Một số giải pháp phát triển Logistics trong các công ty giao nhận Việt Nam trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 33


1

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

OBO
OKS
.CO
M

*****

Hoàng Lâm Cường

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LOGISTICS
TRONG CÁC CÔNG TY GIAO NHẬN VIỆT NAM
TRÊN ĐỊA BÀN TP. HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Kinh doanh Ngoại thương
Mã số :
5.02.05

KI L

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC


THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

MỤC LỤC
Trang

OBO
OKS
.CO
M

Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình và sơ đồ
Lời mở đầu

KI L

CHƯƠNG 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về Logistics
1.1 Tổng quan về Logistics
1.1.1 Khái niệm về Logistics
1.1.2. Mối quan hệ giữa Logistics - Dây chuyền cung ứng - Quá trình
phân phối
1.2 Logistics trong giao nhận vận tải
1.3 Vai trò của Logistics
1.3.1 Vai trò của Logistics đối với nền kinh tế.
1.3.2 Vai trò của Logistics đối với các doanh nghiệp
1.4 Kinh nghiệm phát triển Logistics của một số quốc gia trên thế
giới
1.4.1 Kinh nghiệm phát triển Logistics của các nước công nghiệp phát

9
11
11
11
12
13
17

18
18
18
19



4

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

OBO
OKS
.CO
M

2.2 Phân tích thực trạng hoạt động logistics trong các công ty giao
nhận Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh
2.2.1 Phân tích thò trường và tình hình khảo sát các công ty giao nhận trên
đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh
2.2.2 Thực trạng hoạt động logistics trong các công ty giao nhận có vốn
đầu tư nước ngoài trên đòa bàn Thành phố Hồ Chí Minh


61
70

KẾT LUẬN

73

KI L

CHƯƠNG 3: Một số giải pháp phát triển Logistics trong các công ty
giao nhận Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh
3.1 Mục tiêu – quan điểm – cơ sở đề xuất giải pháp
3.1.1 Mục tiêu chung của giải pháp
3.1.2 Quan điểm đề xuất các giải pháp
3.1.3 Cơ sở đề xuất các giải pháp
3.2 Những giải pháp phát triển Logistics trong các công ty giao nhận
Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh
3.2.1 Xây dựng đònh hướng chiến lược phát triển Logistics trong các công
ty giao nhận Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh
3.2.2 Các giải pháp cụ thể để thực hiện các đònh hướng chiến lược phát
triển Logistics
3.2.3 Các kiến nghò

51
51
51
51
51
54

14
15
16
17



6

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

LỜI MỞ ĐẦU
1. Ý nghóa chọn đề tài

OBO
OKS
.CO
M

Cùng với đường lối đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, ngành giao nhận
ngoại thương cũng đang trên bước đường hội nhập với ngành giao nhận thế giới.
Một trong những bước phát triển lớn trong hoạt động giao nhận vận tải hiện đại là
hoạt động Logistics. Trong vài thập niên gần đây Logistics đã phát triển nhanh
chóng và mang lại những kết quả rất tốt đẹp ở nhiều nước, điển hình như các nước
Tây Âu, Mỹ, tiếp sau đó là Singapore, Đài Loan,… Tại Việt Nam, nói chung và
thành phố Hồ Chí Minh, nói riêng, các công ty giao nhận hàng đầu thế giới đã có
mặt và cung cấp dòch vụ Logistics toàn cầu. Trong khi đó các công ty giao nhận
Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh, dù là những tổng công ty lớn mạnh
nhất cũng chưa có một công ty nào hoạt động trong lónh vực Logistics theo đúng
nghóa của nó. Theo từng bước của tiến trình hội nhập, các hàng rào bảo hộ dần dần

+ Đánh giá về thực trạng hoạt động Logistics ở các công ty giao nhận 100% vốn
Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh; nghiên cứu các nhân tố tác động
đến việc phát triển Logistics trong các công ty này.

OBO
OKS
.CO
M

+ Đề xuất những giải pháp để áp dụng và phát triển Logistics trong các công ty
giao nhận Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu

+ Nghiên cứu thực trạng hoạt động Logistics tại các công ty giao nhận Việt Nam
trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
+ Nghiên cứu các nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến việc áp dụng và
phát triển hoạt động Logistics trong các công ty giao nhận Việt Nam trên đòa bàn
thành phố Hồ Chí Minh.
+ Nghiên cứu những giải pháp hỗ trợ ở tầm vó mô giúp các công ty giao nhận Việt
Nam phát triển Logistics.
+ Nghiên cứu giải pháp giúp cho các công ty giao nhận Việt Nam áp dụng và phát
triển hoạt động Logistics trong công ty của mình.
* Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi về nội dung

Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động
Logistics trong các công ty Logistics. Đề tài ít đề cập đến hoạt động Logistics của
tự bản thân các doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu. Mặt khác, do xuất phát từ
nhu cầu thực tiễn và giới hạn về thời gian, đề tài tập trung nghiên cứu sâu vào việc

có một vài bài viết đăng trên các tạp chí mà chưa có đề tài nghiên cứu một cách có
hệ thống và toàn diện về lónh vực này.
+ Đây cũng là đề tài đầu tiên nghiên cứu đánh giá về hoạt động Logistics trong các
công ty giao nhận của Việt Nam.
Đề tài có những điểm mới như sau:

+ Một là, đề tài nghiên cứu kinh nghiệm phát triển Logistics của các nước. Xu thế
phát triển và tính tất yếu của hoạt động Logistics trong tương lai.
+ Hai là, đề tài nghiên cứu khá sâu về cách tổ chức, thiết kế hoạt động Logistics
trong các công ty giao nhận, đặc biệt là các điều kiện để có thể phát triển
Logistics.
+ Ba là, dựa trên phân tích điểm mạnh, điểm yếu của các công ty giao nhận Việt
Nam, cơ hội, thách thức trên thò trường vận tải giao nhận thành phố Hồ Chí Minh
đề tài mạnh dạn đề xuất những giải pháp chiến lược mang tính “đột phá” để có thể
áp dụng Logistics trong các công ty giao nhận Việt Nam và xây dựng nên những
“tập đoàn” Logistics lớn mạnh của Việt Nam.
+ Bốn là, đề tài cũng đưa ra một số kiến nghò tầm vó mô để tạo điều kiện phát triển
Logistics.
Tóm lại, đề tài có khá nhiều điểm mới vì nó được thực hiện độc lập, ít được
hưởng sự thừa kế từ các công trình nghiên cứu thực tiễn về hoạt động Logistics
trước đó.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài

Để thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng những phương pháp sau:

KI L

+ Phương pháp duy vật biện chứng; phương pháp tư duy Logistics; phương pháp
thống kê, tổng hợp, phân tích.
+ Phương pháp điều tra khảo sát thực tế.




THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

OBO
OKS
.CO
M

10

CHƯƠNG 1

KI L

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
LOGISTICS



11

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

1.1 Tổng quan về Logistics
1.1.1 Khái niệm về Logistics

OBO
OKS

Đến những năm 80, 90 của thế kỷ trước, các công ty tiến hành kết hợp quản
lý 2 mặt: đầu vào (gọi là cung ứng vật tư) với đầu ra (phân phối sản phẩm), để tiết
kiệm chi phí, tăng thêm hiệu quả của quá trình này. Sự kết hợp đó được gọi là hệ
thống Logistics.
Giai đoạn 3: Quản trò dây chuyền cung ứng.
Đây là khái niệm mang tính chiến lược về quản trò chuỗi nối tiếp các hoạt
động từ người cung cấp - đến người sản xuất - khách hàng tiêu dùng sản phẩm,
cùng với việc lập các chứng từ có liên quan, hệ thống theo dõi, kiểm tra làm tăng
thêm giá trò sản phẩm. Khái niệm này coi trọng việc phát triển các quan hệ với đối
tác, kết hợp chặt chẽ giữa người sản xuất với người cung cấp, với người tiêu dùng



12

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

và các bên có liên quan, như: các công ty vận tải, kho bãi, giao nhận và người cung
cấp công nghệ thông tin (IT - Information Technology).

OBO
OKS
.CO
M

Logistics phát triển quá nhanh chóng, trong nhiều ngành nhiều lónh vực, ở
nhiều nước, nên có rất nhiều tổ chức tác giả tham gia nghiên cứu, đưa ra nhiều đònh
nghóa khác nhau, cho đến nay vẫn chưa có được khái niệm thống nhất về Logistics.
Có thể nói, có bao nhiêu sách viết về Logistics thì có bấy nhiêu đònh nghóa về khái
niệm này.

Logistics không chỉ liên quan đến nguyên nhiên vật liệu mà còn liên quan
tới tất cả nguồn tài nguyên/ các yếu tố đầu vào cần thiết để tạo nên sản phẩm hay
dòch vụ phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng. Ở đây nguồn tài nguyên không



13

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

chỉ bao gồm: vật tư, vốn, nhân lực mà còn bao hàm cả dòch vụ, thông tin, bí quyết
công nghệ…

OBO
OKS
.CO
M

Logistics bao trùm cả hai cấp độ hoạch đònh và tổ chức. Cấp độ thứ nhất các
vấn đề được đặt ra là phải lấy nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, dòch
vụ ở đâu? vào khi nào? và vận chuyển chúng đi đâu?. Do vậy tại đây xuất hiện vấn
đề vò trí. Đây cũng là điểm khác biệt cơ bản trong khái niệm Logistics cổ điển và
hiện đại. Có một thời người ta cho rằng: Logistics chỉ tập trung vào “luồng”, còn
Logistics ngày nay có phạm vi rộng lớn hơn, bao gồm cả vò trí. Cấp độ thứ hai quan
tâm tới việc làm thế nào để đưa được nguồn tài nguyên/ các yếu tố đầu vào từ
điểm đầu đến điểm cuối dây chuyền cung ứng; Từ đây nảy sinh vần đề vận chuyển
và lưu trữ. Ở Việt Nam hiện nay, khi nói đến Logistics người ta quá chú tâm vào
cấp độ hai - tức là khâu vận chuyển và lưu trữ, mà chưa quan tâm đúng mức đến
vấn đề nguồn tài nguyên được lấy từ đâu và đưa đi đâu.
Để có thể hiểu thấu đáo bản chất của Logistics, cần nghiên cứu các câu hỏi


THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

+ Dự trữ có cần thiết không? Nếu cần thì dự trữ bao nhiêu?
+ Những loại hàng hoá nào cần vận chuyển đồng bộ? Với một lượng bao nhiêu là
tối ưu?

OBO
OKS
.CO
M

+ Việc đóng gói, dán nhãn có cần thiết không? Nếu có thì khi nào? Ở đâu? Do ai
làm và làm như thế nào?…
Cùng với đònh nghóa vừa được nêu và phân tích ở trên trong thực tế tồn tại
một số đònh nghóa khác cũng khá phổ biến như:
- Logistics là hệ thống các công việc được thực hiện một cách có kế hoạch nhằm
quản lý nguyên vật liệu, dòch vụ, thông tin và dòng chảy của vốn... nó bao gồm cả
những hệ thống thông tin ngày một phức tạp, sự truyền thông và hệ thống kiểm
soát cần phải có trong môi trường làm việc hiện nay.
- Logistics là sự duy trì, phát triển, phân phối/ sắp xếp và thay thế nguồn nhân lực
và nguyên vật liệu thiết bò, máy móc ...
- Logistics là quy trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu
chuyển và dự trữ hàng hoá, dòch vụ... từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ
cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng.
- Logistics là khoa học nghiên cứu việc lập kế hoạch, tổ chức và quản lý các hoạt
động cung cấp hàng hoá, dòch vụ.
- Logistics là khoa học nghiên cứu việc lập kế hoạch và thực hiện những lợi ích và
công dụng của các nguồn tài nguyên cần thiết nhằm giữ vững hoạt động của toàn
bộ hệ thống.

M

Từ cuối thế kỷ 20, Logistics được mở rộng thêm các mặt hoạt động và lợi
ích. Khái niệm mở rộng đó được gọi là Quản trò dây chuyền cung ứng. Một đònh
nghóa đặc thù của dây chuyền cung ứng là: “Một dây chuyền cung ứng là một
mạng lưới (có thể lựa chọn) về phương tiện và phân phối để thực hiện các chức
năng thu mua nguyên, phụ liệu chuyển hóa chúng thành sản phẩm trung gian và
cuối cùng, rồi phân phối sản phẩm đó tới khách hàng” (Ganeshan & Harrion 1995).
Cùng với sự phát triển của sản xuất, của công nghệ thông tin, thì dây chuyền
cung ứng ngày càng phức tạp, vai trò của công nghệ thông tin trong quản trò dây
chuyền cung ứng ngày càng lớn. ESCAP đònh nghóa quản trò dây chuyền cung ứng
(supply chain management) là tổng hợp những hoạt động của nhiều tổ chức trong
dây chuyền cung ứng và phản hồi trở lại những thông tin cần thiết, kòp thời bằng
cách sử dụng mạng lưới công nghệ thông tin và truyền thông kỹ thuật số.
Quá trình phân phối là khái niệm phản ánh sự di chuyển hàng hoá của một
tổ chức (người sản xuất, kinh doanh hay bất kỳ một người nào khác có hàng hoá);
Nó bao gồm sự vận chuyển hàng hoá bằng các loại phương tiện khác nhau, từ đòa
điểm này sang đòa điểm khác, từ nước nọ sang nước kia, trong đó có sự phối hợp
giữa các hoạt động và các chức năng khác nhau, nhằm đảm bảo chu chuyển hàng
hoá liên tục từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi đến tay người tiêu dùng cuối
cùng.

KI L

Như vậy, quá trình phân phối và hoạt động Logistics có liên quan mật thiết
với nhau nếu thiếu một kế hoạch khoa học và sự quản lý chặt chẽ sát sao thì toàn
bộ quá trình chu chuyển hàng hoá, dòch vụ phức tạp sẽ không thể thực hiện nhòp
nhàng, liên tục. Chính vì vậy, người ta đã ví toàn bộ quá trình phân phối là một
băng tải hàng hoá chuyển động không ngừng dưới sự tổ chức và giám sát của công
nghệ Logistics. Logistics là một công nghệ quản lý, kiểm soát toàn bộ quá trình

kiến. Và như vậy, vò trí của Logistics trong toàn bộ quá trình phân phối vật chất
thực chất là sử dụng công nghệ thông tin để tổ chức và quản lý quá trình lưu
chuyển hàng hóa qua nhiều công đoạn, chặng đường, phương tiện và đòa điểm khác
nhau. Các hoạt động này phải tuân thủ đặc tính của dây chuyền: vận tải – lưu kho
– phân phối và hơn thế nữa chúng phải đáp ứng yêu cầu về tính kòp thời (JIT).
1.2 Logistics trong giao nhận vận tải

Giao nhận, vận tải đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội và đây
cũng là lónh vực có hoạt động Logistics phát triển mạnh mẽ. Ngày nay nhiều công
ty vận tải giao nhận và khai thác cảng đã đổi tên gọi là Công ty kinh doanh
Logistics. Ví dụ: Hiệp hội giao nhận Singapore từ năm 2000 đã đổi thành hiệp hội
Logistics Singapore (SLA). Các hãng vận tải NYK Logistics, MOL Logistics,
Maersk Logistics, APL Logistics và các cảng Bus Logistics (Châu âu), cảng ICS
Logistics (Hoa Kỳ), Cảng Thượng Hải Logistics, cảng Klang Logistics (Châu Á)…
cũng đã hình thành và phát triển nhanh chóng.

KI L

Sự phát triển của Logistics trong giao nhận vận tải bắt nguồn từ sự thay đổi
trong sản xuất. Nhiều thập kỷ qua, cơ cấu công nghiệp và thương mại thế giới trải
qua những biến đổi sâu sắc, nói chung người bán hàng hoá không nhất thiết là
người sản xuất và người mua cũng không nhất thiết phải là người tiêu dùng cuối
cùng. Quá trình hàng hoá đi từ người sản xuất đến người tiêu dùng có nhiều người
trung gian lần lượt đóng vai trò người bán, người mua và là một bộ phận của quá
trình lưu thông hàng hoá từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Tính chất phong
phú của hàng hóa và sự vận động phức tạp của chúng đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ
đặt ra những yêu cầu mới đối với vận tải. Đồng thời để tránh đọng vốn, các nhà
sản xuất luôn tìm cách duy trì một lượng hàng trong kho nhỏ nhất. Kết quả là hoạt
động vận tải nói riêng và lưu thông phân phối nói chung, một mặt phải đảm bảo
yêu cầu đúng lúc (Just in Time), mặt khác tăng cường vận chuyển những chuyến

thức. Theo phương thức này người gửi hàng chỉ cần ký hợp đồng vận tải với một
người gọi là người kinh doanh vận tải đa phương thức (Multimodal Transport
Operator - MTO) người sẽ chòu trách nhiệm tổ chức thực hiện toàn bộ việc vận
chuyển hàng hoá bằng một hợp đồng duy nhất (MT document) mặc dù anh ta có
thể không phải là người vận tải thực sự. Một hợp đồng như vậy có thể do một người
kinh doanh vận tải đa phương thức đảm nhiệm, nhưng người mua đó vẫn cần một
người lên kế hoạch cung ứng mua hàng hoá và giám sát mọi di chuyển hàng hoá
để đảm bảo đúng loại hàng đến đúng đòa điểm, đúng thời gian. Hay nói cách khác,
một người tổ chức dòch vụ Logistics, người sẽ giúp anh ta tiết kiệm chí phí, thời
gian, từ đó nâng cao hiệu qủa sản xuất kinh doanh.

KI L

Dòch vụ Logistics chính là sự phát triển khéo léo của dòch vụ vận tải đa
phương thức. Toàn bộ hoạt động vận tải có thể được thực hiện theo một hợp đồng
vận tải đa phương thức và sự phối hợp mọi chu chuyển của hàng hoá do người tổ
chức dòch vụ Logistics đảm nhiệm. Điểm tương đồng là ở chỗ, trên cơ sở nhiều hợp
đồng mua bán giữa người mua và người bán người tổ chức dòch vụ Logistics sẽ
nhận hàng tại cơ sở của từng người bán và gom hàng lẻ thành nhiều đơn vò gửi
hàng (consolidation) tại các nhà kho hay nơi xếp dỡ hàng hóa trước khi chúng được
gửi tới nơi đến trên những phương tiện vận tải khác nhau. Tại nơi đến người tổ
chức dòch vụ Logistics (Logistics Service Provider) thu xếp để tách các đơn vò gửi
hàng đó (các lô hàng lớn) và xếp hàng hoá thành các lô hàng thích hợp (deconsolidation) để phân phối đến những đòa chỉ cuối cùng. Người tổ chức dòch vụ
logistics không chỉ giao nhận mà còn làm các công việc như: lưu kho, dán nhãn
hiệu, đóng gói bao bì, thuê phương tiện vận tải, làm thủ tục hải quan và có thể mua
hộ cả bảo hiểm cho chủ hàng.



18

Logistics.
1.3.1 Vai trò của Logistics đối với nền kinh tế.

KI L

Logistics là một chuỗi các hoạt động liên tục, có liên hệ mật thiết với nhau,
tác động qua lại lẫn nhau. Nếu xem xét ở góc độ tổng thể ta thấy Logistics là mối
liên kết kinh tế xuyên suốt gần như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và phân
phối hàng hoá. Mỗi hoạt động trong chuỗi đều có một vò trí và chiếm một khoản
chi phí nhất đònh. Một nghiên cứu gần đây của trường Đại học Quốc gia Michigan
(Hoa Kỳ) cho thấy, chỉ riêng hoạt động Logistics đã chiếm từ 10 đến 15% GDP của
hầu hết các nước lớn ở Châu Âu, Bắc Mỹ và một số nền kinh tế Châu Á - Thái
Bình Dương (theo Rushton Oxley & Crocher, 2000). Vì vậy nếu nâng cao hiệu quả
hoạt động Logistics thì sẽ góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội.
Logistics hỗ trợ cho luồng chu chuyển các giao dòch kinh tế. Nền kinh tế chỉ
có thể phát triển nhòp nhàng, đồng bộ một khi dây chuyền Logistics hoạt động liên
tục, nhòp nhàng.
Hàng loạt các hoạt động kinh tế liên quan diễn ra trong chuỗi Logistics, theo
đó các nguồn tài nguyên được biến đổi thành sản phẩm và điều quan trọng là giá



19

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

trò được tăng lên cho cả khách hàng lẫn người sản xuất, giúp thỏa mãn nhu cầu của
mỗi người.
1.3.2 Vai trò của Logistics đối với các doanh nghiệp



- Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động Logistics: do các nước này có nền
công nghệ thông tin tiên tiến, cơ sở hạ tầng thông tin hoàn hảo tạo điều kiện cho
họ áp dụng công nghệ thông tin trong nhiều lónh vực, trong đó có lónh vực Logistics.
Có rất nhiều chương trình phần mềm hữu hiệu hiện được các công ty giao nhận
hàng đầu của Châu Âu và Mỹ áp dụng. Những chương trình này cùng với hệ thống
mạng kết nối đã giúp cho các công ty này “số hoá” rất nhiều chứng từ, dữ liệu
trong quan hệ giao dòch với khách hàng của mình, góp phần không nhỏ trong quá
trình quản trò dây chuyền cung ứng hết sức phức tạp. Cùng với sự phát triển của
Internet, các công ty giao nhận hàng đầu Châu Âu, Mỹ cũng đang có xu thế hướng
tới những trang Web, quản lý hàng loạt dựa trên những trang Web cũng cho phép
những khách hàng nằm ngoài hệ thống EDI kết nối được với các công ty Logistics.



20

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Đây cũng là giai đoạn khởi đầu cho xu hướng phát triển của các công ty ELogistics trong tương lai.

OBO
OKS
.CO
M

- Phát triển hệ thống chi nhánh và đại lý toàn cầu: các công ty Logistics hàng đầu
Châu Âu, Mỹ đều phát triển mạng lưới rộng khắp trên thế giới, chính nhờ những
đại lý này mà họ có thể cung cấp Logistics toàn cầu. Tuy vậy họ vẫn tập trung vào
cung cấp Logistics mạnh ở một số khu vực mà họ có lợi thế.

tranh trong hoạt động Logistics toàn cầu của các công ty.
1.4.2 Kinh nghiệm phát triển Logistics của Singapore

OBO
OKS
.CO
M

- Điểm nổi bật trong kinh nghiệm phát triển Logistics của Singapore là chính sách
cảng mở và đầu tư xây dựng các trung tâm phân phối vùng. Nhà nước cho phép xây
dựng các trung tâm cung cấp dòch vụ phân phối hàng hoá. Các trung tâm này còn
cung cấp cho khách hàng của mình những thông tin liên quan đến tiến độ sản xuất,
phân phối, lưu trữ. Nhà nước đứng ra xây dựng các trung tâm phân phối và cho các
công ty Logistics thuê lại. Với việc thành lập các trung tâm này, chính phủ
Singapore muốn nhanh chóng tăng nhanh lượng hàng chuyển tải qua sân bay
Changi và cảng biển quốc tế Singapore, tạo sự tối ưu hoá trong vận tải đường biển
và đường hàng không để thu hút lượng hàng chuyển tải trong khu vực, đồng thời
duy trì vò thế cạnh tranh với các trung tâm chuyển tải quốc tế Hongkong, Trung
Quốc, Đài Loan thông qua các hợp đồng kinh doanh mang tính toàn cầu.
- Hoạt động có hiệu quả của hiệp hội, Hiệp hội Logistics Singapore (SLA) đóng vai
trò quan trọng trong quản lý, điều hoà hoạt động của các thành viên, các chi phí
liên quan giao nhận, chuyển tải đều do Hiệp hội thống nhất quy đònh chung và các
thành viên được khuyến khích áp dụng để tránh tình trạng cạnh tranh về gía.
Chính nhờ sự hỗ trợ từ phía Chính Phủ và nỗ lực từ các công ty trong nước,
Singapore đã trở thành trung tâm Logistics lớn nhất Đông Nam Á, với hơn 12 triệu
TEUs container thông qua cảng biển quốc tế và hơn 1,2 triệu tấn hàng vận tải qua
sân bay Changi mỗi năm. Hiện nay Singapore là nơi phát triển rất mạnh dòch vụ
gom hàng lẻ đường biển (LCL-Less than container load) trong toàn khu vực Đông
Nam Á.


Sau hơn 12 năm hoạt động, Shenker Việt Nam đã và đang phát triển thành một
trong những công ty vận chuyển hàng đầu tại Việt Nam, Schenker Việt Nam cung
cấp tất cả các dòch vụ liên quan đến vận chuyển hàng xuất và nhập khẩu bằng
đường biển và đường hàng không từ khắp mọi miền của Việt Nam.
Trong hoạt động Logistics, Schenker cung cấp chuỗi rộng lớn dòch vụ gía trò
tăng thêm với cùng một điểm chung nhất là: thiết lập giải pháp hiệu quả cho khách
hàng, thiết lập và tổ chức hoạt động của chuỗi cung ứng tối ưu cho khách hàng.
Thông thường những hoạt động này bao gồm hoạt động kho bãi, vận tải, đóng gói,
phân phối và cả lắp ráp theo đơn đặt hàng của khách hàng. Thêm vào đó,
Schenker có dòch vụ thiết kế chuỗi Logistics phù hợp với từng khách hàng.
Về hệ thống thông tin, Schenker sử dụng mối quan hệ khách hàng trực tuyến
thông qua Internet, chúng ta nghiên cứu website của Schenker tại đòa chỉ
www.btl.se/english/schenker_btl.html để thấy được những dòch vụ mà công ty cung
cấp trên Internet. Cấu trúc của website như trong phụ lục 1.
Chúng ta thấy Schenker cung cấp chuỗi dòch vụ trực tuyến bao gồm: Báo
giá, theo dõi hàng hóa, lòch tàu và cả hệ thống booking trực tuyến.
Quản lý hệ thống kho cũng là một trong những nghiệp vụ quan trọng để hoạt
động Logistics diễn ra hiệu quả. Hãy xem xét hoạt động kho của Schenker để có
thể thấy được quy trình quản lý kho của một công ty Logistics hàng đầu như thế
nào. Dưới đây là sơ đồ khái quát quy trình hoạt động kho của Schenker trong hoạt
động nhập và xuất kho của dây chuyền Logistics toàn cầu (Phụ lục 1)
1.5.2 DHL

KI L

Chúng ta thử nghiên cứu hoạt động Logistics trong một công ty chuyển phát
nhanh toàn cầu, DHL là công ty đại diện cho lónh vực hoạt động này. Là một công
ty của Mỹ, với trụ sở chính đặt tại Brussels, DHL khởi đầu bằng dòch vụ chuyển
phát nhanh thư tín, giấy tờ. Trong hiện tại DHL vẫn hoạt động mạnh trong lónh vực
chuyển phát nhanh toàn cầu nhưng mở rộng ra vận chuyển nhiều loại hàng hóa

Chẳng hạn như Amazon.com là một ví dụ. DHL đã kết nối hệ thống IT của mình
với webside của người bán để người bán và khách hàng có thể theo dõi, kiểm tra
việc chuyển hàng hoá đến tay người tiêu dùng. Khi khách hàng mua sản phẩm,
DHL cung cấp toàn bộ các dòch vụ trong chuỗi Logistics để giao hàng cho khách
hàng ở 220 quốc gia trên thế giới, như là dòch vụ kho vận, nâng hạ, đóng gói, đóng
kiện, giao dòch trực tuyến và chuyển phát nhanh (bao gồm cả khai báo hải quan).
Mặc dù vậy dòch vụ này vẫn chưa có ở Việt Nam. Tháng 10 năm 1999, DHL cũng
đã đưa ra dòch vụ DHL WAP Track, là dòch vụ theo dõi hàng hoá đầu tiên được
thiết kế đặc biệt sử dụng WAP để có thể dùng cho điện thoại di động.
1.5.3 Maersk (tham khảo thêm phụ lục 2)

KI L

Maersk Line là công ty vận tải biển toàn cầu thuộc tập đoàn A.P. Moller.
Bên cạnh hoạt động vận tải biển, tập đoàn này còn hoạt động trong các lónh vực
khác như dầu khí, đóng tàu, hàng không, công nghiệp, siêu thò,…. Maersk Line có
chi nhánh văn phòng tại hơn 95 quốc gia trên thế giới. Việc quản lý văn phòng chi
nhánh ở các nước được phân theo khu vực: châu Âu, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, châu Á và
châu Phi. Mỗi khu vực chòu trách nhiệm báo cáo trực tiếp cho tổng công ty mẹ đặt
tại Copenhagen, Đan Mạch.
Tập đoàn A.P. Moller sở hữu hơn 250 con tàu trong đó khoảng 100 tàu
container và 300.000 container đảm bảo cho Maersk Line hoạt động bao trùm khắp
thế giới. Các tàu feeder cũng như đội xe tải, xe lửa riêng của nó cho phép Maersk
Line cung cấp dòch vụ door-to-door cho các khách hàng của mình.
Khoảng 10 khách hàng lớn nhất đem lại 70 – 80% doanh thu cho Mearsk, 20
– 30% doanh số còn lại đem đến từ số lượng rất lớn các khách hàng nhỏ.
Maersk Logistics ra đời vào năm 2000, hiện nay Maersk Logistics có khoảng
200 văn phòng ở 70 quốc gia trên thế giới. Maersk Logistics hiện có 4 văn phòng




++ Thực hiện những dòch vụ đặc biệt cho hàng may mặc, ví dụ : cung cấp giá treo
trong suốt quá trình vận chuyển cho loại hàng GOH (garment on hangers);
++ Nhận đóng gói hàng hóa;
++ Tư vấn cho khách hàng.

KI L

Bên cạnh những dòch vụ mà Maersk Logistics cung cấp cho khách hàng, hệ
thống thông tin hiện đại cũng góp phần quan trọng trong hoạt động Logistics của
Maersk Logistics.

Cũng như tất cả các văn phòng khác của Maersk Logistics trên thế giới các
nhân viên của Maersk Logistics Việt Nam đều sử dụng rất thành thạo hệ thống
thông tin toàn cầu (Global Systems) để trao đổi thông tin giữa các văn phòng trong
tập đoàn, trao đổi thông tin với khách hàng, phát hành B/L và các loại chứng từ
khác, cập nhật và lưu trữ các thông tin về hàng hoá, phân tích và tổng hợp các số



25

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

liệu để lập các báo cáo thống kê kòp thời và đặc biệt cung cấp cho khách hàng
những thông tin về tình trạng hàng hoá của họ mọi lúc mọi nơi. Hiện Mearsk
Logistics Việt Nam đang sử dụng các hệ thống thông tin sau đây:

OBO
OKS

công ty gửi những yêu cầu xếp hàng/đặt chỗ (Booking note) qua mạng Internet rất
nhanh chóng và tiện lợi. Hình thức đặt chỗ này sẽ thay thế dần cho việc gửi yêu
cầu xếp hàng/đặt chỗ theo phương pháp truyền thống: qua fax hay điện thoại.
Client Visibility Tool (M* power):
Hệ thống Startrack được thiết kế để đáp ứng nhu cầu kiểm tra tình trạng
hàng hoá của khách hàng, theo dõi lòch trình của hàng hóa, nhận biết vò trí hàng
hoá đang ở đâu trong quá trình vận chuyển. Khách hàng có thể tìm kiếm thông tin
trong hệ thống bằng cách nhập một trong các số liệu: số đơn đặt hàng, số vận đơn,
số container, ngày khởi hành... v.v.
Global airfreight system (Axsfreight):



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status