tr.772773].
Thực hiện chủ trương xây dựng và củng cố miền Bắc của Trung ương Đảng, quân
và dân miền Bắc đã tích cực triển khai và giải quyết thành công nhiều việc cấp bách như:
tiếp quản vùng địch tạm chiếm; hoàn thành việc chuyển giao quân tập kết; tiến hành cải
cách ruộng đất, sữa chữa sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. Dưới sự
lãnh đạo của Đảng, nhân dân miền Bắc đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, từng bước

thời đáp ứng những đòi hỏi của tình hình mới, nhằm đề ra đường lối chiến lược và kiện
toàn sự lãnh đạo của Đảng về mọi mặt, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng
được triệu tập tại thủ đô Hà Nội từ ngày 5 đến 10 – 9 – 1960. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ
rõ: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa
bình thống nhất nước nhà” [25, tr.186].
Đại hội đã phân tích một cách sâu sắc tình hình ở hai miền Nam, Bắc với hai chế
độ chính trị, hai chiến lược cách mạng khác nhau, từ đó xác định nhiệm vụ cụ thể của
cách mạng mỗi miền. Có thể nói, đường lối chính trị được đề ra tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ III của Đảng có nội dung cơ bản là kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền
Bắc. Trong đó, nhiệm vụ tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là “nhiệm vụ
quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp
thống nhất nước nhà của nhân dân ta” [25, tr.510]. Miền Bắc là căn cứ địa chung của
cách mạng cả nước. Cách mạng miền Nam “có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự
nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực
hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ


nhân dân trong cả nước” [25, tr.511]. Tuy là hai chiến lược khác nhau, mỗi nhiệm vụ
chiến lược nhằm giải quyết yêu cầu cụ thể của mỗi miền, nhưng cả hai nhiệm vụ chiến
lược ấy đều nhằm giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước, đều nhằm mục tiêu chung là
hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, thống nhất đất nước.
Mối quan hệ giữa hai chiến lược cách mạng ở hai miền Nam, Bắc được hình thành
trong quá trình Đảng ta khảo nghiệm, tìm tòi, xác định đường lối đấu tranh cách mạng
trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước về cơ bản đã được khẳng
định rõ tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9 – 1960). Quan điểm của
Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ của lực lượng đấu tranh của nhân
dân ta. Nền có vững, nhà mới chắc. Gốc có mạnh, cây mới tốt. Chúng ta phải ra sức củng cố
miền Bắc về mọi mặt, phải làm cho miền Bắc vững mạnh và tiến lên mãi” [41, tr.67] trở
thành nhận thức chung và xuyên suốt được phản ánh trong các văn kiện của Đảng ta thời kỳ

cuộc vận động cải tạo xã hội chủ nghĩa, của cuộc vận động cải tiến quản lý xí nghiệp
quốc doanh, của đợt chỉnh huấn chính trị cho cán bộ và chiến sĩ trong quân đội, của các
đợt giáo dục về hai con đường ở nông thôn…phong trào thi đua yêu nước đã phát triển
mạnh mẽ từ thành thị tới nông thôn, trong khắp các xí nghiệp, công trường, nông trường,
đơn vị bộ đội, hợp tác xã, cơ quan, bệnh viện, trường học. Trong quá trình phát triển của
phong trào thi đua, trình độ giác ngộ chính trị, ý thức thi đua tập thể, phát huy sáng kiến,
hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật, cải tiến công tác và tinh thần học tập văn hóa, kỹ
thuật, nghiệp vụ của các tầng lớp nhân dân đã có những tiến bộ rõ rệt. Kết quả của phong
trào thi đua yêu nước đã đem lại những thành tích to lớn trên mọi mặt công tác, góp phần
quan trọng vào việc hoàn thành thắng lợi kế hoạch nhà nước ba năm cải tạo và phát triển
kinh tế, phát triển văn hóa. Tuy nhiên, phong trào thi đua yêu nước vẫn còn nhiều nhược
điểm. Đó là tình trạng phong trào phát triển chưa đều, nội dung thi đua chưa toàn diện,
chưa nhằm vào khâu quan trọng nhất hoặc khâu đương còn yếu nhất của từng ngành;
trong sản xuất mới chỉ chú ý đến số lượng, chưa quan tâm đầy đủ đến chất lượng và giá
thành; chưa chú ý đúng mức tới an toàn lao động và bồi dưỡng sức lao động; tư tưởng
bảo thủ, ngại khó, tự ti, các hành động tự do chủ nghĩa, kém kỷ luật lao động và hiện
tượng lãng phí, tham ô còn khá phổ biến, có nơi còn nghiêm trọng; về lãnh đạo thi đua thì
chưa kết hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp, có khi ngày cả trong nội bộ từng đơn vị
sản xuất; những khó khăn về nguyên liệu, tiêu thụ trong sản xuất chưa được giải quyết
tốt; nhiều kinh nghiệm của quần chúng chưa được xác minh và phổ biến kịp thời; nhiều


chính sách, chế độ về quản lý sản xuất, quản lý kỹ thuật và chế độ khen thưởng chưa
được nghiên cứu, bổ sung v,v…Những nhược điểm này đã hạn chế phần nào kết quả của
phong trào thi đua yêu nước đang trên đà phát triển.
Năm 1961 là năm đầu tiên miền Bắc kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965).
Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đã bước vào một thời kỳ phát triển mới, đặt ra cho
toàn Đảng, toàn dân những yêu cầu mới, to lớn hơn trước. Đó là những yêu cầu của việc
xây dựng các cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, của việc củng cố và phát
triển quan hệ sản xuất mới, và hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, của việc

nhau, làm cho mọi đơn vị, cá nhân trở thành tiên tiến để cùng nhau tiến bộ không ngừng.
Căn cứ vào những nội dung chủ yếu của Chỉ thị số 168 - CT/TW ngày 28-101959, nhằm thực hiện chủ trương phát động phong trào thi đua sâu rộng trong các cấp,
các ngành, trong mọi tầng lớp nhân dân tiến tới cao trào thi đua yêu nước, Ban Bí thư đã
bổ sung một số vấn đề nhằm phát triển phong trào thi đua trong giai đoạn mới:
Đối với các ngành công nghiệp (sản xuất, xây dựng cơ bản, giao thông vận tải), để
đảm bảo hoàn thành toàn diện và vượt mức kế hoạch nhà nước, phong trào thi đua phải
hướng vào các mục tiêu chính là đảm bảo không ngừng tăng năng suất lao động, nâng
cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành. Hết sức coi trọng việc học tập để nắm vững kỹ
thuật, nghiệp vụ. Đẩy mạnh cuộc vận động phát huy sáng kiến, hợp lý hóa sản xuất, cải
tiến kỹ thuật, làm động lực đảm bảo hoàn thành và vượt mức kế hoạch Nhà nước. Đẩy
mạnh phong trào “tiên tiến” thành một phong trào quần chúng sôi nổi, lấy phát huy sáng
kiến, hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật làm trọng tâm. Xây dựng các tổ hoặc đội lao
động xã hội chủ nghĩa, như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ III (9-1960) đã đề ra.
Đối với ngành nông nghiệp, cần phát huy thắng lợi của phong trào hợp tác hóa
nông nghiệp, phát động rộng rãi phong trào “bốn tốt” (đoàn kết tốt, sản xuất tốt, quản lý
tốt, chấp hành chính sách tốt), trong khắp các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp nhằm tăng
thu nhập cho xã viên, tăng tích lũy cho hợp tác xã và cho Nhà nước, thực hiện đúng chủ
trương củng cố và phát triển hợp tác xã sản xuất nông nghiệp như Nghị quyết Bộ Chính
trị đề ra.
Đối với ngành giáo dục, thi đua cải tiến phương pháp giảng dạy, kết hợp lý thuyết
với thực hành, kết hợp học tập với lao động và các hoạt động xã hội, xây dựng nhà
trường xã hội chủ nghĩa. Thầy giáo thi đua tu dưỡng đạo đức, nâng cao trình độ giảng


dạy. Học sinh thi đua học tập tiến bộ, rèn luyện thân thể, bồi dưỡng tinh thần và đạo đức
xã hội chủ nghĩa.
Đối với quân đội, đẩy mạnh phong trào rèn luyện và cải tiến kỹ thuật, dưới hình
thức phong trào thi đua “ba nhất”.v.v…
Đề cập đến điều kiện để phong trào thi đua yêu nước đạt kết quả mong muốn,
Nghị quyết chỉ rõ: Cần kiên quyết khắc phục những tư tưởng không đúng đang trở ngại

Từ nhận thức đầy đủ thực trạng phong trào thi đua yêu nước cũng như diễn biến
mới của tình hình, Nghị quyết đề ra nhiệm vụ và phương châm chung của phong trào thi
đua yêu nước như sau:
Tiếp tục thực hiện một bước công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh việc xây
dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nhằm phát triển nhanh chóng kinh tế
và văn hóa, cải thiện đời sống của nhân dân. Toàn Đảng, toàn dân ta, phải phát huy cao
độ tinh thần tự lực cánh sinh, khai thác mọi khả năng tiềm tàng, quyết tâm hoàn thành
vượt mức toàn bộ chỉ tiêu kế hoạch nhà nước năm 1962. Để đảm bảo hoàn thành thắng
lợi kế hoạch Nhà nước, việc đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước có ý nghĩa và tác
dụng rất to lớn.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá đặc điểm, tình hình của phong trào thi đua năm
1961, Nghị quyết Số 46- NQ/TW của Bộ Chính trị, ngày 19 tháng 2 năm 1962 đã xác
định nhiệm vụ chung của phong trào thi đua yêu nước. Nghị quyết chỉ rõ: nhiệm vụ cách
mạng của nhân dân ta ở miền Bắc hiện nay là phấn đấu thực hiện công nghiệp hoá xã hội
chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thực
hiện hòa bình thống nhất nước nhà. Nhiệm vụ của phong trào thi đua yêu nước phải gắn
liền với nhiệm vụ cách mạng của nhân dân ta. Do đó, nhiệm vụ của phong trào thi đua
yêu nước phải là “không ngừng nâng cao năng suất lao động, đẩy mạnh sản xuất phát
triển, bảo đảm hoàn thành vượt mức toàn bộ chỉ tiêu kế hoạch nhà nước”, nhằm mục
đích “làm cho dân giàu, nước mạnh, đời sống của nhân dân ngày thêm ấm no, hạnh
phúc” [3, tr.156]. Phương châm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nước ta là “tiến
nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc”. Phương châm phát triển sản xuất vẫn là “nhiều,
nhanh, tốt, rẻ”.
Ở Nghị quyết này tính chất thi đua tập thể được đặc biệt chú trọng. Trong khi đẩy
mạnh thi đua, cần phải kết hợp chặt chẽ việc phát triển sản xuất với việc xây dựng con
người lao động xã hội chủ nghĩa. Thi đua của ta phải là thi đua tập thể. Đề cao thi đua


tập thể, phát huy mạnh mẽ trí tuệ tập thể, đồng thời cần động viên tính tích cực sáng tạo
của cá nhân người lao động, kết hợp đúng đắn lợi ích tập thể với lợi ích cá nhân; kết hợp

Nghị quyết còn đồng thời xác định nội dung thi đua cho các ngành khác như:
thương nghiệp, văn hóa và nghệ thuật, ngành khoa học, các cơ quan xí nghiệp, hành chính…
Nghị quyết cũng đặt ra yêu cầu là khi chỉ đạo phong trào phải căn cứ vào tình hình cụ thể của
từng ngành, từng địa phương, từng đơn vị mà đề ra những yêu cầu cụ thể, thiết thực thích
hợp với từng lúc, từng nơi.
Về hình thức tổ chức thi đua, Nghị quyết yêu cầu: các ngành cần phải đẩy mạnh
phong trào thi đua tập thể, nhằm bồi dưỡng cho công nhân viên chức, xã viên, cán bộ ý
thức thi đua tập thể, tinh thần hợp tác xã hội chủ nghĩa. Trong ngành công nghiệp, thông
qua cuộc vận động hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật, và trên cơ sở phát triển tổ, đội
lao động tiên tiến mà đẩy mạnh phong trào phấn đấu trở thành tổ đội lao động xã hội chủ
nghĩa. Trong đó, hình thức tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa là sự phát triển của hình
thức tổ, đội lao động tiên tiến, với những tiêu chuẩn cao và toàn diện hơn. Trong ngành
thủ công nghiệp, cần đẩy mạnh phong trào thi đua đạt danh hiệu tổ, đội lao động tiên tiến,
hợp tác xã tiên tiến, tiến tới xây dựng tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa. Trong ngành
nông nghiệp, thông qua cuộc vận động cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật, phát triển sản
xuất mà xây dựng đội sản xuất tiên tiến, hợp tác xã tiên tiến, tiến tới xây dựng các đội lao
động xã hội chủ nghĩa.
Về công tác lãnh đạo thi đua, theo Nghị quyết: công tác vận động, tổ chức thi đua
phải đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng từ Trung ương đến cơ sở. Các cấp Đảng
phải thường xuyên lãnh đạo phong trào thi đua. Các đồng chí phụ trách các ngành, các cơ
quan chính quyền, xí nghiệp, công trường, chủ nhiệm hợp tác xã…phải cùng Công đoàn,
đoàn Thanh niên vận động tổ chức thi đua, tổng kết phong trào thi đua. Tổ chức công
đoàn phải thực hiện tốt chức năng của mình đối với phong trào thi đua.
Để chuẩn bị cho Đại hội liên hoan anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ III,
Chỉ thị số 39- CT/TW, ngày 17 tháng 3 năm 1962 của Ban Bí thư đã xác định rõ mục
đích, yêu cầu và nội dung tuyên truyền giáo dục về Đại hội, đồng thời chỉ rõ các bước
tiến hành ở từng thời gian: trước, trong và sau Đại hội này. Với việc xác định 4 nội dung và
các bước tiến hành công tác tuyên truyền, giáo dục về Đại hội liên hoan, đóng góp của Chỉ
thị này không chỉ góp phần vào thành công của Đại hội, mà quan trọng hơn nó còn tiếp tục
phản ánh nhận thức nhất quán của Đảng ta trong lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước.

Bốn là, hết lòng ủng hộ cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam. Mỗi
người phải hăng hái lao động và công tác, góp phần thiết thực vào công cuộc xây dựng


chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước
nhà.
Năm là, phải nêu cao tinh thần quốc tế vô sản, giữ gìn và phát triển tình hữu nghị
với các nước xã hội chủ nghĩa anh em; hết lòng ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc;
đoàn kết với giai cấp công nhân và nhân dân toàn thế giới trong cuộc đấu tranh chống
chủ nghĩa đế quốc do đế quốc Mỹ cầm đầu, đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân
chủ và chủ nghĩa xã hội.
Tìm hiểu nội dung sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào thi đua yêu nước ở
miền Bắc từ năm 1961 đến 1965 qua các Chỉ thị, Nghị quyết, chúng ta nhận thấy, sự ra
đời của mỗi văn kiện đáp ứng yêu cầu phát triển của phong trào thi đua yêu nước ở từng
thời điểm phát triển khác nhau. Dấu ấn của từng văn kiện là khác biệt. Song nhìn chung,
quan điểm chỉ đạo của Đảng được phản ánh xuyên suốt các văn kiện là nhất quán, có sự
kế thừa, phát triển, phù hợp với nhiệm vụ chính trị của cách mạng nói chung và của
phong trào thi đua yêu nước nói riêng. Đóng góp của các văn kiện này cho sự tồn tại,
phát triển cũng như diện mạo của phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong thời gian
từ 1961-1965 là một thực tế không thể phủ nhận.
1.2. ĐẢNG TỔ CHỨC CHỈ ĐẠO PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhắc nhở “Trong công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc cũng như cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất
nước, toàn quân, toàn dân ta cùng nhau đẩy mạnh thi đua yêu nước, thì khó khăn gì cũng
khắc phục được, nhiệm vụ gì cũng hoàn thành tốt” [42, tr.271].
Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (9-1960), Đảng đặt trọng tâm vào lãnh
đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Ngày 26-1-1961, Nghị quyết Số 07 –
NQ/TW của Ban Bí thư nêu rõ:
Bắt đầu từ năm 1961 phải động viên mọi lực lượng tinh thần và vật chất
của toàn dân, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước phát triển sâu rộng trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status