1
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
OBO
OKS
.CO
M
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHÈO ĐÓI
1.1. Khái niệm nghèo đói
1
1.2. Các phương pháp xác đònh đối tượng nghèo hiện nay
3
1.3. Nguyên nhân của nghèo đói
6
1.4. Những nét chính về tình hình nghèo đói trên thế giới và ở Việt Nam
13
Chương 2: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ ĐIỀU TRA VỀ THỰC TRẠNG NGHÈO
ĐÓI VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH
THUẬN
2.1. Đặc điểm đòa bàn nghiên cứu
26
2.2. Phương pháp phân tích
28
2.3. Mô hình kinh tế lượng
30
3.5.
3.6.
KI L
MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO VÀ NÂNG CAO MỨC
SỐNG DÂN CƯ Ở NINH THUẬN
Việc làm
Đất đai
Vay vốn
Dân tộc
Quy mô hộ
Giáo dục
Kết luận
71
74
75
77
78
79
81
2
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Mục tiêu của nghiên cứu bao gồm ba phần: Phần thứ nhất là đánh giá tình trạng
nghèo thông qua các đặc điểm của hộ như nghề nghiệp, học vấn, dân tộc… đồng
thời phải chỉ ra được mức độ nghèo của các hộ gia đình ở Ninh Thuận thông qua
các chỉ tiêu chuẩn về mức sống như nhà ở, nguồn nước, điện, nhà vệ sinh... Phần
thứ hai là xác đònh được những yếu tố có tác động đến nghèo và đònh lượng tác
động độc lập của từng yếu tố đó. Cuối cùng là cung cấp một số gợi ý cho chính
sách từ kết quả phân tích. Riêng về mặt ứng dụng, nghiên cứu này ngoài việc
cung cấp những gợi ý làm cơ sở cho việc lựa chọn chiến lược phát triển, nó còn
tổng hợp lại phương pháp dùng để đònh lượng nghèo. Đồng thời nghiên cứu cũng
gián tiếp chỉ ra các hướng nghiên cứu kế tiếp để những nghiên cứu sau lựa chọn
nhằm đạt được hiệu quả ứng dụng cao.
Trong nghiên cứu này, tác giả dùng phương pháp mô tả thống kê và lập mô hình
kinh tế lượng để phân tích nghèo. Bộ số liệu dùng trong nghiên cứu được điều
tra lấy mẫu trực tiếp ở Ninh Thuận. Phần mềm SPSS11.5 và Eview3.0 được sử
dụng để lập bảng biểu và chạy mô hình.
3
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
OBO
OKS
.CO
M
Nghiên cứu gồm có ba chương. Chương 1 trình bày những nét tổng quan về
nghèo đói. Trong phần này, ngoài những khái niệm, còn có điểm qua thực trạng
nghèo khổ của các nước trên thế giới và Việt Nam. Chương 2 là phần quan trọng
hộ gia đình nghèo, trung bình một hộ có 5,72 người. Do đó, không có gì ngạc
nhiên khi tỷ lệ phụ thuộc trong nhóm này ở mức cao, là 2,47 người/hộ.
Các hộ gia đình trong mẫu đều có nhà nhưng đa phần không kiên cố, 61,5% hộ
sống trong nhà mà mái lợp bằng lá hoặc tôn, 28,1% hộ sống trong nền nhà bằng
đất, tức không có vật liệu nào để lát. Nguồn nước sử dụng cho sinh hoạt ở Ninh
Thuận rất đa dạng và không có sự phân biệt giữa người nghèo với người giàu
4
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
OBO
OKS
.CO
M
trong khả năng tiếp cận nguồn nước. Đáng lưu ý là tỷ lệ 36,3% hộ dân sử dụng
nước sông, suối làm người nước chính. Một đặc điểm khá ngộ nghónh là có rất
nhiều hộ gia đình ở Ninh Thuận không có nhà vệ sinh mà không phân biệt giàu
nghèo, con số 59,8% đã cho thấy điều này. Về nguồn điện, có 92,4% hộ được sử
dụng điện. Đây là con số tương đối khả quan nhưng chưa phản ánh được tổng thể
do thiếu các hộ ở vùng sâu, vùng cao.
Có ít hơn một nửa hộ nghèo có đất. Mà nếu có thì diện tích cũng rất nhỏ và
thường là cho thuê hoặc không canh tác. Nhiều hộ nghèo được vay vốn nhưng số
vốn nhỏ và không dùng cho sản xuất nên hầu như không trả được nợ. Theo đánh
giá của chính các hộ thì ít đất và thiếu vốn là hai khó khăn lớn nhất đối với quá
trình canh tác cũng như làm ăn của họ.
Kết của cả hai mô hình kinh tế lượng đều cho thấy tình trạng đói nghèo ở Ninh
5
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
OBO
OKS
.CO
M
Cũng như bất kỳ một nghiên cứu nào, nghiên cứu nghèo đói cũng có
những thuận lợi và khó khăn riêng. Thuận lợi là ở chỗ vấn đề nghèo đang được
sự quan tâm rất lớn của người dân nên nghiên cứu viên dễ dàng nhận được sự
ủng hộ và giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu. Hơn nữa là tài liệu tham khảo khá
phong phú, từ lý thuyết cơ sở đến thực tiễn, cả trong và ngoài nước. Khó khăn
gặp phải thường xảy ra trong quá trình thực hiện điều tra phỏng vấn. Thiếu
nguồn lực để thực hiện điều tra một cách đầy đủ. Mẫu điều tra không được thực
hiện ở vùng núi cao hoặc vùng quá sâu. Điều này ít nhiều ảnh hưởng đến tính
đại diện của số liệu điều tra.Với những thuận lợi cũng như khó khăn nêu trên,
tác giả đã nỗ lực hết sức để hoàn thành bài viết này. Kết quả nghiên cứu là một
đóng góp nhỏ về mặt thực tiễn nghèo đói ở đòa phương. Từ đó, tác giả hy vọng
rằng các nhà hoạch đònh chiến lược phát triển ở Ninh Thuận sẽ có cơ sở rõ ràng
khi quyết đònh lựa chọn chiến lược.
KI L
Cuối cùng, tác giả rất mong nhận được những ý kiến trao đổi và đóng góp.
6
Tương tự với quan điểm trên là quan điểm của nhà kinh tế học người Mỹ
Galbraith: “Con người bò coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù khi
thích đáng để họ tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập của cộng đồng. Khi
đó, họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như là cái cần thiết
tối thiểu để sống một cách đúng mức.” (Bộ LĐTBXH, 2003)
KI L
Một khái niệm khác nhưng cụ thể hơn về nghèo đói được đưa ra tại hội
nghò Thượng đỉnh thế giới và phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan
Mạch năm 1995: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1
đô la (USD) một ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản
phẩm thiết yếu để tồn tại.”
Riêng Ngân hàng thế giới, qua thời gian cũng có những cách tiếp cận
khác nhau về nghèo trong các báo cáo của mình. Trong Báo cáo năm 1990, đònh
nghóa nghèo đói của tổ chức này bao gồm tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và
dòch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng. Đến năm 2000/2001, Báo cáo
đã thêm vào khái niệm những nét mới như tình trạng bò gạt ra bên lề xã hội hay
tình dễ bò tổn thương: “Xét về mặt phúc lợi, nghèo có nghóa là khốn cùng.
7
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
OBO
OKS
.CO
M
không đủ đất đai sản xuất, không có trâu bò, không có Tivi, con cái thất học, ốm đau
không có tiền đi khám chữa bệnh… “
Một người nghèo ở Việt Nam
Tóm lại, tất cả những quan niệm về nghèo đói nêu trên đều phản ánh ba
khía cạnh chủ yếu của người nghèo:
• Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư.
• Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con
người
• Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.
8
1.2.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Các phương pháp xác đònh đối tượng nghèo hiện nay:
Các phương pháp sử dụng nhằm đo mức độ nghèo và xác đònh đối tượng
nghèo ở Việt Nam có thể được phân loại thành những nhóm sau:
OBO
OKS
.CO
M
• Chi tiêu của hộ
ba bước chính. Bước thứ nhất là xác đònh một loạt các biến số chung giữa cuộc
điều tra chi tiết và cuộc tổng điều tra dân số cùng thời kỳ. Thứ hai, tiến hành
phân tích thống kê để đánh giá mối quan hệ giữa mức chi tiêu bình quân đầu
người với những biến số này. Bước thứ ba là dùng những kết quả phân tích để
“dự báo” chi tiêu của hộ có trong tổng điều tra dân số. Mức chi tiêu dự báo này
dùng để đánh giá xem một hộ có nghèo hay không. Về mặt này, vẽ bản đồ vẫn
9
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
OBO
OKS
.CO
M
là một phương pháp dựa vào chi tiêu, nhưng nó dựa vào mức chi tiêu dự báo, chứ
không phải là chi tiêu thực tế của hộ. Phương pháp vẽ bản đồ nghèo cho phép
tính được tỷ lệ nghèo ở cấp thấp, được đo bằng tỷ lệ hộ nghèo trong tổng điều
tra dân số của mỗi tỉnh, huyện, thậm chí cả xã. Nhưng phương pháp này cũng
không thực sự là hoàn hảo bởi lẽ chi tiêu dự báo chỉ có thể ước tính với sai số.
• Phương pháp dựa vào thu nhập
Việc áp dụng nghiêm ngặt phương pháp tính theo thu nhập do Bộ
LĐTBXH đưa ra để đo mức nghèo có thể xếp vào loại này. Trên nguyên tắc,
phương pháp của Bộ LĐTBXH dựa trên điều tra gồm những câu hỏi về tài sản
và về thu nhập từ các nguồn khác nhau. Thu nhập từ tất cả các nguồn này được
cộng lại, chia cho số người trong hộ, và so sánh với một trong ba chuẩn nghèo
10
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
OBO
OKS
.CO
M
bệnh được phát. Những hộ được coi là không nghèo thường không tham gia hội
đồng này vì họ ít có khả năng nhận được lợi ích gì. Nhiều khi, số kinh phí có
được không cho phép phân bổ những khoản trợ giúp cho tất cả những hộ được
xếp vào diện nghèo. Do đó, vấn đề là bàn xem ai sẽ nhận được những khoản trợ
giúp đó, cộng thêm những đánh giá chủ quan của hộ khác, ngoài những con số
về thu nhập. Phương pháp của Bộ LĐTBXH chỉ được sử dụng mỗi khi không đạt
được sự nhất trí liệu một hộ này hay một hộ khác sẽ được nhận trợ giúp.
Nhược điểm của phương pháp này là thiếu một quy tắc chặt chẽ để xác
đònh hộ nghèo và liệu việc thảo luận ở cấp thôn có thực sự thành công trong việc
xác đònh ai là người cần trợ giúp nhất hay không vẫn là một câu hỏi còn bỏ ngỏ.
Một nhược điểm nữa là nó hoàn toàn loại bỏ một số hộ ra khỏi việc xem xét
phân loại. Những hộ bò coi là không chòu chăm chỉ lao động hoặc không có trách
nhiệm xã hội hiếm khi nhận được trợ giúp, và thậm chí còn không được liệt vào
danh sách các hộ nghèo. Trên thực tế, việc không trợ giúp những hộ này có thể
gây thiệt thòi cho con cái của họ, những người hoàn toàn không có lỗi trong việc
cha mẹ chúng nghiện rượu hay không chòu làm việc.
• Xếp hạng giàu nghèo
KI L
Nguyên nhân của nghèo đói
OBO
OKS
.CO
M
Hiện rất khó để có thể chỉ ra được tất cả những nguyên nhân của nghèo.
Và cũng khó để phân biệt trong những yếu tố cơ bản có ảnh hưởng đến nghèo
thì đâu là nguyên nhân còn đâu là kết quả, cũng như sự tác động qua lại của
chúng đến khả năng thoát nghèo của người nghèo. Tuy nhiên nhìn chung thì
nghèo ở Việt Nam cũng có những nét riêng biệt được tạo nên từ nhiều nguyên
nhân tổng hợp có nguồn gốc từ những khác biệt về điều kiện tự nhiên, điều kiện
kinh tế-xã hội và điều kiện lòch sử. Những kết quả nghiên cứu về nghèo trước
đây đã chỉ ra những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng nghèo ở Việt Nam
như sau:
1.3.1. Nghề nghiệp, tình trạng việc làm và trình độ học vấn
• Nghề nghiệp gắn với sản xuất nông nghiệp
KI L
Xuất phát từ một nước có nền nông nghiệp lạc hậu, dân số sống tập trung
chủ yếu ở nông thôn (theo Niên giám thống kê năm 2002 tỷ lệ này là 74,89%)
và sản xuất chủ yếu là thuần nông, do đó đại bộ phận dân cư phải đối mặt với
những khó khăn thường gặp trong sản xuất nông nghiệp như thiên tai, dòch bệnh,
sâu bọ. Bên cạnh đó, tỷ lệ tăng dân số cao trong một giai đoạn dài trước đó càng
làm cho đời sống người dân, đặc biệt là người dân sống ở nông thôn thêm khó
khăn. Vùng sinh sống và nghề nghiệp vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của
những yếu tố khác như: trình độ học vấn, thiếu khả năng tiếp cận thông tin thò
• Trình độ học vấn thấp, thiếu kỹ năng làm việc và thông tin
Những người nghèo là những người có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội
kiếm được việc làm tốt, ổn đònh. Mức thu nhập của họ hầu như chỉ đủ để ăn và
do vậy không có điều kiện để học tập nâng cao trình độ nhằm vươn lên thoát
nghèo. Bên cạnh đó, trình độ học vấn thấp còn ảnh hưởng đến các quyết đònh có
liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái…Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ
em và trẻ sơ sinh cao, khả năng đến trường của trẻ em gia đình nghèo thấp sẽ
làm cho các giải pháp thoát nghèo thông qua giáo dục trở nên khó khăn hơn.
Bảng 1.1: Trình độ học vấn của người nghèo ở Việt Nam 1998
Trình độ học vấn cao nhất
Tỷ lệ nghèo (%)
57
Không được đi học
42
Tiểu học
38
Phổ thông cơ sở
25
Phổ thông trung học
19
Dạy nghề
4
Đại học
37
Tổng cộng
Nguồn: ĐTMSDC98, Tổng cục thống kê (1999)
Tỷ lệ tính trong tổng
Cụ thể là tạo ra khả năng tiếp cận những vấn đề liên quan tới việc tiếp thu các
kiến thức kỹ thuật, kỹ năng làm việc và nắm bắt thông tin. Các nghiên cứu đói
nghèo có sự tham gia của người dân (PPA) trước đây đã cho thấy rằng những hộ
thuộc nhóm khá giả là những hộ thường xuyên tiếp xúc với cán bộ khuyến nông,
quan hệ với những người ở ngoài cộng đồng, tiếp cận với thông tin và với các
phương tiện truyền thông đại chúng.
13
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
1.3.2. Thiếu khả năng tiếp cận các nguồn lực
• Thiếu đất
OBO
OKS
.CO
M
Người nghèo thường thiếu nguồn lực nhưng không có khả năng tiếp cận
nguồn lực. Không có nguồn lực để đầu tư, người nghèo lại càng nghèo hơn. Do
đó, họ thường rơi vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói và thiếu nguồn lực.
Hầu hết người dân Việt Nam sống bằng nông nghiệp cho nên diện tích và
chất lượng đất đóng vai trò quyết đònh đến mức sống của hộ. Không có đất,
thiếu đất, đất đai xấu hoặc không có quyền canh tác trên đất sẽ ngăn các hộ
phát triển các hoạt động nông nghiệp và đó là lý do khiến cho nhiều hộ nông
dân rơi vào hoàn cảnh không thể sản xuất đủ lương thực hoặc tạo ra thu nhập đủ
3928
4625
Diện tích trồng cây lâu năm
613
845
1016
Nguồn: Ngân hàng thế giới ước tính dựa trên số liệu ĐTMSDC98
• Hạn chế tiếp cận các nguồn tín dụng chính thức
Khá giàu
6928
Giàu
9856
4414
1485
5081
3527
14
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
OBO
OKS
KI L
Bất bình đẳng giới làm sâu sắc hơn tình trạng đói nghèo trên tất cả các
mặt. Ngoài những bất công mà cá nhân người phụ nữ và trẻ em gái phải gánh
chòu thì còn có những tác động bất lợi đối với gia đình.
Phụ nữ chiếm gần 50% trong tổng số lao động nông nghiệp và chiếm tỷ
trọng cao trong số lao động tăng thêm hàng năm trong ngành nông nghiệp. Thế
nhưng chỉ có 25% phụ nữ tham gia các khóa khuyến nông về chăn nuôi và 10%
Tham khảo (Phạm Vũ Lửa Hạ, 2003 trong Làm gì cho nông thôn Việt Nam?), (Trần Văn Bích, 1999
trong Hộ gia đình Việt Nam nhìn qua phân tích đònh lượng) và Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và
xóa đói giảm nghèo của Việt Nam 11/2003.
1
15
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
các khóa khuyến nông về trồng trọt (Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa
đói giảm nghèo của Việt Nam 11/2003).
OBO
OKS
.CO
M
là do họ không có kiến thức cũng như điều kiện tiếp cận với các biện pháp sức
khỏe sinh sản. Tỷ lệ phụ nữ cũng như nam giới sử dụng biện pháp tránh thai
chưa cao. Mức độ hiểu biết của các cặp vợ chồng nghèo về vệ sinh, an toàn tình
dục, cũng như mối liên hệ giữa tình trạng nghèo đói, sức khỏe sinh sản và gia
tăng nhân khẩu còn hạn chế.
Cũng theo chu kỳ của đời sống gia đình thì những hộ mới tách riêng có
khả năng nghèo nhiều hơn, đặc biệt là những hộ sinh sống bằng nông nghiệp.
Ban đầu các hộ này thường phải nhờ vào sự giúp đỡ của gia đình để sử dụng đất
16
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
OBO
OKS
.CO
M
nông nghiệp nhưng thường là diện tích đất nhỏ hoặc kém chất lượng. Trong khi
đó cơ hội làm ăn phi nông nghiệp lại ít. Mức tăng thu nhập dưới dạng tiền công
làm thuê thường rất thấp và không ổn đònh. Điều này không cho phép họ có đủ
khả năng trang trải cho nhu cầu tiêu dùng tối thiểu.
Những hộ bò mất đi lao động chính do bò chết, bỏ gia đình đi hay tách hộ
cũng thường được xếp vào nhóm hộ nghèo nhất (Báo cáo phát triển Việt Nam
2000, tr.24). Số liệu của ĐTMSDC 1998 cho thấy những hộ này thường là có chủ
hộ là nữ và phụ nữ sống độc thân phần lớn là nghèo hơn so với nam giới sống
độc thân.
1.3.4. Sự cách biệt với xã hội
17
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
OBO
OKS
.CO
M
này sống ở vùng cao, vùng sâu (trừ người Hoa chủ yếu sống ở các khu đô thò). Ở
những vùng này, sự xa xôi cách trở, thiếu cơ sở hạ tầng, sự cô lập về đòa lý và
xã hội càng trầm trọng hơn rất nhiều. Đó là chưa kể đến sự khác biệt về văn
hóa, ngôn ngữ hay đònh kiến của người dân đối với người dân tộc. Do đó, họ dễ
bò tách biệt khỏi xã hội nhiều hơn người Kinh, dẫn đến tỷ lệ học sinh đi học và
biết chữ thấp, đặc biệt là an ninh lương thực không đảm bảo bởi thời tiết thất
thường cộng với năng suất sản xuất thấp do thiếu kỹ năng canh tác. Chính vì thế,
những hộ thuộc nhóm dân tộc ít người nghèo hơn rất nhiều so với đa số người
Kinh.
chỉ số đếm đầu người (%)
Hình 1.1: Tỷ lệ nghèo theo thành phần dân tộc (%)
100
80
60
40
tộc ít người cao hơn gấp 2 lần so với người Kinh (75% so với 31%). Tốc độ giảm
nghèo của nhóm dân tộc thiểu số ở giai đoạn 1993-1998 cũng chậm hơn (11% so
với 23%). Gay gắt hơn, số liệu ĐTMSHGĐ 2002 cho thấy tỷ lệ nghèo đói của
các dân tộc ít người là gấp 3 lần so với người Kinh. Sở dó có tình trạng như vậy
là do trong khoảng thời gian từ 1998-2002, tốc độ giảm nghèo ở nhóm dân tộc
thiểu số vẫn tiếp tục chậm hơn (6% so với 8%).
Những nét chính về tình hình nghèo đói trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1. Tình hình nghèo đói trên thế giới
Thế giới có một sự đói nghèo sâu sắc xen lẫn sự giàu có (World
Development Report 2000/2001). Đó có lẽ là nghòch lý lớn nhất trong một xã hội
toàn cầu vốn được xem là ngày càng văn minh, hiện đại và dân chủ hơn. Trong
số 6 tỷ người của thế giới thì có 2,8 tỷ người sống dưới mức 2 USD một ngày và
18
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
OBO
OKS
.CO
M
1,2 tỷ người (tức một phần năm) sống dưới mức 1 USD một ngày, 44% số này
sống ở Nam Á. Trong khi ở các nước giàu, trung bình trong 100 đứa trẻ có chưa
đến một trẻ không sống được đến tuổi thứ 5 thì ở những nước nghèo nhất tỷ lệ
này là một phần năm. Tỷ lệ trẻ em bò suy dinh dưỡng ở những nước giàu có chưa
đến 5% nhưng con số này ở nước nghèo lên tới 50%.
chuyển sang nền kinh tế thò trường, số người sống dưới mức 1 USD một ngày đã
tăng hơn 20 lần.
19
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
OBO
OKS
.CO
M
Bảng 1.3: Đói nghèo theo thu nhập, phân theo vùng trong một số năm, giai đoạn 1987-1998
Số người sống dưới 1 USD một ngày (triệu)
Vùng
1987
1990
1993
1996
1998a
287,3
265,1
431,9
452,4
417,5
Đông Á và Thái Bình Dương
65,1
55,1
273,3
242,3
217,2
Nam Sahara châu Phi
1.198,9
1,190,6
1.304,3
1.276,4
1.183,2
Tổng
985,7
980,5
955,9
915,9
879,8
Trừ Trung Quốc
Số người sống dưới 1 USD một ngày (%)
Vùng
1987
1990
1993
1996
1998a
15,3
14,9
25,2
27,6
26,6
Đông Á và Thái Bình Dương
11,3
48,6
49,7
47,7
46,6
Nam Sahara châu Phi
24,0
24,5
28,1
29,0
28,3
Tổng
26,2
27,0
27,7
28,1
28,5
Trừ Trung Quốc
a. Tính sơ bộ
Nguồn: Ngân hàng thế giới 2000a
Từ năm 1987 đến năm 1998, tỷ lệ dân số của các nền kinh tế đang phát
triển và đang chuyển đổi sống dưới mức 1 USD một ngày đã giảm từ 28% xuống
còn 24%. Mức giảm này thấp hơn mục tiêu quốc tế đề ra là đến năm 2015 giảm
được một nửa số người nghèo cùng cực theo thu nhập.
KI L
Do tăng trưởng dân số nên khó thay đổi số người sống trong cảnh đói
nghèo. Nhưng kết quả đạt được cũng khác nhau xa giữa các khu vực. Đông Á,
Trung Đông và Bắc Phi đều đã giảm được số người nghèo, giảm mạnh nhất là
Châu Phi
Châu Phi
Hạ Sahara
Hạ Sahara
24,3%
18,4%
Nam Á
Nam Á
43,5%
40,1%
Đôn g Á
và Thái
Trung
Châu Âu
Đôn g và
Bắc Phi
0,8%
2%
vùn g
và Thái
Bình
Dương
23,2%
Caribê
6,5%
Nguồn: Báo cáo về tình hình phát triển thế giới 2000/2001
Các chỉ số xã hội ở các nước đang phát triển nói chung đều đã được cải
thiện trong ba thập kỷ qua. Ví dụ như tỷ lệ tử vong ở trẻ em đã giảm từ 107 trẻ
trên 1.000 ca sinh năm 1970 xuống còn 59 năm 1998. Nhưng mức giảm từ năm
1990 đến năm 1998 chỉ còn 10%, trong khi muốn đạt được mục tiêu phát triển
quốc tế thì con số này phải là 30%.
KI L
Những con số tổng hợp này cũng khác nhau ở mỗi vùng trên thế giới.
Tuổi thọ bình quân ở Nam Sahara châu Phi vẫn chỉ ở mức 52 năm, ít hơn 13 năm
so với mức trung bình của các nước đang phát triển, ít hơn 25 năm so với mức
trung bình của OECD. Một trong những nguyên nhân chính là tỷ lệ tử vong cao
đến mức không chấp nhận được ở vùng này, 90 trên 1000 dân. Tỷ lệ này ở Nam
Á cũng rất cao (77). Các con số này đều vượt quá mức trung bình của OECD là 6
trên 1000 dân. Đại dòch AIDS càng làm vấn đề trầm trọng hơn, khiến tỷ lệ tử
vong trẻ em tăng mạnh ở nhiều nước châu Phi. Từ năm 1990 đến năm 1997, tỷ
lệ tử vong trẻ em đã tăng từ 62 lên đến 74 ở Kênia và từ 52 lên đến 69 ở
Đấu tranh chống nghèo đói hiện đang là vấn đề rất cấp bách không chỉ
của riêng một vùng hay một quốc gia nào mà còn là của toàn thế giới. Điều này
xảy ra vì hai nhu cầu bức thiết chính: Một là, nghèo đói ở từng vùng, từng quốc
gia đang ngày ngày đe dọa đến sự ổn đònh và an toàn xã hội. Muốn tránh được
xung đột xã hội có thể xảy ra, mỗi vùng hay mỗi quốc gia phải quan tâm đến
việc giảm nghèo khổ, điều hòa lợi ích giữa các nhóm dân cư không để khoảng
cách giàu nghèo quá lớn, quá sức chòu đựng của xã hội. Hai là, xu thế toàn cầu
hóa đang buộc các quốc gia phải mở rộng tính dân chủ. Khẩu hiệu chung về một
xã hội công bằng có trật tự kinh tế và phân phối tiến bộ khiến cho các quốc gia
phải có những chính sách, những hành động cụ thể để hội nhập.
Vì vậy, một mặt việc xóa đói giảm nghèo là trách nhiệm của chính phủ
từng nước; mặt khác, các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ
tiền tệ quốc tế (IMF), Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA), chương trình phát triển
của Liên hiệp quốc (UNDP)… giữ vai trò quan trọng giúp các quốc gia giảm bớt
gánh nặng nghèo đói.
KI L
Biện pháp đầu tiên thường được sử dụng là chu cấp các khoản vay có gắn với
các điều kiện giải ngân theo các chương trình xóa đói giảm nghèo. Đây được đánh
giá là một biện pháp trực tiếp và có nhiều yếu tố tích cực nếu quá trình tổ chức thực
hiện hạn chế được lãng phí và tham nhũng của các quan chức trung gian.
Tiếp theo đó là những nỗ lực của các quốc gia công nghiệp phát triển.
Hội nghò thượng đỉnh Rio năm 1992 đã đề ra một công ước chung, theo đó viện
trợ phát triển cho các quốc gia nghèo thuộc thế giới thứ ba cần phải chiếm 0,7%
tổng sản phẩm xã hội của các quốc gia công nghiệp phát triển với mục tiêu đóng
góp vào việc giảm số người nghèo trên thế giới. Tính đến cuối thế kỷ XX, quốc
gia dẫn đầu về thực hiện Công ước này là Hà Lan và Thụy Điển, họ chi tới trên
0,8% GNP. Các nước khác như Anh đã chi trong năm 1999 là 0,24%, sang năm
KI L
Tuy vậy trên thực tế, hiệu quả đích thực của các biện pháp mà các nước
giàu, cũng như các tổ chức quốc tế đưa ra để giúp đỡ các nước nghèo thường rất
hạn chế và rất không cơ bản. Chẳng hạn các biện pháp đầu tư phát triển và hỗ
trợ thương mại cho các nước nghèo rút cuộc thường làm cho các nước nghèo chòu
nhiều thua thiệt trong “các luật chơi” của thò trường thế giới. Theo BBC ngày
20/5/2001, một báo cáo do Oxfam đưa ra cho thấy, những biện pháp hạn chế về
thương mại mà các nước giàu áp dụng đã làm cho các nước nghèo nhất thế giới
thiệt hại một khoản thu ngoại tệ lớn là 2,5 tỷ USD/năm. Ví dụ, ở Bangladesh, cứ
1 USD nhận được từ viện trợ của Mỹ thì trên thực tế lại bò thiệt hại 7 USD do
những hạn chế thương mại mà Mỹ áp đặt, và còn bò thiệt hại gấp 5 lần như thế
nếu so với 1 USD viện trợ nhận được từ Canada.
Có thể nói rằng, thời gian qua các nước công nghiệp phát triển nhất chỉ
toàn đưa ra những lời hứa hão với các nước nghèo của thế giới thứ ba về viện
trợ, giảm nợ và thương mại. Lời nói còn cách quá xa so với việc làm cụ thể.
Khoảng 11% hàng hóa xuất khẩu của các nước nghèo (LDC) phải chòu mức thuế
quan trên 15%, cao gấp ba lần thuế quan đánh vào hàng hóa cùng loại nhập từ
các nước khác. Các nước công nghiệp phát triển thuộc tổ chức hợp tác và phát
triển kinh tế (OECD) hứa tăng hỗ trợ phát triển cho các nước LDC lên 0,2%
23
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
OBO
OKS
trò và bộ máy chính quyền nhận được sự ủng hộ của nhân dân, họ tích cực tham
gia vào các chương trình hành động của chính phủ. Nhờ đó, nhà nước truyền
thống của Tuynidi vẫn duy trì ổn đònh, phát huy tốt hiệu lực, giảm tệ nạn tham
nhũng…
Có thể nói Tuynidi là điển hình của châu Phi, nhưng nếu so sánh với các
“con hổ” châu Á thì vẫn còn một khoảng cách khá xa, ví dụ như ở Hàn Quốc
• Hàn Quốc
Trước những năm 60, Hàn Quốc có xuất phát điểm là rất nghèo nàn về tài
nguyên thiên nhiên, vốn và công nghệ khi thực hiện chính sách và chiến lược phát
triển kinh tế theo hướng xuất khẩu. Các chính sách và chiến lược ấy đã hứa hẹn
rằng nghèo đói sẽ được loại bỏ trong quá trình tăng trưởng GNP. Kết quả là Hàn
Quốc đã đạt tốc độ tăng trưởng GNP cao kỷ lục khoảng 9%/năm trong suốt thời kỳ
1962-1988. Và nếu căn cứ vào chuẩn nghèo tuyệt đối của năm 1988 được áp dụng
24
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
cho các hộ nông dân là 5525 USD/năm/hộ thì tỷ lệ số hộ nghèo đói năm đó đã giảm
xuống còn 6,5% so với 33,7% năm 1967.
OBO
OKS
.CO
M
Thế nhưng do phát triển kinh tế quá nhanh nên bức tranh nghèo đói tương
đối lại hoàn toàn khác. Chuẩn nghèo đói tương đối áp dụng cho các hộ nông dân
lên trước, xử lý nghèo đói theo sau và đã có những thành công nhất đònh.
• Bangladesh
Là một nước nông nghiệp, dân số khoảng 120 triệu, trên 80% sinh sống
tại nông thôn và bằng nghề nông, thu nhập bình quân đầu người chỉ khoảng 120150 USD năm 1999, trên 50% số hộ nông dân không có ruộng, cuộc sống của
phần lớn trong số họ nằm dưới mức nghèo khổ. Nhưng từ khi xuất hiện hình thức
25
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
• Trung quốc
OBO
OKS
.CO
M
cấp tín dụng cho người nghèo của Grameen Bank (năm 1976), mà người đặt nền
móng là giáo sư Yunus, trường đại học Chittagong, người nghèo ở Bangladesh
đã được hưởng một sự giúp đỡ thật sự hiệu quả.
Theo thống kê đến tháng 10 năm 2003, hai mươi năm sau ngày chính thức
thành lập, Grameen Bank đã có 3,02 triệu người đến vay, trong đó 95% là phụ
nữ. Tổng số khoản nợ còn lưu hành là 262,71 triệu USD, tổng số vốn cho vay
tính từ ngày thành lập là 4,12 tỷ USD trong đó 3,73 tỷ USD đã được hoàn trả lại.
Tỷ số hoàn trả là 99,08%. Grameen Bank cho vay theo nhóm “bạn nợ” mà
không phải thế chấp và áp dụng nhiều lãi suất khác nhau tùy theo mục đích vay
và đối tượng. Làm như thế, ngân hàng này đã dựa trên hai nguyên tắc cơ bản là