ĐỀ TÀI: Quy hoạch quản lý chất thải rắn công nghiệp của
thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2015 – 2020
Tên học phần
Nhóm
: Quy hoạch môi trường
: 01
Lớp học phần
: 01 – thứ 2 tiết 123
KẾT
STT
HỌ VÀ TÊN
MSSV
NỘI DUNG PHÂN
XẾP
QUẢ
CHÚ
CÔNG
1253072319
5
Lê Thị Thúy Hằng
135D8501010582
6
Trần Hậu Giáp
7
Lê Thị Hiền
135D8501010400
8
Nguyễn Văn Hiếu
1253072284
9
Phan Thị Thu Hiền
10
Phân vùng môi trường
B
0
1253076140
Tập hợp bản exel
B+
0
Phạm Trung Hiếu
1253076324
Hiện trạng môi trường
B
0
11
Cao Đức Hà
1253072224
14
Nguyễn Thị Huyền
1253076366
B+
0
15
Trần Thị Hòa
B+
0
Điều kiện tự nhiên ktxh
Quy hoạch quản lý CTR
công nghiệp
Các áp lực môi trường
Quy hoạch quản lý CTR
công nghiệp
thách thức của lãnh thổ
Tổng quan về vấn đề
nghiên cứu
Dự báo lượng rác thải
công nghiệp năm 2020
phố lớn, rác thải đang là một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi
trường, ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái và sức khỏe con người. Ở các khu
công nghiệp, việc quản lý và xử lý chất thải rắn công nghiệp hiện nay đang là một
thách thức lớn đối với các cơ quan chức năng và cơ quan quản lý của nhiều đô thị,
nhất là những đô thị có khu công nghiệp tập trung như Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Đà Nẵng. Mặc dù, các Khu công nghiệp đã có hệ
thống thu gom chất thải rắn nhưng cũng không tránh khỏi sự ô nhiễm mà chúng
gây ra cho môi trường xung quanh. Đà Nẵng là một trong những đô thị lớn của cả
nước. Hằng ngày, toàn thành phố thải ra một lượng lớn rác thải, bao gồm cả rác
sinh hoạt và rác thải công nghiệp. Vì vậy,cần phải quy hoạch một cách hợp lý rác
[Nhóm 1]
Page 1
thải công nghiệp của các khu công nghiệp ở Thành phố Đà Nẵng. Với những ý
nghĩa trên, đề tài: “Quy hoạch quản lý chất thải rắn công nghiệp của thành phố Đà
Nẵng giai đoạn 2015 – 2020” được chọn để nghiên cứu.
2. Phạm vi nghiên cứu
Chất thải rắn ở các khu công nghiệp thuộc TP Đà Nẵng: Hòa Khánh, Đà Nẵng,
Liên Chiểu, Hòa Khánh mở rộng, Hòa Cầm và KCN Dịch vụ thủy sản Đà Nẵng
3. Đối tượng nghiên cứu
Chất thải rắn sinh hoạt đô thị và công nghiệp.
4. Mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng mạng lưới các trung tâm xử lý chất thải rắn cấp vùng, đảm bảo xử lý
triệt để, tái chế, tái sử dụng chất thải, hạn chế chôn lấp, nâng cao hiệu quả công tác
xử lý chất thải rắn, đặc biệt là chất thải rắn nguy hại.
- Xã hội hóa công tác quản lý chất thải rắn. Huy động các nguồn lực tham gia đầu
tư các công trình xử lý và quản lý chất thải rắn.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Khái niệm và phân loại chất thải
1.1.1. Khái niệm về chất thải, chất thải rắn, chất thải rắn công nghiệp
- Chất thải: là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong mọi hoạt
động kinh tế- xã hội, từ quá trình khai thác, chế biến và sản xuất đến các hoạt động
tiêu dùng và duy trì sự tồn tại của cộng đồng. Như vậy, chất thải là những sản
phẩm tồn tại ở dưới dạng rắn, lỏng và khí, được phát sinh và thải bỏ trong quá
trình sinh hoạt của con người, sản xuất công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp,
thương mại, du lịch, giao thông, sinh hoạt tại các gia đình, trường học, các khu dân
cư, nhà hàng, khách sạn,,,
- Chất thải rắn: là một dạng của chất thải tồn tại ở trạng thái rắn được con người
loại bỏ trong hoạt động kinh tế - xã hội của mình. Trong đó, quan trọng nhất là các
loại sinh ra từ các hoạt động sản xuất và hoạt động sống.
- Chất thải rắn công nghiệp: là chất thải rắn được phát sinh từ các hoạt động sản
xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.
1.1.2. Phân loại chất thải
Có nhiều tiêu chí phân loại chất thải, cụ thể:
Theo nguồn phát sinh, chất thải được phân chia thành:
- Chất thải sinh hoạt: phát sinh hàng ngày tại các đô thị, làng mạc, khu dân cư, các
trung tâm dịch vụ, công viên...
- Chất thải công nghiệp: bao gồm những loại vật chất ở trạng thái rắn, lỏng và khí,
phát sinh từ trong quá trình sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp.
- Chất thải xây dựng: là các phế thải như đất đá, gạch ngói, bê tông vỡ, vôi vữa, đồ
gỗ, nhựa, kim loại do các hoạt động xây dựng tạo ra.
[Nhóm 1]
Page 4
Page 5
sản xuất vật liệu…Các loại khí thải chủ yếu: SO2, NOx, CO2, ...
1.2. Tổng quan về chất thải rắn công nghiệp
1.2.1. Nguồn gốc phát sinh
Sự hình thành chất thải rắn là quy luật tất yếu của sản xuất. Chất thải rắn có thể
sinh ra trong bất cứ giai đoạn nào của qua trình sản xuất và tiêu thụ hàng hóa.
Nguyên nhân cụ thể của sự gia tăng chất thải rắn rất đa dạng. Trong đó, có những
nguyên nhân có thể được khắc phục một cách dễ dàng và nhanh chóng, nhưng
cũng có nhiều nguyên nhân để khắc phục cần có thời gian và chi phí lớn. Sự phân
loại chất thải rắn có thể theo ngành sản xuất như chất thải ngành hóa chất, luyện
kim, nhiên liệu…, hoặc theo nhóm sản xuất cụ thể như chất thải rắn của ngành sản
xuất axit sunphuaric, soda, axit foctoric). Tuy nhiên, do tính đa dạng của chất thải
và thành phần rất khác nhau, ngay cả với chất thải có cùng tên, nên chưa thể có sự
phân loại chính xác và trong trường hợp cụ thể phải tìm phương án xử lý riêng
biệt. Mặc dù, các phương pháp được ứng dụng là giống nhau trong công nghệ chế
biến vật liệu. Nguồn gốc của chất thải rắn công nghiệp là từ các khu công nghiệp,
các cơ sở sản xuất trong cả nước. Nó sinh ra trong quá trình sản xuất, là các phế
thải dư thừa. Các nghành sản xuất khác nhau thì sinh ra lượng chất thải khác nhau,
thành phần và tính chất của chất thải cũng khác nhau.
Nguồn phát sinh chủ yếu chất thải công nghiệp bao gồm:
+ Các quá trình sản xuất công nghiệp, bao gồm từ các công đoạn chế biến và gia
công nguyên - vật liệu cho đến giai đoạn sản xuất và đóng gói hoàn thiện sản
phẩm
+ Các nhà máy nhiệt điện;
+ Quá trình cung cấp nhiên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất;
+ Quá trình chuyển đổi công nghệ.
1.2.2. Đặc điểm của chất thải rắn công nghiệp
Chất thải rắn công nghiệp là các sản phẩm dư thừa và được loại bỏ phát sinh
Bộ Môi trường
Sở quản lý chất
thải và tái chế
Phòng hoạch
Đơn vị
Phòng quản
định chính
quản lý
lý chất thải
sách
chất thải
công nghiệp
Hình 1.1. Quản lý chất thải nước nhật
Nhìn vào hình 1.1 có thể thấy cơ quan đứng đầu trong công tác quản lý chất thải
của nước Nhật là Bộ Môi trường. Bộ Môi trường có rất nhiều phòng ban, trong đó
có Sở Quản lý Chất thải và Tái chế có nhiệm vụ quản lý sự phát sinh chất thải, đẩy
mạnh việc tái sử dụng tái chế và sử dụng những nguồn tài nguyên có thể tái tạo
một cách thích hợp với quan điểm là bảo tồn môi trường sống và sử dụng một
lý chất thải rắn đô thị là một cơ cấu tổ chức quản lý chuyên trách về CTR đô thị có
vai trò kiểm soát các vấn đề có liên quan đến CTR liên quan đến vấn đề về quản lý
[Nhóm 1]
Page 9
hành chính, tài chính, luật lệ, quy hoạch và kỹ thuật. Việc thu gom xử lý chất thải
chủ yếu do các công ty Môi trường đô thị của các tỉnh/thành phố (URENCO) thực
hiện. Đây là cơ quan chịu trách nhiệm thu gom và tiêu huỷ chất thải sinh hoạt, bao
gồm cả chất thải sinh hoạt gia đình, chất thải văn phòng, đồng thời cũng là cơ
quan chịu trách nhiệm xử lý cả chất thải công nghiệp và y tế trong hầu hết các
trường hợp. Về mặt lý thuyết, mặc dù các cơ sở công nghiệp và y tế phải tự chịu
trách nhiệm trong việc xử lý các chất thải do chính cơ sở đó thải ra, trong khi
Chính phủ chỉ đóng vai trò là người xây dựng, thực thi và cưỡng chế thi hành các
quy định/văn bản quy phạm pháp luật liên quan, song trên thực tế Việt Nam chưa
thực sự triển khai theo mô hình này. Chính vì thế, hoạt động của các công ty môi
trường đô thị liên quan đến việc xử lý chất thải sinh hoạt là chính do có quá ít
thông tin về thực tiễn và kinh nghiệm xử lý các loại chất thải khác. Hệ thống quản
lý chất thải rắn ở một số đô thị lớn ở Việt Nam được mô tả ở hình 1.3
Hình 1.3. Hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị
- Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm vạch chiến lược cải thiện môi
trường chung cho cả nước, tư vấn cho Nhà nước để đưa ra các luật, chính sách
quản lý môi trường quốc gia
- Bộ Xây dựng hướng dẫn chiến lược quản lý và xây dựng đô thị, quản lý chất thải
[Nhóm 1]
Page 10
[Nhóm 1]
Page 11
KCN cũng đã được cải thiện theo hướng tích cực. Các sở, ngành ở địa phương đã
tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc doanh nghiệp thực hiện pháp luật về bảo vệ
môi trường.
Địa phương
Khối lượng(tấn/năm)
Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
28.739
- Hà Nội
24.000
- Hải Phòng
4.620
- Quảng Ninh
Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
119
4.117
113.188
Nguồn: Báo cáo của Cục Môi trường, 2002
Bảng 1.2. Lượng phát sinh chất thải công nghiệp nguy hại
Tổng lượng chất thải rắn công nghiệp tăng nhanh trong những năm vừa qua, đặc
biệt là chất thải nguy hại. Theo báo cáo của Cục Môi trường năm 2002 tổng lượng
chất thải công nghiệp nguy hại phát sinh mỗi năm tại 3 vùng phát triển kinh tế
trọng điểm phía Bắc, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và vùng kinh tế trọng
điểm phía Nam là khoảng 113.118 tấn (bảng 1.2). Từ số liệu thống kê nêu trên cho
thấy, lượng chất thải nguy hại phát sinh ở Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam lớn
khoảng gấp ba lần lượng chất thải nguy hại phát sinh ở Vùng Kinh tế trọng điểm
[Nhóm 1]
Page 12
phía Bắc và lớn gấp khoảng 20 lần lượng chất thải nguy hại phát sinh ở Vùng
Kinh tế trọng điểm miền Trung. Lượng chất thải nguy hại thống kê được vào năm
2003 tăng lên 160.000 tấn, tương ứng khoảng 40% so với năm 2002. Trong đó
130.000 tấn phát sinh từ ngành công nghiệp, chất thải y tế nguy hại từ các bệnh
viện, cơ sở y tế và điều dưỡng chiếm cỡ 21.000 tấn/năm, trong khi các nguồn phát
sinh chất thải nguy hại từ hoạt động nông nghiệp chỉ khoảng 8.600 tấn/năm. Cũng
như số liệu thống kê của những năm trước đó, phần lớn chất thải công nghiệp
nguy hại phát sinh ở miền Nam, chiếm khoảng 64% tổng lượng chất thải nguy hại
phát sinh của cả nước, trong đó một nửa là lượng chất thải phát sinh từ Thành phố
Hồ Chí Minh. Tiếp theo là các tỉnh miền Bắc, với lượng chất thải nguy hại phát
sinh chiếm 31%.
1.3.3.1. Một số biện pháp quản lý chất thải rắn công nghiệp đã thực hiện
Hình 1.4. Quản lý chất thải ở khu công nghiệp
vệ môi trường KCN, KKT.
+ Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 43/2009/QĐ-TTg ngày
19/3/2009 về cơ chế hỗ trợ vốn ngân sách Trung ương cho xây dựng cơ sở hạ tầng
KCN ở các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn (thay thế Quyết định
183/2004/QĐ-TTg ngày 19/10/2004). Theo đó, các KCN ở địa bàn có điều kiện
kinh tế - xã hội khó khăn được ngân sách Trung ương hỗ trợ một phần cho xây
dựng công trình xử lý nước thải tập trung cho KCN.
[Nhóm 1]
Page 14
+ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng thường xuyên có văn bản chỉ đạo, đôn đốc, hướng
dẫn các địa phương tăng cường quản lý môi trường KCN, KKT; phối hợp với Bộ
Tài nguyên và Môi trường triển khai thanh tra, kiểm tra tình hình hoạt động của
các KCN, KCX, KKT.
CHƯƠNG II : ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU
I.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN- KINH TẾ XÃ HỘI
1. Điều kiện tự nhiên
1.1. Vị trí địa lý
Thành phố Đà Nẵng gồm vùng đất liền và vùng quần đảo trên biển Đông. Vùng
đất liền nằm ở 15055' đến 16014' vĩ độ Bắc, 107018' đến 108020' kinh độ Đông
[Nhóm 1]
Page 15
đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp.
Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700-1.500m, độ dốc lớn
(>400), là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường
sinh thái của thành phố.
Hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, bắt nguồn từ phía Tây, Tây bắc và tỉnh Quảng
Nam.
Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn, là
vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất ở và
các khu chức năng của thành phố.
1.3.Khí hậu thành phố Đà Nẵng
Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít
biến động. Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc và
miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam. Mỗi năm có 2
mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến
tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo
dài.
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,90C; cao nhất vào các tháng 6, 7, 8,
trung bình từ 28-300C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình từ 18-230C.
Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500m, nhiệt độ trung bình khoảng
[Nhóm 1]
Page 17
200C.
1.4. Tài nguyên thiên nhiên
1.4.1. Tài nguyên đất
Thành phố Đà Nẵng có các loại đất khác nhau: cồn cát và đất cát ven biển, đất
mặn, đất phèn, đất phù sa, đất xám bạc màu và đất xám, đất đen, đất đỏ vàng, đất
mùn đỏ vàng... Trong đó, quan trọng là nhóm đất phù sa ở vùng đồng bằng ven
bán đảo Sơn Trà có những bãi san hô lớn, thuận lợi trong việc phát triển các loại
hình kinh doanh, dịch vụ, du lịch biển. Ngoài ra vùng biển Đà Nẵng đang được
tiến hành thăm dò dầu khí, chất đốt...
Sông ngòi, ao hồ:
Sông ngòi của thành phố Đà Nẵng đều bắt nguồn từ phía Tây, Tây Bắc thành
phố và tỉnh Quảng Nam. Hầu hết các sông ở Đà Nẵng đều ngắn và dốc. Có 2 sông
chính là Sông Hàn (chiều dài khoảng 204 km, tổng diện tích lưu vực khoảng
5.180km2) và sông Cu Đê (chiều dài khoảng 38 km, lưu vực khoảng 426km2).
Ngoài ra, trên địa bàn thành phố còn có các sông: Sông Yên, sông Chu Bái, sông
Vĩnh Điện, sông Túy Loan, sông Phú Lộc...Thành phố còn có hơn 546 ha mặt
nước có khả năng nuôi trồng thủy sản. Với tiềm năng về diện tích mặt nước, tạo
điều kiện tốt để xây dựng thành vùng nuôi thủy sản với các loại chính như: cá mú,
cá hồi, cá cam, tôm sú và tôm hùm.
1.4.3. Tài nguyên rừng
Diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn thành phố là 67.148 ha, tập trung chủ yếu
ở phía Tây và Tây Bắc thành phố, bao gồm 3 loại rừng: rừng đặc dụng: 22.745 ha,
trong đó đất có rừng là 15.933 ha; rừng phòng hộ: 20.895 ha, trong đó đất có rừng
là 17.468 ha; rừng sản xuất: 23.508 ha, trong đó, đất có rừng là 18.176 ha.
Rừng ở Đà Nẵng tập trung chủ yếu ở cánh Tây huyện Hòa Vang, một số ít ở
quận Liên Chiểu, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn. Tỷ lệ che phủ là 49,6%, trữ lượng gỗ
khoảng 3 triệu m3. Phân bố chủ yếu ở nơi có độ dốc lớn, địa hình phức tạp.
Rừng của thành phố ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa phục vụ nghiên cứu
khoa học, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển du lịch. Thiên nhiên đã ưu đãi
[Nhóm 1]
Page 19
ban cho thành phố các khu bảo tồn thiên nhiên đặc sắc như: Khu bảo tồn thiên
nhiên Bà Nà, Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và Khu văn hóa lịch sử môi trường
quan thiên nhiên hùng vĩ.
Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà:
Tổng diện tích tự nhiên là 4.439 ha, trong đó diện tích rừng và đất lâm nghiệp là
4.180 ha, trong đó đất có rừng là 3.431 ha (rừng tự nhiên 2.806 ha, rừng trồng 625
ha), đất chưa có rừng 748 ha.
Đây là khu bảo tồn thiên nhiên vừa có hệ sinh thái đất ướt ven biển vừa có thảm
rừng nhiệt đới mưa ẩm nguyên sinh. Nguồn gen thực vật nhiệt đới của Sơn Trà rất
đa dạng, phong phú với số lượng cá thể lớn có khả năng cung cấp giống cây bản
địa phục vụ trồng rừng như: Chò chai, Dẻ cau, Dầu lá bóng... Điều đặc biệt là Sơn
Trà còn có những loài động vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, trong đó Voọc
vá có thể được xem là loài thú sinh trưởng đặc hữu của Đông Dương cần được bảo
vệ. Mặt khác Sơn Trà còn là nguồn cung cấp nước ngọt cho thành phố vàa là nơi
có nhiều cảnh đẹp và di tích lịch sử nên rất có giá trị về du lịch. Ngoài ra, Sơn Trà
còn là bức bình phong che chắn gió bão cho thành phố.
1.4.4 Tài nguyên khoáng sản
Đà Nẵng là nơi tập trung trữ lượng lớn đá và cát. Đá hoa cương có ở Non Nước,
nhưng để bảo vệ khu di tích nổi tiếng Ngũ Hành Sơn, loại đá này đã được cấm
khai thác. Đá xây dựng là loại khoáng sản chủ yếu của thành phố, tập trung ở khu
vực phía Tây, Bắc và Tây Nam thành phố. Đá phiến lợp: tập trung ở thôn Phò
Nam, xã Hòa Bắc. Đây là loại đá filit màu xám đen, có thể tách thành từng tấm với
kích thước (0,5 x 10) x 0,3-0,5m, trữ lượng khoảng 500.000m3.
Cát trắng tập trung ở Nam Ô với trữ lượng khoảng 5 triệu m3. Cát, cuội sỏi xây
dựng có ở lòng sông Vĩnh Điện, Túy Loan, sông Yên, Cầu Đỏ, Cẩm Lệ, Cu Đê,
cuội sỏi Hòa Bắc, Hòa Liên.
[Nhóm 1]
Page 21
80-84
85+
683984
61072
75920
65166
71264
70536
65364
63296
49310
43196
28319
17583
15445
16273
16038
10063
7079
4050
4010
Nữ
Số người
348243
29244
31228
34970
35480
57.97
55.19
61.87
62.96
60.57
Nam
Số người
335741
31828
44692
30196
35784
34460
33322
31463
23869
20764
11894
7534
6206
6700
6740
4509
2699
1500
1581
%
49.09