TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====
TRẦN THỊ BÍCH PHƯƠNG
ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XÂY
DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN HỘI PHỤ NỮ
VIỆT NAM TRONG KHÁNG CHIẾN
CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1954-1975)
KHÓA LUẬN TỐT NGHỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
HÀ NỘI - 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====
TRẦN THỊ BÍCH PHƯƠNG
ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XÂY
DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN HỘI PHỤ NỮ
VIỆT NAM TRONG KHÁNG CHIẾN
CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1954-1975)
KHÓA LUẬN TỐT NGHỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
GV. Phạm Văn Giềng
tôi. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Tháng 05 năm 2013
Sinh viên
Trần Thị Bích Phương
BẢNG CHÚ THÍCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Từ viết đầy đủ
BCH
Ban chấp hành
CNH-HĐH
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
Hội LHPN
Hội Liên hiệp phụ nữ
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, ở tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh
tế, quân sự, ngoại giao, văn hóa - xã hội, phụ nữ luôn giữ vai trò hết sức quan
trọng. Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, phụ nữ Việt
Nam một lần nữa đã khẳng định vai trò của mình trên mọi lĩnh vực.
Sau năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can
thiệp Mỹ do Đảng lãnh đạo đã giành được thắng lợi, song sự nghiệp cách
mạng dân tộc dân chủ trên phạm vi cả nước vẫn chưa hoàn thành. Miền Bắc
được hoàn toàn giải phóng, song miền Nam vẫn còn dưới ách thống trị của
thực dân và tay sai. Đất nước tạm thời bị chia làm hai miền. Ở miền Bắc, mặc
dù thực dân Pháp rất ngoan cố, nhưng do tinh thần đấu tranh kiên quyết của
nhân dân ta, nên đến ngày 10-10-1954 tên lính Pháp cuối cùng đã rút khỏi Hà
Nội và ngày 16-5-1955, toàn bộ quân đội viễn chinh Pháp đã phải rút khỏi
miền Bắc. Ngay sau khi hòa bình lập lại, nhân dân miền Bắc khẩn trương khôi
phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh và tiến hành thực hiện các nhiệm
vụ còn lại của cách mạng dân tộc dân chủ nhằm tạo tiền đề đưa miền Bắc
từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Ở miền Nam, lợi dụng sự thất bại và
khó khăn của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đã nhảy vào để thay chân Pháp
nhằm biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ.
Đứng trước những biến đổi phức tạp nêu trên, lịch sử lại đặt cho Đảng ta
một yêu cầu bức thiết là phải vạch ra đường lối chiến lược đúng đắn để đưa cách
mạng Việt Nam tiến lên phù hợp với tình hình mới của đất nước và phù hợp với
xu thế phát triển chung của thời đại. Để thực hiện được các nhiệm vụ, mục tiêu
đã đề ra đòi hỏi Đảng phải tập hợp mọi lực lượng. Vấn đề lực lượng cũng như
phương pháp tập hợp lực lượng cách mạng là một vấn đề lớn rất được Đảng ta
quan tâm, trong đó có vấn đề vận động, lãnh đạo phụ nữ đấu tranh.
1
- Làm rõ quan điểm, chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện công tác vận
động phụ nữ của Đảng trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, từ đó
2
rút ra những kinh nghiệm phục vụ công tác vận động phụ nữ trong giai đoạn
hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Tập hợp hệ thống tư liệu về công tác vận động phụ nữ của Đảng trong
kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.
- Trình bày quá trình Đảng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác vận động
phụ nữ của Đảng trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ.
- Khẳng định những thành tựu và hạn chế trong quá trình lãnh đạo chỉ đạo
thực hiện công tác vận động phụ nữ của Đảng từ năm 1954 đến năm 1975.
- Rút ra những đặc điểm và những kinh nghiệm phục vụ công tác vận
động phụ nữ của Đảng trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác xây dựng và phát triển Hội
phụ nữ trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, quá trình chỉ đạo thực
hiện và các kinh nghiệm của công tác xây dựng và phát triển Hội phụ nữ của
Đảng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu về quá tình xây dựng và phát triển của Hội
lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung và lịch sử phong trào phụ
nữ nói riêng.
- Động viên, giáo dục thế hệ trẻ, khơi dậy tinh thần yêu nước, tinh thần tự
hào dân tộc, truyền thống “uống nước, nhớ nguồn” đối với những hi sinh lớn
lao của các bà, các mẹ, các chị nói riêng và những người anh hùng nói chung.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì khóa
luận gồm 2 chương, 5 tiết.
4
Chương 1
CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN HỘI PHỤ NỮ
VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1954
1.1. QUÁ TRÌNH RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỘI PHỤ NỮ VIỆT
NAM
1.1.1. Quá trình ra đời
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước.
Trong hàng ngàn năm lịch sử ấy, phụ nữ Việt Nam giữ một vai trò trọng yếu
và hiển nhiên trong lịch sử dân tộc.
Sinh ra trong một đất nước với nền văn minh lúa nước, phụ nữ Việt Nam
đã trở thành lực lượng lao động chính. Bên cạnh đó, nước ta luôn bị kẻ thù
xâm lược, đời sống nghèo khổ. Thực tế khiến người phụ nữ Việt Nam mang
những bản sắc riêng: Vừa là những chiến sĩ chống giặc ngoại xâm kiên cường
dũng cảm, vừa là những người lao động trí óc và lao động chân tay cần cù,
sáng tạo, thông minh, người nghệ sĩ bảo vệ, giữ gìn, phát huy bản sắc và tinh
hoa văn hóa dân tộc, đồng thời là người chủ gia đình dịu hiền, đảm đang,
trung hậu.
Vai trò, vị trí của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến luôn bị đánh giá
những nhóm phụ nữ. Sở dĩ có sự hình thành các nhóm phụ nữ này vì họ cùng
chung một mục đích: Cùng học tập, lao động và chiến đấu. Tuy nhiên, do chưa
có hệ tư tưởng chung thống nhất, soi đường nên các nhóm phụ nữ này còn hoạt
động rời rạc, chưa có sự thống nhất nên mức độ đoàn kết chưa cao.
Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập. Trong Cương lĩnh chính
trị đầu tiên của Đảng đã ghi rõ: “Nam nữ bình quyền” [23,tr1]. Đảng đã sớm
nhận thức được phụ nữ là lực lượng quan trọng của cách mạng và đề ra nhiệm
vụ: Đảng phải giải phóng phụ nữ; Phụ nữ phải tham gia các đoàn thể cách
mạng (công hội, nông hội) và cần thiết phải thành lập tổ chức riêng cho phụ
nữ để lôi cuốn các tầng lớp phụ nữ tham gia cách mạng.
6
Chính vì vậy, ngay từ những năm 1930 một số tổ chức phụ nữ đã hình
thành như: Phụ nữ Liên Hiệp Hội (1930), Phụ nữ Giải Phóng (1930-1931),
Phụ nữ Dân chủ (1936-1939), Phụ nữ phản đế (1939-1941), Đoàn Phụ nữ cứu
quốc (tháng 6-1941). Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tổ chức phụ nữ này là
hạt nhân nòng cốt trong việc vận động phụ nữ tham gia tích cực và góp phần
vào thắng lợi của cách mạng.
1.1.2. Quá trình phát triển
Quá trình phát triển của Hội phụ nữ gắn liền với lãnh đạo của Đảng. Hội
có tiền thân từ nhiều tổ chức phụ nữ như: Phụ nữ Giải Phóng, Phụ nữ Dân
chủ, Phụ nữ phản đế, Đoàn Phụ nữ cứu quốc.
Từ năm 1930 đến năm 1931, tổ chức “Phụ nữ Giải phóng” dần hình
thành, thu hút đông đảo phụ nữ tham gia vào cao trào đấu tranh cách mạng
(điển hình là phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh). Tổ chức đã tuyên truyền, vận
động phụ nữ tham gia đấu tranh đòi quyền lợi kinh tế, đòi cải thiện đời sống,
chống áp bức của đế quốc phong kiến.
Thời kỳ 1936-1939, trước yêu cầu của cách mạng, Nghị quyết Hội nghị
Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 8-1937 về
hành kiến thiết, xây dựng, củng cố chính quyền mới, mặt khác tổ chức các
cuộc vận động chống giặc đói, giặc dốt; đối phó với các lực lượng phản động
trong nước và nước ngoài…
Trong bối cảnh đó, chủ trương lớn của Đảng là mở rộng mặt trận thống
nhất dân tộc, thành lập các tổ chức đoàn thể nhằm tập hợp, động viên, khích
lệ đông đảo lực lượng quần chúng yêu nước không phân biệt dân tộc, giai cấp,
đảng phái.
Thực hiện chủ trương trên, ở Hà Nội, hội viên Đoàn Phụ nữ Cứu quốc
được tập hợp lại. Tháng 10-1945, Ban chấp hành Phụ nữ Cứu quốc Thành
Hoàng Diệu (Hà Nội) được thành lập.
8
Trong năm 1946, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị đại biểu phụ nữ các
khu, tỉnh miền Bắc do đồng chí Đỗ Mười chủ trì. Hội nghị đã bầu ra Ban liên
lạc Phụ nữ xứ Bắc Bộ, bà Lê Thu Trà được bầu làm trưởng ban.
Tháng 4-1946, đồng chí Phạm Văn Đồng trong phái đoàn thiện chí của
Quốc hội nước ta sang thăm Pháp đã trực tiếp gặp bà Eugenie Cotton, Hội
trưởng Hội Liên hiệp phụ nữ (LHPN) Pháp, Chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ Dân
chủ Quốc tế tìm hiểu về tổ chức, mục tiêu và hoạt động của Hội LHPN Pháp
và Liên đoàn. Khi về nước, đồng chí Phạm Văn Đồng đã báo cáo với Chủ tịch
Hồ Chí Minh về những thông tin đã tìm hiểu được. Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Trung ương Đảng đã chỉ thị việc thành lập tổ chức Hội LHPN Việt Nam để
tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ trong cả nước; đồng thời chỉ đạo Tổ chức
Hội LHPN Việt Nam phải gia nhập Liên đoàn phụ nữ Dân chủ quốc tế để
đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ hòa bình, dân chủ và tiến bộ của phụ nữ thế
giới, góp phần nâng cao vị thế của phụ nữ Việt Nam, tranh thủ sự giúp đỡ của
phụ nữ thế giới đối với phụ nữ Việt Nam.
Nhận chỉ thị của Bác, đồng chí Phạm Văn Đồng đã gặp bà Lê Thu Trà
tiên trong lịch sử nước ta, một đoàn thể quần chúng của phụ nữ được
hoạt động hợp pháp và công khai nhằm đoàn kết, động viên lực lượng
phụ nữ đóng góp tích cực vào sự nghiệp cách mạng của đất nước. Năm
1948, Hội LHPN Việt Nam chính thức gia nhập Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ
Quốc tế.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hội đã khích lệ, động viên các tầng lớp phụ
nữ đoàn kết thành một khối, hăng hái tham gia đóng góp, góp phần thực hiện
thành công các nhiệm vụ cách mạng của dân tộc; khẳng định vị thế, vì sự tiến
bộ, phát triển của phụ nữ Việt Nam và phụ nữ trên toàn thế giới.
Sau năm 1954, đất nước ta tạm thời bị chia làm hai miền với 2 chiến lược
cách mạng khác nhau. Xuất phát từ điều kiện đó, ở miền Bắc, Hội LHPN Việt
Nam tiếp tục lãnh đạo, vận động các tầng lớp phụ nữ khôi phục kinh tế, xây
10
dựng Chủ nghĩa xã hội (CNXH), chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.
Hội đã tham mưu cho Đảng, Nhà nước ban hành các chính sách tiến bộ về
phụ nữ.
Để đáp ứng yêu cầu cách mạng ở miền Nam, ngày 8-3-1961, Hội LHPN
giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập. Dưới sự lãnh đạo của Hội,
phụ nữ miền Nam luôn đứng trên tuyến đầu chống Mỹ, lập nên những kỳ tích
xứng đáng với 8 chữ vàng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.
Sau ngày đất nước giải phóng, Đảng chủ trương thống nhất các đoàn thể
nhân dân. Vì vậy, tháng 6-1976, Hội nghị hợp nhất tổ chức Phụ nữ ở hai miền
được tổ chức. Hội LHPN Việt Nam và Hội LHPN giải phóng miền Nam Việt
Nam thống nhất thành Hội LHPN Việt Nam với nhiệm vụ mới: Giáo dục
động viên phụ nữ cả nước tham gia bảo vệ và xây dựng đất nước theo con
đường xã hội chủ nghĩa (XHCN). Dù tên gọi có nhiều thay đổi cho phù hợp
với từng giai đoạn cách mạng, nhưng trước sau vẫn là tổ chức kiên trung của
Kách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: “Muốn thế giới cách mệnh
thành công thì phải vận động đàn bà” và “An nam cách mệnh phải có nữ giới
tham gia mới thành công”. Sau cách mạng tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã chỉ rõ, một trong những nhiệm vụ quan trọng của cách mạng là phải giải
phóng phụ nữ. Người nói: “Phụ nữ là phần nửa của xã hội, nếu không giải
phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người” [22,tr531].
Không chỉ đóng vai trò quan trọng trong sản xuất, người phụ nữ còn đóng
vai trò quan trọng trong đấu tranh chính trị, xây dựng CNXH. Muốn xây dựng
CNXH trước hết phải xây dựng con người CNXH. Con người CNXH ở đây
không thể bỏ qua một lực lượng đông đảo là phụ nữ.
Nói đến vai trò chính trị của người phụ nữ, V.I.Lênin cho rằng: Không
thu hút được phụ nữ tham gia công tác xã hội, đi dân quân, đi vào sinh hoạt
chính trị, nếu không kéo họ thoát khỏi khó khăn, mụ mẫm của việc nội trợ và
bếp núc, thì không thể nào bảo đảm được tự do thật sự, không thể nào xây
dựng được chế độ dân chủ, chứ đừng nói gì xây dựng CNXH nữa [19,tr320].
12
Sinh thời Bác Hồ luôn quan tâm và đánh giá cao vị trí vai trò của phụ nữ
trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam. Bác từng nhấn mạnh:
“Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cùng già, ra sức dệt thêu
mà thêm tốt đẹp, rực rỡ... Nhân dân ta anh hùng là nhờ có các bà mẹ Việt
Nam anh hùng... Dân tộc ta và Đảng ta đời đời biết ơn các bà mẹ Việt Nam đã
sinh ra và cống hiến những người ưu tú, đã và đang chiến đấu anh dũng tuyệt
vời bảo vệ non sông gấm vóc do tổ tiên ta để lại” [26,tr186].
Người còn khẳng định:
“…người phụ nữ dũng cảm có thể hoàn thành mọi nhiệm vụ mà người
đàn ông dũng cảm có thể làm, dù nhiệm vụ ấy đòi hỏi rất nhiều tài năng và
nghị lực như việc lái các con tàu vũ trụ Phương Đông” [25,tr97].
Tại Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ III, Chủ tịch Hồ Chí Minh
Hồ luôn luôn coi lực lượng phụ nữ là một bộ phận không thể tách rời của cách
mạng, một trong những nhân tố quan trọng bảo đảm mọi thắng lợi của sự
nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Vì
vậy, ghi nhận những thành tích đóng góp của phụ nữ trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc, Người tặng phụ nữ Việt Nam 8 chữ
vàng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” và khẳng định: “Non sông
gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt
đẹp, rực rỡ” [26,tr186]. Đây chính là sự khẳng định của Bác về vị trí, vai trò
không thể thiếu của phụ nữ Việt Nam đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc
cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.
Trong thư gửi Phụ nữ nhân dịp kỷ niệm khởi nghĩa Hai Bà Trưng và
Quốc tế Phụ nữ ngày 8-3-1952, Bác khẳng định: Trong cuộc kháng chiến to
lớn của dân tộc ta, phụ nữ ta đang gánh một phần quan trọng… Nhiều bà cụ
ngoài bảy tám mươi tuổi, chẳng những đã xung phong đi dân công, mà còn
thách thi đua với các cụ ông và con cháu… Những phụ nữ chân yếu tay mềm
mà “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” đã góp phần không nhỏ đem đến thắng
14
lợi “lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu” trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại,
giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Như vậy có thể thấy trong hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, phụ nữ
là một lực lượng hùng hậu, một nguồn sức mạnh to lớn. Chính vì vậy, một
yêu cầu cấp bách đặt ra là phải làm sao tập hợp được nguồn sức mạnh dồi dào
này phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết của Hội nghị
Trung ương I (1930) của Đảng đã phân tích: Lực lượng cách mạng của phụ
nữ là một cái lực lượng trọng yếu. Nếu quảng đại quần chúng phụ nữ không
tham gia vào những cuộc đấu tranh cách mạng thì cách mạng không thể thắng
lợi được. Để phát huy được sức mạnh to lớn của đông đảo phụ nữ thì một yêu
Đối với nhiệm vụ huy động phụ nữ tham gia sản xuất nông nghiệp, Hội
LHPN có trách nhiệm giáo dục cho phụ nữ quán triệt phương hướng, nhiệm
vụ, kế hoạch sản xuất và ý nghĩa của các chỉ tiêu chính về sản xuất, động viên
phụ nữ quyết tâm thực hiện các chỉ tiêu, các biện pháp kỹ thuật để bảo đảm
hoàn thành kế hoạch Nhà nước. Các cấp Hội phát hiện và đề xuất những yêu
cầu với cấp uỷ và các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm để tạo điều kiện cho
phụ nữ sản xuất tốt như: Hướng dẫn kỹ thuật, giải quyết công điểm hợp lý,
giải quyết khó khăn về gia đình, con cái, bảo hộ lao động, v.v... Việc trực tiếp
chỉ đạo và quản lý sản xuất, hướng dẫn kỹ thuật là trách nhiệm của các ngành,
các cơ quan phụ trách sản xuất, kỹ thuật.
Hội LHPN chủ động đề xuất với các ngành có liên quan những yêu cầu về
công tác vận động phụ nữ để các ngành kịp thời đưa vào chương trình của các
ngành. Hội tuyên truyền và phổ biến những kinh nghiệm của quần chúng, xây
dựng những điển hình phụ nữ về các mặt, để làm kiểu mẫu vận động phụ nữ
noi theo, giúp các cấp uỷ và các ngành những kinh nghiệm cụ thể trong công
tác lãnh đạo phụ nữ.
Ngay sau khi ra đời tổ chức Hội phụ nữ đã tuyên truyền giác ngộ quần
chúng, xây dựng cơ sở Đảng, làm giao thông liên lạc từng bước phát động chị
em tham gia đấu tranh chống bọn chủ bóc lột, đòi quyền lợi hàng ngày, tham
16
gia rải truyền đơn, diễn thuyết, cắm cờ cách mạng, tiến lên khởi nghĩa cướp
chính quyền góp phần to lớn làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945
thành công. Từ đây mở ra kỷ nguyên độc lập tự do cho toàn dân tộc, đem đến
sự đổi mới cho phụ nữ từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ xã hội, phát
huy tài năng tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội...
Những chiến công oanh liệt của nhân dân ta trong suốt 30 năm đấu tranh
gian khổ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược mãi mãi là thiên anh
Nam gắn liền với lịch sử phát triển của đất nước. Kể từ khi các tổ chức phụ
nữ tiền thân ra đời, người phụ nữ Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng phá
tan thành trì phong kiến, đánh dấu mốc son lịch sử trong vấn đề bình đẳng
giới được xác lập và định chế bằng Hiến pháp và Pháp luật. Tất cả quyền bính
trong nước là của nhân dân Việt Nam. Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ Cộng
hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội và gia đình.
Như vậy, có thể thấy công tác bồi dưỡng, phát triển, vận động phụ nữ đã
trở thành hệ thống có tính lý luận và thực tiễn, là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến
lược của Đảng ta trong mọi thời kỳ cách mạng. Quá trình lãnh đạo sự nghiệp
cách mạng nói chung, Đảng ta luôn quan tâm tới sự phát triển của phụ nữ,
không chỉ vì phụ nữ là một nửa của xã hội, mà còn là vì phụ nữ nước ta thực
sự có vị trí và vai trò to lớn trong mọi giai đoạn phát triển của lịch sử dân tộc.
18
Chương 2
QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ
PHÁT TRIỂN HỘI PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ
KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 – 1975)
2.1. ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN HỘI PHỤ NỮ VIỆT
NAM CỦA ĐẢNG
2.1.1. Đường lối của Đảng trong xây dựng và phát triển Hội Liên hiệp
phụ nữ Việt Nam ở miền Bắc
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ do
Đảng lãnh đạo đã giành được thắng lợi, song sự nghiệp cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước vẫn chưa hoàn thành. Miền Bắc được
hoàn toàn giải phóng, song miền Nam vẫn còn dưới ách thống trị của thực dân
và tay sai. Đất nước tạm thời bị chia làm hai miền.