Luận văn thạc sĩ về Một số giải pháp phát trển Logistics trong các công ty giao nhận Việt nam trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh - Pdf 22

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
*****
Hoàng Lâm Cường
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LOGISTICS
TRONG CÁC CÔNG TY GIAO NHẬN VIỆT NAM
TRÊN ĐỊA BÀN TP. HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Kinh doanh Ngoại thương
Mã số : 5.02.05 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Đoàn Thò Hồng Vân


Danh mục các hình và sơ đồ vi
Lời mở đầu vii

CHƯƠNG 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về Logistics 1
1.1 Tổng quan về Logistics 1
1.1.1 Khái niệm về Logistics 1
1.1.2. Mối quan hệ giữa Logistics - Dây chuyền cung ứng - Quá trình
phân phối 4
1.2 Logistics trong giao nhận vận tải 6
1.3 Vai trò của Logistics 8
1.3.1 Vai trò của Logistics đối với nền kinh tế. 8
1.3.2 Vai trò của Logistics đối với các doanh nghiệp 9
1.4 Kinh nghiệm phát triển Logistics của một số quốc gia trên thế
giới 9
1.4.1 Kinh nghiệm phát triển Logistics của các nước công nghiệp phát
triển (Châu Âu, Bắc Mỹ) 9
1.4.2 Kinh nghiệm phát triển Logistics của Singapore 11
1.5 Hoạt động Logistics trong một số công ty Logistics nước ngoài tiêu
biểu đang có mặt trên thò trường thành phố Hồ Chí Minh 11
1.5.1 Schenker 11
1.5.2 DHL 12
1.5.3 Maersk 13
Kết luận chương 1 17

CHƯƠNG 2: Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động Logistics trong
các công ty giao nhận Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh 18
2.1 Vài nét về hoạt động vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu của
thành phố Hồ Chí Minh 18
2.1.1 Hoạt động xuất nhập khẩu trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh 18
2.1.2 Hoạt động vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu trên đòa bàn Thành phố

3.1.3 Cơ sở đề xuất các giải pháp 51
3.2 Những giải pháp phát triển Logistics trong các công ty giao nhận
Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh 54
3.2.1 Xây dựng đònh hướng chiến lược phát triển Logistics trong các công
ty giao nhận Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh 54
3.2.2 Các giải pháp cụ thể để thực hiện các đònh hướng chiến lược phát
triển Logistics 61
3.2.3 Các kiến nghò 70

KẾT LUẬN 73

5
Taứi lieọu tham khaỷo 1
Phuù luùc 1 3
Phuù luùc 2 7
Phuù luùc 3 13
Phuù luùc 4 14
Phuù luùc 5 15
Phuù luùc 6 16
Phuù luùc 7 17
6
LỜI MỞ ĐẦU

1. Ý nghóa chọn đề tài
Cùng với đường lối đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, ngành giao nhận
ngoại thương cũng đang trên bước đường hội nhập với ngành giao nhận thế giới.
Một trong những bước phát triển lớn trong hoạt động giao nhận vận tải hiện đại là
hoạt động Logistics. Trong vài thập niên gần đây Logistics đã phát triển nhanh
chóng và mang lại những kết quả rất tốt đẹp ở nhiều nước, điển hình như các nước
Tây Âu, Mỹ, tiếp sau đó là Singapore, Đài Loan,… Tại Việt Nam, nói chung và

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
+ Nghiên cứu thực trạng hoạt động Logistics tại các công ty giao nhận Việt Nam
trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
+ Nghiên cứu các nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến việc áp dụng và
phát triển hoạt động Logistics trong các công ty giao nhận Việt Nam trên đòa bàn
thành phố Hồ Chí Minh.
+ Nghiên cứu những giải pháp hỗ trợ ở tầm vó mô giúp các công ty giao nhận Việt
Nam phát triển Logistics.
+ Nghiên cứu giải pháp giúp cho các công ty giao nhận Việt Nam áp dụng và phát
triển hoạt động Logistics trong công ty của mình.
* Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi về nội dung
Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động
Logistics trong các công ty Logistics. Đề tài ít đề cập đến hoạt động Logistics của
tự bản thân các doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu. Mặt khác, do xuất phát từ
nhu cầu thực tiễn và giới hạn về thời gian, đề tài tập trung nghiên cứu sâu vào việc
phát triển hoạt động Logistics cho dòng phân phối hàng hóa (Outbound Logistics)
hơn là dòng cung cấp nguyên vật liệu đầu vào (Inbound Logistics).
+ Phạm vi về không gian
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động Logistics ở thành phố Hồ Chí
Minh, đặc biệt là trong các công ty giao nhận của Việt Nam. Ngoài ra đề tài cũng
có nghiên cứu hoạt động Logistics trong các công ty giao nhận và hãng tàu nước
ngoài hoặc liên doanh trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh để rút ra được kinh
nghiệm tổ chức hoạt động Logistics của họ.
+ Phạm vi về thời gian
Các số liệu thống kê và khảo sát phục vụ cho nghiên cứu được thu thập đến
hết năm 2003
8
4. Điểm mới của đề tài nghiên cứu


Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về Logistics.
9
Chương 2: Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động logistics trong các công ty
giao nhận Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Một số giải pháp phát triển logistics trong các công ty giao nhận 100%
vốn Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Mặc dù đã rất nỗ lực, cố gắng, nhưng vì đề tài mới, phải khảo sát thực tế nhiều nên
khó tránh khỏi những khiếm khuyết, kính mong Cô hướng dẫn và các Thầy, Cô
trong Hội Đồng chân tình đóng góp để đề tài mang tính thực tiễn cao hơn.
10

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
LOGISTICS
11
1.1 Tổng quan về Logistics
1.1.1 Khái niệm về Logistics
Logistics theo nghóa đang sử dụng trên thế giới có nguồn gốc từ từ
Logistique trong tiếng Pháp. Logistique lại có gốc từ từ “Loger” nghóa là nơi đóng
quân. Từ này có quan hệ mật thiết với từ “Lodge” – nhà nghỉ (một từ cổ trong

12
và các bên có liên quan, như: các công ty vận tải, kho bãi, giao nhận và người cung
cấp công nghệ thông tin (IT - Information Technology).
Logistics phát triển quá nhanh chóng, trong nhiều ngành nhiều lónh vực, ở
nhiều nước, nên có rất nhiều tổ chức tác giả tham gia nghiên cứu, đưa ra nhiều đònh
nghóa khác nhau, cho đến nay vẫn chưa có được khái niệm thống nhất về Logistics.
Có thể nói, có bao nhiêu sách viết về Logistics thì có bấy nhiêu đònh nghóa về khái
niệm này.
Trước hết trong lónh vực sản xuất, người ta đưa ra đònh nghóa Logistics một
cách đơn giản, ngắn gọn nhất là cung ứng, là chuỗi hoạt động nhằm đảm bảo
nguyên nhiên vật liệu, máy móc, thiết bò, các dòch vụ .. cho hoạt động của tổ chức/
doanh nghiệp được tiến hành liên tục, nhòp nhàng và có hiệu quả; bên cạnh đó còn
tham gia vào quá trình phát triển sản phẩm mới. Giờ đây, một trong ba hướng phát
triển quan trọng của quản trò cung ứng là quản trò chuỗi/ dây chuyền cung ứng
(Supply Chain Management - SMC)
Dưới góc độ quản trò chuỗi cung ứng, thì Logistics là quá trình tối ưu hoá về
vò trí, lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên/ yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát đầu
tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu
dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế (xem Logistics and
Supply Chain Management, tác giả Ma Shuo, tài liệu giảng dạy của World Maritime
University, 1999).
Đònh nghóa này cho thấy Logistics bao gồm nhiều khái niệm, cho phép các
tổ chức có thể vận dụng các nguyên lý cách nghó và hoạt động Logistics trong lónh
vực của mình một cách sáng tạo, linh hoạt và có hiệu quả. Để hiểu chính xác về
bản chất và phạm vi ứng dụng của Logistics chúng ta hãy xem xét một số khái
niệm có liên quan.
Trước hết ta xem xét từ Quá trình. Điều đó cho thấy Logistics không phải là
một hoạt động đơn lẻ (isolated action), mà là một chuỗi các hoạt động liên tục, có
liên quan mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, được thực hiện một cách
khoa học và có hệ thống qua các bước nghiên cứu, hoạch đònh, tổ chức, quản lý,

+ Đặt nhà máy và cơ sở sản xuất ở đâu?
+ Xây dựng các kho hàng và trung tâm phân phối ở đâu?
+ Xác lập chi nhánh của công ty ở đâu?
+ Lựa chọn đối tác sản xuất kinh doanh ở đâu? …v.v.
Nhóm các câu hỏi thứ hai liên quan đến việc vận chuyển và dự trữ nguồn tài
nguyên đầu vào từ điểm đầu đến điểm cuối dây chuyền cung ứng, các câu hỏi đó
thường là:
+ Làm thế nào để vận chuyển nguồn tài nguyên từ điểm A đến điểm B, bằng
đường biển, đường hàng không, đường bộ, đường sắt, đường sông hay đa phương
thức…?
+ Khi nào thì bắt đầu vận chuyển và vận chuyển hết bao lâu?
+ Chọn tuyến vận tải nào và chọn ai vận chuyển?
14
+ Dự trữ có cần thiết không? Nếu cần thì dự trữ bao nhiêu?
+ Những loại hàng hoá nào cần vận chuyển đồng bộ? Với một lượng bao nhiêu là
tối ưu?
+ Việc đóng gói, dán nhãn có cần thiết không? Nếu có thì khi nào? Ở đâu? Do ai
làm và làm như thế nào?…
Cùng với đònh nghóa vừa được nêu và phân tích ở trên trong thực tế tồn tại
một số đònh nghóa khác cũng khá phổ biến như:
- Logistics là hệ thống các công việc được thực hiện một cách có kế hoạch nhằm
quản lý nguyên vật liệu, dòch vụ, thông tin và dòng chảy của vốn... nó bao gồm cả
những hệ thống thông tin ngày một phức tạp, sự truyền thông và hệ thống kiểm
soát cần phải có trong môi trường làm việc hiện nay.
- Logistics là sự duy trì, phát triển, phân phối/ sắp xếp và thay thế nguồn nhân lực
và nguyên vật liệu thiết bò, máy móc ...
- Logistics là quy trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu
chuyển và dự trữ hàng hoá, dòch vụ... từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ
cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng.
- Logistics là khoa học nghiên cứu việc lập kế hoạch, tổ chức và quản lý các hoạt

(supply chain management) là tổng hợp những hoạt động của nhiều tổ chức trong
dây chuyền cung ứng và phản hồi trở lại những thông tin cần thiết, kòp thời bằng
cách sử dụng mạng lưới công nghệ thông tin và truyền thông kỹ thuật số.
Quá trình phân phối là khái niệm phản ánh sự di chuyển hàng hoá của một
tổ chức (người sản xuất, kinh doanh hay bất kỳ một người nào khác có hàng hoá);
Nó bao gồm sự vận chuyển hàng hoá bằng các loại phương tiện khác nhau, từ đòa
điểm này sang đòa điểm khác, từ nước nọ sang nước kia, trong đó có sự phối hợp
giữa các hoạt động và các chức năng khác nhau, nhằm đảm bảo chu chuyển hàng
hoá liên tục từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi đến tay người tiêu dùng cuối
cùng.
Như vậy, quá trình phân phối và hoạt động Logistics có liên quan mật thiết
với nhau nếu thiếu một kế hoạch khoa học và sự quản lý chặt chẽ sát sao thì toàn
bộ quá trình chu chuyển hàng hoá, dòch vụ phức tạp sẽ không thể thực hiện nhòp
nhàng, liên tục. Chính vì vậy, người ta đã ví toàn bộ quá trình phân phối là một
băng tải hàng hoá chuyển động không ngừng dưới sự tổ chức và giám sát của công
nghệ Logistics. Logistics là một công nghệ quản lý, kiểm soát toàn bộ quá trình
phân phối, sản xuất, tiêu thụ một cách đồng bộ. Một công nghệ như vậy theo sát và
đẩy nhanh hoạt động nhờ các luồng thông tin. Đến lượt mình những luồng thông tin
lại cho phép giám sát được vận động thực của hàng hoá. Tổ chức dòch vụ Logistics
đối với toàn bộ quá trình phân phối từ khâu cung ứng đến khâu tiêu thụ được thực
hiện trên cơ sở nhu cầu thực tế.
Dòch vụ Logistics có thể thực hiện được nhờ những tiến bộ trong công nghệ
tin học (để tập hợp thông tin), hiện đại hoá (đảm bảo tính linh hoạt cho sản xuất)
và tiến bộ trong thông tin liên lạc cũng như công nghệ xử lý thông tin (để hợp lý
hoá hệ thống). Việc sử dụng hệ thống EDI (Electronic Data Interchange - Trao đổi
thông tin điện tử) với sự hỗ trợ của mạng lưới thông tin liên lạc và công nghệ xử lý
16
thông tin đóng vai trò đặc biệt quan trọng, quyết đònh sự sống còn trong quản lý
quá trình chu chuyển hàng hoá và chứng từ. Do đó, mạng lưới thông tin phải được
thiết kế khoa học có khả năng kết hợp chặt chẽ giữa tính tập trung và phân tán.

yêu cầu đúng lúc (Just in Time), mặt khác tăng cường vận chuyển những chuyến
hàng nhỏ thực hiện mục tiêu không để hàng tồn kho (zero-stock). Trong thò trường
cạnh tranh gay gắt, điều này dẫn đến nhu cầu vận chuyển những chuyến hàng nhỏ,
đều đặn, kòp thời mà tính khả thi của nó phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống thiết bò
17
xếp dỡ – vận chuyển hàng hoá nhanh, luồng thông tin kòp thời, chính xác và sự ăn
khớp giữa các quá trình.
Mặt khác, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin cho phép kết hợp
các quá trình sản xuất, lưu kho hàng hóa, tiêu thụ, với hoạt động vận tải có hiệu
quả hơn và đồng thời cũng phức tạp hơn. Công nghệ thông tin giúp người vận tải
nâng cao chất lượng phục vụ đối với khách hàng của mình.
Trước đây, để đi từ cơ sở của người sản xuất đến tay người tiêu dùng (đặc
biệt trong ngoại thương hàng hoá đi từ nước này sang nước khác) hàng hoá thường
phải qua tay nhiều người vận tải và nhiều phương thức vận tải khác nhau, phải chòu
nhiều rủi ro, mất mát, người gửi hàng phải ký nhiều hợp đồng vận tải riêng biệt với
từng người vận tải, theo đó, trách nhiệm của mỗi người vận tải chỉ giới hạn trong
chặng đường hay dòch vụ do anh ta đảm nhiệm mà thôi. Cách mạng Container hoá
trong vận tải diễn ra trong những năm 70 của thế kỷ 20 đã tăng thêm độ an toàn và
tin cậy trong vận chuyển hàng hoá, là tiền đề cho sự ra đời của vận tải đa phương
thức. Theo phương thức này người gửi hàng chỉ cần ký hợp đồng vận tải với một
người gọi là người kinh doanh vận tải đa phương thức (Multimodal Transport
Operator - MTO) người sẽ chòu trách nhiệm tổ chức thực hiện toàn bộ việc vận
chuyển hàng hoá bằng một hợp đồng duy nhất (MT document) mặc dù anh ta có
thể không phải là người vận tải thực sự. Một hợp đồng như vậy có thể do một người
kinh doanh vận tải đa phương thức đảm nhiệm, nhưng người mua đó vẫn cần một
người lên kế hoạch cung ứng mua hàng hoá và giám sát mọi di chuyển hàng hoá
để đảm bảo đúng loại hàng đến đúng đòa điểm, đúng thời gian. Hay nói cách khác,
một người tổ chức dòch vụ Logistics, người sẽ giúp anh ta tiết kiệm chí phí, thời
gian, từ đó nâng cao hiệu qủa sản xuất kinh doanh.
Dòch vụ Logistics chính là sự phát triển khéo léo của dòch vụ vận tải đa

hàng hóa.
1.3 Vai trò của Logistics
Từ những điều trình bày ở trên cho thấy Logistics là một chức năng kinh tế
có ảnh hưởng sâu rộng đến toàn xã hội. Trong thời đại ngày nay người ta luôn
mong muốn những dòch vụ hoàn hảo và điều đó sẽ đạt được khi phát triển
Logistics.
1.3.1 Vai trò của Logistics đối với nền kinh tế.
Logistics là một chuỗi các hoạt động liên tục, có liên hệ mật thiết với nhau,
tác động qua lại lẫn nhau. Nếu xem xét ở góc độ tổng thể ta thấy Logistics là mối
liên kết kinh tế xuyên suốt gần như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và phân
phối hàng hoá. Mỗi hoạt động trong chuỗi đều có một vò trí và chiếm một khoản
chi phí nhất đònh. Một nghiên cứu gần đây của trường Đại học Quốc gia Michigan
(Hoa Kỳ) cho thấy, chỉ riêng hoạt động Logistics đã chiếm từ 10 đến 15% GDP của
hầu hết các nước lớn ở Châu Âu, Bắc Mỹ và một số nền kinh tế Châu Á - Thái
Bình Dương (theo Rushton Oxley & Crocher, 2000). Vì vậy nếu nâng cao hiệu quả
hoạt động Logistics thì sẽ góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội.
Logistics hỗ trợ cho luồng chu chuyển các giao dòch kinh tế. Nền kinh tế chỉ
có thể phát triển nhòp nhàng, đồng bộ một khi dây chuyền Logistics hoạt động liên
tục, nhòp nhàng.
Hàng loạt các hoạt động kinh tế liên quan diễn ra trong chuỗi Logistics, theo
đó các nguồn tài nguyên được biến đổi thành sản phẩm và điều quan trọng là giá
19
trò được tăng lên cho cả khách hàng lẫn người sản xuất, giúp thỏa mãn nhu cầu của
mỗi người.
1.3.2 Vai trò của Logistics đối với các doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp Logistics có vai trò rất to lớn. Logistics giúp giải
quyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả. Nhờ có thể thay
đổi các nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình chu chuyển nguyên vật
liệu, hàng hóa, dòch vụ,… Logistics giúp giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh cho
doanh nghiệp. Có nhiều doanh nghiệp thành công lớn nhờ có được chiến lược hoạt

Đây cũng là giai đoạn khởi đầu cho xu hướng phát triển của các công ty E-
Logistics trong tương lai.
- Phát triển hệ thống chi nhánh và đại lý toàn cầu: các công ty Logistics hàng đầu
Châu Âu, Mỹ đều phát triển mạng lưới rộng khắp trên thế giới, chính nhờ những
đại lý này mà họ có thể cung cấp Logistics toàn cầu. Tuy vậy họ vẫn tập trung vào
cung cấp Logistics mạnh ở một số khu vực mà họ có lợi thế.
Bảng 1.1: Đánh giá thò trường hoạt động của các công ty Logistics toàn cầu
(Nguồn SembCorp Logistics)

- Có chiến lược phân khúc thò trường theo lợi thế của từng công ty: các công ty luôn
nhắm tới phân khúc thò trường mà mình có ưu thế, phát triển và hoàn thiện hoạt
động Logistics của mình cho phân khúc thò trường này. Như công ty FedEx, UPS,
DHL,… nhắm tới thò trường bán lẻ, chuyển phát nhanh, bán hàng qua mạng. Hay
Maersk Logistics có những khách hàng lớn trong ngành may mặc, ngành lắp ráp ô
tô,…; SembCorp Logistics lại nhắm tới những khách hàng là các công ty điện tử,
công ty sản xuất hóa mỹ phẩm,…; Tuy nhiên các công ty có một điểm chung nữa là
mỗi công ty đều có những khách hàng lớn (Key accounts), những khách hàng này
đem lại phần lớn doanh thu trong hoạt động Logistics của các công ty này.
- Có sự liên kết hợp tác để tạo thành những tập đoàn khổng lồ, trong những năm
gần đây đánh dấu sự sát nhập của các công ty lớn trên thế giới. Hãng tàu NOL của
Singapore sát nhập với hãng tàu APL của Mỹ là điều kiện cho APL Logistics phát
triển. Sự sát nhập của Maersk line và Sealand dẫn đến sự sát nhập của Maersk
Logistics và Sealand Logistics thành một công ty Maersk Logistics toàn cầu. Ngoài
xu thế sát nhập, các công ty còn liên kết với nhau để mở rộng tầm hoạt động trên
thế giới. Điển hình là tập đoàn SembCorp Logistics có đối tác để tăng tầm hoạt
21
động ở Châu Á là Kuehne & Nagel, chính sự liên kết này làm tăng khả năng cạnh

dòch vụ trọn gói lớn nhất châu Âu có các chi nhánh đặt tại 30 nước trên thế giới.
Schenker nổi tiếng về việc cung cấp cho khách hàng các giải pháp vận chuyển
toàn cầu bằng đường hàng không, đường biển cũng như các dòch vụ liên quan khác
kèm theo. Schenker đảm nhận vấn đề kho bãi và các dòch vụ liên quan được mở
rộng phục vụ cho việc điều hành kho bãi và giao nhận.
22
Schenker Việt Nam được thành lập vào năm 1990 và là một trong những
công ty giao nhận vận chuyển quốc tế đầu tiên hoạt động tại Việt Nam. Schenker
Việt Nam do Công ty cổ phần đại lý liên hiệp vận chuyển (Germadept) làm đại lý.
Sau hơn 12 năm hoạt động, Shenker Việt Nam đã và đang phát triển thành một
trong những công ty vận chuyển hàng đầu tại Việt Nam, Schenker Việt Nam cung
cấp tất cả các dòch vụ liên quan đến vận chuyển hàng xuất và nhập khẩu bằng
đường biển và đường hàng không từ khắp mọi miền của Việt Nam.
Trong hoạt động Logistics, Schenker cung cấp chuỗi rộng lớn dòch vụ gía trò
tăng thêm với cùng một điểm chung nhất là: thiết lập giải pháp hiệu quả cho khách
hàng, thiết lập và tổ chức hoạt động của chuỗi cung ứng tối ưu cho khách hàng.
Thông thường những hoạt động này bao gồm hoạt động kho bãi, vận tải, đóng gói,
phân phối và cả lắp ráp theo đơn đặt hàng của khách hàng. Thêm vào đó,
Schenker có dòch vụ thiết kế chuỗi Logistics phù hợp với từng khách hàng.
Về hệ thống thông tin, Schenker sử dụng mối quan hệ khách hàng trực tuyến
thông qua Internet, chúng ta nghiên cứu website của Schenker tại đòa chỉ
www.btl.se/english/schenker_btl.html để thấy được những dòch vụ mà công ty cung
cấp trên Internet. Cấu trúc của website như trong phụ lục 1.
Chúng ta thấy Schenker cung cấp chuỗi dòch vụ trực tuyến bao gồm: Báo
giá, theo dõi hàng hóa, lòch tàu và cả hệ thống booking trực tuyến.
Quản lý hệ thống kho cũng là một trong những nghiệp vụ quan trọng để hoạt
động Logistics diễn ra hiệu quả. Hãy xem xét hoạt động kho của Schenker để có
thể thấy được quy trình quản lý kho của một công ty Logistics hàng đầu như thế
nào. Dưới đây là sơ đồ khái quát quy trình hoạt động kho của Schenker trong hoạt
động nhập và xuất kho của dây chuyền Logistics toàn cầu (Phụ lục 1)

kiện, giao dòch trực tuyến và chuyển phát nhanh (bao gồm cả khai báo hải quan).
Mặc dù vậy dòch vụ này vẫn chưa có ở Việt Nam. Tháng 10 năm 1999, DHL cũng
đã đưa ra dòch vụ DHL WAP Track, là dòch vụ theo dõi hàng hoá đầu tiên được
thiết kế đặc biệt sử dụng WAP để có thể dùng cho điện thoại di động.
1.5.3 Maersk (tham khảo thêm phụ lục 2)
Maersk Line là công ty vận tải biển toàn cầu thuộc tập đoàn A.P. Moller.
Bên cạnh hoạt động vận tải biển, tập đoàn này còn hoạt động trong các lónh vực
khác như dầu khí, đóng tàu, hàng không, công nghiệp, siêu thò,…. Maersk Line có
chi nhánh văn phòng tại hơn 95 quốc gia trên thế giới. Việc quản lý văn phòng chi
nhánh ở các nước được phân theo khu vực: châu Âu, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, châu Á và
châu Phi. Mỗi khu vực chòu trách nhiệm báo cáo trực tiếp cho tổng công ty mẹ đặt
tại Copenhagen, Đan Mạch.
Tập đoàn A.P. Moller sở hữu hơn 250 con tàu trong đó khoảng 100 tàu
container và 300.000 container đảm bảo cho Maersk Line hoạt động bao trùm khắp
thế giới. Các tàu feeder cũng như đội xe tải, xe lửa riêng của nó cho phép Maersk
Line cung cấp dòch vụ door-to-door cho các khách hàng của mình.
Khoảng 10 khách hàng lớn nhất đem lại 70 – 80% doanh thu cho Mearsk, 20
– 30% doanh số còn lại đem đến từ số lượng rất lớn các khách hàng nhỏ.
Maersk Logistics ra đời vào năm 2000, hiện nay Maersk Logistics có khoảng
200 văn phòng ở 70 quốc gia trên thế giới. Maersk Logistics hiện có 4 văn phòng
24
đại diện tại Việt Nam trong đó văn phòng tại thành phố Hồ Chí Minh do Saigon
Shipping làm đại lý. Hiện nay, Maersk Logistics Việt Nam là một trong những
công ty Logistics hàng đầu tại Việt Nam, là một trong số ít các công ty có khả năng
cung cấp đầy đủ mọi dòch vụ Logistics cho khách hàng (full range of Logistics
services).
Maersk Logistics Việt Nam hiện có khả năng cung cấp cho khách hàng các
dòch vụ sau đây:
+ Quản trò dây chuyền cung ứng (Supply Chain Management)
+ Giao nhận vận tải hàng hóa quốc tế (Forwarding & Transportation)

khách hàng. MCS là hệ thống tin hữu hiệu với nhiều chức năng giúp người sử dụng
tiết kiệm thời gian và trao đổi thông tin nhanh chóng. MCS được hầu hết các nhân
viên Maersk Logistics sử dụng trong công việc hàng ngày.
Operations & Documentation execution System (MODS):
MODS là một trong những hệ thống quan trọng nhất của Maersk Logistics.
MODS được sử dụng để quản lý đơn đặt hàng của khách hàng. Hệ thống này có
thể nhận biết ngay được số đơn đặt hàng (Purchase Order - PO) vừa được cập nhật
là đúng hay sai; cập nhật và lưu trữ số liệu của tất các PO được cung cấp trước từ
khách hàng (PO Upload). Cũng nhờ MODS, công ty có thể biết rõ nhà cung cấp có
cung cấp đủ số hàng theo yêu cầu hay chưa? Giao hàng mấy lần? Vào những thời
điểm nào?
Hệ thống MODS có nhiều chương trình nhỏ để phục vụ cho quá trình làm hàng như
nhận yêu cầu xếp hàng (Shipping Order); nhận hàng vào kho (Cargo Receiving);
hàng được xếp lên chuyến bay/tàu (Container Stuffing); vận đơn (B/L); tính cước
phí; chứng từ được gửi đi (Shipping Advice) và nhiều chương trình khác đảm bảo
theo dõi được lô hàng trong suốt quá trình vận chuyển từ khi Maersk Logistics nhận
được yêu cầu của người gửi hàng cho đến khi hàng được giao đến tay người nhận.
Online Booking & Docummentation system for Shipper (M*power Shipper):
Đây là công cụ chính được Maersk Logistics sử dụng trong chiến lược phát
triển thương mại điện tử của mình. Hệ thống này cho phép các khách hàng của
công ty gửi những yêu cầu xếp hàng/đặt chỗ (Booking note) qua mạng Internet rất
nhanh chóng và tiện lợi. Hình thức đặt chỗ này sẽ thay thế dần cho việc gửi yêu
cầu xếp hàng/đặt chỗ theo phương pháp truyền thống: qua fax hay điện thoại.
Client Visibility Tool (M* power):
Hệ thống Startrack được thiết kế để đáp ứng nhu cầu kiểm tra tình trạng
hàng hoá của khách hàng, theo dõi lòch trình của hàng hóa, nhận biết vò trí hàng
hoá đang ở đâu trong quá trình vận chuyển. Khách hàng có thể tìm kiếm thông tin
trong hệ thống bằng cách nhập một trong các số liệu: số đơn đặt hàng, số vận đơn,
số container, ngày khởi hành... v.v.
Global airfreight system (Axsfreight):


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status