MỞ ĐẨU:
Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
nghề thông qua tăng cường sự liên kết giữa các trường dạy nghề
1. Tính cấp thiết của đề tài:
và doanh nghiệp.
Lực lượng lao động lành nghề là yếu tố quan trọng quyết định sự phát triển
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
kinh tế xã hội của mỗi quốc gia dựa trên sự phát triển của sản xuất. Chúng ta
trung
cứusựvềthay
vấnđổi
đề diễn
chất lượng
tạo nghề,
sự triển
liên
đang Luận
sống văn
trongtậpmột
thếnghiên
giới mà
ra từngđào
ngày,
sự phát
kết
giữangừng
các trường
dạy nghề
vớithuật
doanhthúc
nghiệp
hỏi người
lao động phải được đào tạo ở những trình độ lành nghề nhất định.
Về
tập nhiều
trung trường
nghiên dạy
cứu nghề
về chất
lượng
Hiệnkhông
nay, ỏgian:
Việt luận
Namvăn
có rất
đang
thực đào
hiệntạo
đàonghề
tạo
và
sự với
liên quy
kết với
đàocấu
tạongành
nghề tại
15 phong
trườngphú.
dạy nghề
thuộc
luậntrường
văn tập
cứu thực
trongyêu
giaicầu
đoạn
từ
việc.
Một
trong
những
nguyên
nhân
quan
trọng
của
hiện
tượng
này
là
do
thiếu
năm 2003 đến năm 2007. Các giải pháp cho giai đoạn tiếp theo.
sự liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp trong đào tạo nghề. Cung đào tạo
4. Phương pháp nghiên cứu:
do các trường dạy nghề đưa ra chủ yếu dựa trên khả năng của mình mà không
Sử đường
dụng phương
pháp
cứu đạo
của bản
giả chọn
luậntế văn:
“Nâng
lượng
nghềthân,
bằngtácbiện
pháp
đề tài “Nâng cao
chấtcường
lượngsự
đàoliên
tạo kết
nghềgiữa
bằngcác
biệntrường
pháp tăng
kết
tăng
dạy cường
nghề sự
vớiliên
doanh
giữa các trường nghiệp.
dạy nghề với doanh nghiệp” làm luận văn thạc sỹ cho mình.
2. Mục đích nghiên cứu:
Kết cấu luận văn: Ngoài mục lục, lời mở đầu, danh mục chữ viết
Việc nghiên
đề tài
trong
đào
tạo
nghề.
Đồng
thời
luận
văn
cũng
giới
thiệu
tăng cường sự liên kết giữa trường dạy nghề và doanh nghiệp.
một số phương pháp đào tạo nghề và mô hình liên kết đào tạo
+ Chương 2: Phân nghề
tích phổ
thựcbiến
trạng
về Nam
chấtvàlượng
đào tạo và sự liên kết giữa
ở Việt
các nước.
trường và doanh nghiệp tại các trường dạy nghề thuộc dự án giáo dục kỹ thuật
và dạy nghề. Tập trung phân tích và đưa ra những đánh giá, kết luận về chất
lượng đào tạo, mức độ liên kết giữa các trường và doanh nghiệp
CHƯƠNG 1: cơ SỞ LÝ LUẬN VỂ NÂNG CAO CHÂT LƯỢNG ĐÀO
TẠO NGHỂ BẰNG BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG sụ LIÊN KÊT GIỮA
Có rất nhiều cách phân loại đào tạo nghề, tuỳ theo mỗi loại tiêu thức ta có
thể phân loại đào tạo nghề thành các loại hình khác nhau. Trong phạm vi bài
này chỉ xét hai tiêu thức phân loại như sau:
• Căn cứ vào thời gian đào tạo nghề:
- Đào tạo ngắn hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo dưới
một năm, chủ yếu áp dụng đối với phổ cập nghề. Loại hình này có ưu điểm là có
thể tập hợp được đông đảo lực lượng lao động ở mọi lứa tuổi, những người
không có điều kiện học tập tập trung vẫn có thể tiếp thu được tri thức ngay tại
chỗ, với sự hỗ trợ đắc lực của các cơ quan đoàn thể, địa phương, Nhà nước về
mặt giáo trình, giảng viên...
- Đào tạo dài hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo từ một
năm trở lên, chủ yếu áp dụng đối với đào tạo công nhân kỹ thuật và nhân viên
nghiệp vụ. Đào tạo nghề dài hạn thường có chất lượng cao hơn các lớp đào tạo
ngắn hạn.
• Căn cứ vào nghề đào tạo đối với người học:
- Đào tạo mới: Là loại hình đào tạo nghề áp dụng cho những người chưa
có nghề (đào tạo mới là để đáp ứng yêu cầu tăng thêm lao động có nghề).
- Đào tạo lại: Là quá trình đào tạo nghề áp dụng với những người đã có
nghề song vì lý do nào đó, nghề của họ không còn phù hợp nữa.
- Đào tạo nâng cao: Là quá trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kinh
nghiệm làm việc để người lao động có thể đảm nhận được những công việc
phức tạp hơn.
b) Các hình thức đào tạo nghề.
Các hình thức đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng nhìn chung là
rất phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, về cơ bản đào tạo nghề hiện nay thường
áp dụng
mộttạo
sốnghề
hìnhchính
• Đào tạo nghề tại nơi làm việc (đào tạo trong công việc):
Đào tạo nghề tại nơi làm việc là hình thức đào tạo trực tiếp, trong đó
qua thực tế thực hiện công việc và thường là dưới sự hướng dẫn của những người
lao động có trình độ cao hơn. Hình thức đào tạo này thiên về thực hành ngay
trong quá trình sản xuất và thường là do các doanh nghiệp (hoặc các cá nhân
sản xuất) tự tổ chức.
Chương trình đào tạo áp dụng cho hình thức đào tạo tại nơi làm việc
thường chia làm bai giai đoạn: Giai đoạn đầu, người hướng dẫn vừa sản xuất vừa
hướng dẫn cho học viên; Giai đoạn hai, giao việc làm thử cho học viên sau khi
họ đã nắm được các nguyên tắc và phương pháp làm việc; Giai đoạn ba, giao
việc hoàn toàn cho học viên khi họ đã có thể tiến hành làm việc một cách độc
lập.
Hình thức đào tạo tại nơi làm việc có nhiều ưu điểm như: Có khả năng
đào tạo nhiều người cùng một lúc ở tất cả các doanh nghiệp, phân xưởng; Thời
gian đào tạo ngắn; Không đòi hỏi điều kiện về trường lớp, giáo viên chuyên
trách, bộ máy quản lý, thiết bị học tập riêng... nên tiết kiệm chi phí đào tạo;
Trong quá trình học tập, người học còn được trực tiếp tham gia vào quá trình lao
động, điều này giúp họ có thể nắm chắc kỹ năng lao động.
Nhược điểm cơ bản của đào tạo tại nơi làm việc là: Việc truyền đạt và
tiếp thu kiến thức không có tính hệ thống; Người dạy không có nghiệp vụ sư
phạm nên hạn chế trong quá trình hướng dẫn, việc tổ chức dạy lý thuyết gặp
nhiều khó khăn... nên kết quả học tập còn hạn chế; Học viên không chỉ học
những phương pháp tiên tiến mà còn có thể bắt chước cả những thói quen không
tốt của người hướng dẫn. Vì vậy, hình thức đào tạo này chỉ phù hợp với những
công việc đòi hỏi trình độ không cao.
• Tổ chức các lớp cạnh doanh nghiệp:
Đây là hình thức đào tạo theo chương trình gồm hai phần lý thuyết và
thực hành. Phần lý thuyết được giảng tập trung do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật
Chất lượng là một khái niệm tương đối trừu tượng, cùng với sự phát triển
của xã hội, khái niệm chất lượng cũng có những thay đổi đáng kể. Trước đây,
người ta coi chất lượng là một khái niệm “tĩnh” với tiêu chuẩn chất lượng được
coi là cố định và tồn tại trong một thời gian dài. Ngày nay, khái niệm chất lượng
không được gắn với một tiêu chuẩn cố định nào đó, mà “chất lượng là một hành
trình, không phải là một điểm dừng cuối cùng mà ta đi tới”. Đây là quan niệm
“động” về chất lượng, trong đó chất lượng được xác định bởi người sử dụng sản
phẩm - dịch vụ hay trong nền kinh tế thị trường còn gọi là khách hàng. Khách
hàng cảm thấy thoả mãn khi sử dụng sản phẩm - dịch vụ có nghĩa là sản phẩm dịch vụ đó có chất lượng.
Bên cạnh sự thay đổi về thời gian thì từ những cách tiếp cận khác nhau
cũng dẫn đến những khái niệm khác nhau về chất lượng. Có một số khái niệm
tiêu biểu về chất lượng như:
“Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của
sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó với sự
vật khác, chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật. Chất lượng biểu thị ra
bên ngoài qua các thuộc tính. Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm
một, gắn bó với sự vật như một tổng thể bao quát toàn bộ sự vật và không tách
rời khỏi sự vật. Sự vật khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể mất đi chất
lượng của nó. Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật. về căn
bản, chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn với tính qui định về số lượng của nó
và không thể tồn tại ngoài tính qui định ấy. Mỗi sự vật bao giờ cũng là sự thống
nhất giữa số lượng và chất lượng” - theo từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn
hoá - Thông tin, năm 1999.
“Chất lượng là mức độ mà một tập hợp các đặc trưng vốn có đáp ứng
được các yêu cầu của khách hàng và những người khác có quan tâm” - theo ISO
9000 (năm 2000).
Trên đây là các khái niệm chung về chất lượng mà khi xét cho từng đối
MT: muc tiêu đào tao.
- pp, PT: phương pháp đào tạo, phương tiện phục vụ đào tạo.
- GV: giáo viên và cán bộ quản lý đào tạo.
- HV: học viên.
- ND: nội dung đào tạo.
- csvc, TC: cơ sở vật chất, tài chính phục vụ đào tạo.
- Q: chất lượng đào tạo.
Hệ thống kiểm định quốc gia Việt Nam quan niệm “Chất lượng sẽ được
đánh giá bằng cách khách hàng xếp hạng tầm quan trọng của các đặc trưng
phẩm chất đối nghịch với tính nhất quán và giá trị bằng tiền”. Đào tạo nghề sẽ
đảm bảo, nâng cao chất lượng nếu thực hiện tốt các yếu tố như: đáp úng yêu cầu
của khách hàng; tập trung vào con người và mọi người đóng góp xây dựng tổ
chức của mình; có tầm nhìn dài hạn; quản lý sự thay đổi một cách có hiệu quả;
có đổi mới; hữu hiệu; tổ chức tiếp thị tốt với thị trường.
Xuất phát từ những khái niệm chung về chất lượng và các quan niệm về
chất lượng đào tạo nghề nêu trên, có thể hiểu chất lượng đào tạo nghề với những
điềm cơ bản như sau: “Chất lượng đào tạo nghề là kết quả tác động tích cực
của tất cả các yếu tô cấu thành hệ thông đào tạo nghê và quá trình đào tạo
vận hành trong môi trường nhất định ”.
1.1.3 Các yếu ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề.
Chất lượng giáo dục nói chung và đào tạo nghề nói riêng chịu ảnh hưởng
của nhiều yếu tố bao gồm cả yếu tố khách quan và chủ quan. Có thể phân các
yếu tố chủ yếu thành các nhóm để xem xét như sau:
1.1.3.1Các yếu tố bên trong (yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo nghề):
Đào tạo nghề chịu ảnh hưởng trước tiên là của các nhân tố bên trong của
văn bằng chứng chỉ..nhũng yếu tố này được coi là những yếu tố đảm bảo chất
nghề, bồi dưỡng, nâng bậc thợ). Sự khác biệt này dẫn đến đội ngũ giáo viên dạy
nghề cũng rất đa dạng với nhiều cấp trình độ khác nhau.
Vì vậy, giáo viên dạy nghề phải có đủ cả về số lượng và chất lượng, có đủ
về số lượng thì mới có thể tận tình hướng dẫn, theo sát học viên và đội ngũ giáo
viên có chất lượng thì mới có thể giảng dạy và truyền đạt cho các học viên học
nghề một cách hiệu quả.
Một loại nhân lực khác cũng có ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề
đó là đội ngũ cán bộ quản lý dạy nghề. Trong giai đoạn trước đây, vai trò của
các cán bộ quản lý trong các cơ sở đào tạo không được đánh giá cao, tuy nhiên
trong giai đoạn hiện nay, nhất là trước bối cảnh hội nhập quốc tế và cạnh tranh
trong lĩnh vực dạy nghề đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý phải là những người thực
sự có trình độ. Chất lượng cán bộ quản lý cũng có ảnh hưởng rất lớn đến đào tạo
nghề, thể hiện qua khả năng tổ chức, quản lý, điều phối quá trình đào tạo, tìm
kiếm cơ hội hợp tác, liên kết đào tạo...
* Học viên học nghề:
Học viên học nghề là nhân tố quan trọng nhất, có tính chất quyết định đối
với công tác đào tạo nghề, nó ảnh hưởng toàn diện tới công tác đào tạo nghề.
Trình độ văn hoá, sự hiểu biết, tâm lý, cá tính, khả năng tài chính, quỹ thời
gian... của bản thân học viên đều có ảnh hưởng sâu sắc tới quy mô và chất
lượng đào tạo nghề. Trình độ văn hoá cũng như khả năng tư duy của học viên
càng cao thì khả năng tiếp thu các kiến thức trong quá trình học nghề càng tốt,
khi ấy chất lượng đào tạo nghề càng cao và ngược lại.
* Mục tiêu đào tạo:
Hệ thống mục tiêu đào tạo bao gồm: các mục tiêu ngành, quốc gia; mục
tiêu trường (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn); mục tiêu đáp ứng yêu cầu thực tiễn
của thị trường chung; mục tiêu đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp họp tác đào
càng được nâng cao. Do đó, khi xây dựng mục tiêu đào tạo cần phải có sự khảo
sát, nghiên cứu kỹ lưỡng đối với từng yếu tố.
chính trị, xã hội ... nhất định và cũng chịu sự tác động qua lại của điều kiện môi
trường.
1.1.3.2
Các yếu tố bên ngoài:
Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo nghề bao gồm các
điều kiện môi trường của hệ thống đào tạo nghề. Các yếu tố này ảnh hưởng tới
chất lượng đào tạo nghề với tính chất là điều kiện, hỗ trợ cho hệ thống, hợp với
các yếu tố bên trong thành hệ các yếu tố tác động đến chất lượng đào tạo nghề.
Các yếu tố bên ngoài tác động đến chất lượng đào tạo nghề thuộc nhiều
lĩnh vực khác nhau như: thể chế chính trị, kinh tế - xã hội, khoa học - công
nghệ, địa lý, truyền thống - văn hoá, .... Tuy nhiên cần quan tâm hơn đến một
số yếu tố cơ bản như: Hội nhập kinh tế và xu hướng toàn cầu hoá; Sự phát triển
của khoa học kỹ thuật; Thể chế chính trị; Sự phát triển kinh tế - xã hội; Cơ chế chính sách; Qui mô - cơ cấu lao động; Nhận thức xã hội về đào tạo nghề. Các
1.2 Liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề.
1.2.1 Các nội dung và hình thức liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp
trong lĩnh vực đào tạo nghề.
Liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề đang được
hiểu với nhiều ý nghĩa, khía cạnh khác nhau ở những mức độ khác nhau. Trong
phạm vi luận văn này, khái niệm “liên kết” được hiểu là mọi quan hệ tương tác
giữa nhà trường và doanh nghiệp, hợp thành một hệ thống đào tạo nghề thống
nhất và phù hợp, trong đó chức năng của hệ thống được tích họp từ hai bộ phận
tạo thành là nhà trường và doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
nghề.
1.2.1.1
Liên kết về tổ chức đào tạo.
vào cho nhà trường (mô hình liên kết tại Hàn Quốc).
Căn cứ nhu cầu sử dụng lao động của mình, doanh nghiệp đặt hàng
với nhà trường và chi trả toàn bộ kinh phí đào tạo cho nhà trường. Người lao
động sau khi được đào tạo sẽ làm việc cho doanh nghiệp (việc tuyển sinh có thể
do nhà trường thực hiện hoặc do doanh nghiệp tuyển người và gửi đến trường để
học.
Hàng năm, doanh nghiệp cấp một lượng học bổng nhất định cho
các học viên của trường. Nhà trường sẽ có những ưu tiên trong việc giới thiệu
học viên sau khi tốt nghiệp tới làm việc tại doanh nghiệp.
Doanh nghiệp khi sử dụng học viên đã tốt nghiệp phải nộp cho
trường nghề hoặc cho Nhà nước một khoản thuế (thuế học nghề) bằng 0,5% quỹ
lương của doanh nghiệp. Trong đó, 0,2% cho trường và 0,3% cho cán bộ doanh
nghiệp tham gia đào tạo nghề (mô hình đào tạo kết hợp điển hình tại Pháp).
Trường hợp các học viên đến thực tập tại doanh nghiệp và làm ra
sản phẩm, doanh nghiệp sẽ trích một phần doanh thu đó trả cho nhà trường để
đầu tư trở lại cho đào tạo.
Doanh nghiệp đầu tư thiết bị, phương tiện thực hành cho nhà
trường đối với những nghề mà doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng lao động.
Doanh nghiệp cho nhà trường tận dụng máy móc, thiết bị, nhà
1.2.1.3
Liên kết về nhân sự.
Liên kết về nhân sự bao gồm có liên kết về giáo viên giảng dạy và cán bộ
quản lý đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp.
Đội ngũ giáo viên là yếu tố co bản có tính chất quyết định sự đảm bảo và
nâng cao chất lượng đào tạo. Thông thường, khi kết hợp về mặt giáo viên giữa
nhà trường và doanh nghiệp thì sự kết hợp đó được biểu hiện dưới các hình thức
chuyên gia thực tiễn của các doanh nghiệp. Hình thức liên kết xây dựng chương
trình tiêu biểu là: Căn cứ theo chương trình khung thống nhất của Nhà nước,
nhà trường phối hợp với khối cơ quan quản lý Nhà nước về đào tạo nghề xây
dựng Chương trình đào tạo lý thuyết; phối hợp với các hiệp hội nghề nghiệp,
phòng công nghiệp và doanh nghiệp xây dựng chương trình đào tạo thực hành
có định hướng theo yêu cầu phát triển công nghệ sản xuất của các doanh
nghiệp.
Liên kết xây dựng chương trình đào tạo giữa nhà trường, doanh nghiệp và
cơ quan quản lý của Nhà nước sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề,
đảm bảo mục tiêu “đào tạo những cái xã hội cần chứ không phải đào tạo những
cái mà mình có”.
1.2.1.5
Liên kết về thông tin.
Liên kết về thông tin tức là phải thiết lập các kênh thông tin giữa nhà
trường và doanh nghiệp. Các thông tin về nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp
về số lượng, chất lượng lao động cũng như ngành nghề đào tạo là một trong
những căn cứ để các trường xác định qui mô, cơ cấu đào tạo, nội dung đào tạo.
Đồng thời, các trường cũng dựa vào các thông tin phản hồi của doanh nghiệp
khi sử dụng lao động được đào tạo bởi nhà trường để có những điều chỉnh phù
hợp chương trình đào tạo.
Liên kết về mặt thông tin giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo
nghề có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp. Tiêu
Các doanh nghiệp báo cáo định kỳ về nhu cầu sử dụng lao động tới
cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền hoặc hiệp hội nghề nghiệp hay phòng
công nghiệp. Các trường có thể thu thập thông tin từ các tổ chức này để tổng
hợp và xác định qui mô, cơ cấu ngành nghề đào tạo, xu hướng đổi mới ngành
và một phần là đào tạo theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp khác (nếu đủ
điều kiện). Vì vậy, hầu hết học sinh tốt nghiệp đều được doanh nghiệp bố trí sử
dụng ngay;
- Chương trình đào tạo có thể theo chương trình quốc gia hoặc theo yêu
cầu riêng biệt của doanh nghiệp. Những khoá đào tạo theo chương trình quốc
gia được đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và sau khi tốt nghiệp,
học sinh được cấp bằng tốt nghiệp theo hệ thống văn bằng quốc gia. Đối với
những học sinh được đào tạo theo chương trình của doanh nghiệp sẽ được cấp
giấy chứng nhận tốt nghiệp. Giấy chứng nhận tốt nghiệp có giá trị trong phạm vi
doanh nghiệp và làm căn cứ để thăng tiến trong việc phân công lao động của
doanh nghiệp.
Trong kiểu tổ chức này, doanh nghiệp là chủ thể của quá trình liên kết
đào tạo và mọi hoạt động đào tạo của nhà trường đều phụ thuộc vào sự điều
hành của doanh nghiệp.
Việc liên kết ở đây có ưu điểm là: thực hiện trực để được nguyên lý học
đi đôi với hành, đào tạo gắn với sử dụng và quy luật cung cầu của cơ chế thị
trường trong đào tạo; Chất lượng đào tạo được nâng cao do học sinh được thực
hành thường xuyên trong điều kiện sản xuất thực tế với đầy đủ các phương tiện
sản xuất hiện đại, điều mà các trường nghề độc lập thường không có được.
Nhược điểm của loại hình tổ chức liên kết này là: Giáo viên của doanh
nghiệp thường giỏi về kỹ năng chuyên môn nhưng lại chưa được đào tạo hoặc
bồi dưỡng về sư phạm nên thường chỉ quan tâm đến rèn luyện kỹ năng nghề mà
ít quan tâm đến rèn luyện năng lực sáng tạo cho người học, điều này cũng ảnh
tạo thường hướng nhiều tới công việc và kế hoạch của doanh nghiệp nên có khi
ảnh hưởng đến kế hoạch đào tạo.
Ngoài ra, để tổ chức liên kết đào tạo theo mô hình này cũng cần phải có
những điều kiện nhất định mà ít doanh nghiệp có thể đáp ứng. Trước hết, doanh
nghiệp phải đủ mạnh, có tiềm năng và nhu cầu phát triển nhân lực trong tương
với nhiều trường nghề khác nhau tuỳ theo yêu cầu nhân lực của mình. Ưu điểm
của nó là tận dụng được thế mạnh của mỗi bên, thậm chí là của từng doanh
nghiệp khác nhau để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nhằm
phục vụ lợi ích của các bên mà không làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ và kế hoạch
của bản thân họ. Tuy nhiên, khó khăn trong việc thực hiện liên kết đào tạo đối
với mô hình này trước hết là do nhiều đầu mối nên sẽ phức tạp trong việc quản
lý cũng như tổ chức thực hiện. Mặt khác, do trình độ công nghệ sản xuất của
các cơ sở khác nhau với các chuẩn chất lượng khác nhau sẽ tạo ra những khó
khăn cho nhà trường trong việc xác định chuẩn đào tạo.
1.2.2.2 Các mức độ liên kết.
Trên thực tế, sự liên kết đào tạo giữa trường nghề và các doanh nghiệp
được thực hiện ở nhiều mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào yêu cầu và khả năng
của mỗi bên. về cơ bản, có thể chia sự liên kết này thành các mức độ như sau:
- Liên kết toàn diện: là sự liên kết trong đó có sự tham gia phối hợp của
phía doanh nghiệp cùng với nhà trường trong mọi lĩnh vực, mọi khâu của quá
trình đào tạo nghề. Đối với cấp độ liên kết này, phía doanh nghiệp sẽ góp phần
đầu tư trang thiết bị cho nhà trường hoặc tổ chức các phân xưởng đào tạo để nhà
trường và doanh nghiệp cùng sử dụng, cử kỹ sư và các công nhân lành nghề
cùng tham gia vào việc giảng dạy, tham gia với nhà trường từ khâu hướng
nghiệp học sinh phổ thông chọn nghề phù hợp để học, xây dựng mục tiêu, nội
dung chương trình đào tạo, tham gia đào tạo đánh giá kết quả học tập của học
sinh, tham gia giới thiệu việc làm cho học sinh...
Liên kết toàn diện thường chỉ có ở các mô hình tổ chức doanh nghiệp
nằm trong trường hoặc trường nằm trong doanh nghiệp. Đối với các mô hình tổ
chức độc lập giữa trường và doanh nghiệp thì khó đạt được mức độ liên kết toàn
diện song trên thực tế vẫn có một số trường thiết lập được hợp đồng liên kết
toàn diện và thường xuyên.
- Liên kết từng phần (có giới hạn): là sự liên kết chỉ được thực hiện trong
0,5% quỹ lương của doanh nghiệp. Trong đó, 0,2% cho trường và 0,3% cho cán
bộ doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề;
Đánh giá kết quả đào tạo: Việc thi, kiểm tra, tốt nghiệp được thực hiện tại
trường. Kiểm tra tay nghề (thi thực hành) được tiến hành tại doanh nghiệp với
Hội đồng kiểm tra bao gồm giáo viên của trường và cán bộ của doanh nghiệp.
Đào tao kết hơv theo mô hình “Dual System”
Trong các tài liệu về đào tạo nghề tại Việt Nam, “Dual System” được gọi
bằng nhiều cách như “song tuyến”, “song hành”, “kép”... Tuy nhiên, dù được
gọi bằng cách nào thì về bản chất nội dung và hình thức của nó vẫn là “kết hợp
đào tạo tại trường và doanh nghiệp”. Trong phạm vi bài viết này sẽ sử dụng khái
niệm “song tuyến”.
Đào tạo kết hợp theo hình thức song tuyến là hình thức đào tạo nghề cơ
bản của Đức và chủ yếu là đào tạo để phục vụ cho doanh nghiệp. Đặc điểm cơ
bản của đào tạo song tuyến là:
Xây dựng mục tiêu và nội dung chương trình đào tạo: Căn cứ theo chương
trình khung thống nhất của Nhà nước, khối cơ quan quản lý Nhà nước về đào
tạo nghề xây dựng Chương trình đào tạo lý thuyết và các hiệp hội nghề nghiệp,
phòng công nghiệp sẽ xây dựng chương trình đào tạo thực hành có định hướng
theo yêu cầu phát triển công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp;
Cơ sở vật chất sư phạm - trang thiết bị thực hành: đào tạo được tiến hành
cả ở trường và doanh nghiệp nên cơ sở vật chất trang thiết bị đào tạo gồm cả của
Cán bộ giáo viên: gồm cả giáo viên của trường và doanh nghiệp, trong đó
giáo viên của các trường sẽ dạy các môn lý thuyết;
Tài chính: do cả phía trường và doanh nghiệp đóng góp. Tài chính của
nhà trường lấy từ ngân sách Nhà nước và các khoản thu hợp lệ khác, về phía
doanh nghiệp sẽ cấp học bổng cho học sinh, đầu tư tuyển cán bộ hướng dẫn thực
hành tại doanh nghiệp, đầu tư cơ sở vật chất - sư phạm;
Đánh giá tốt nghiệp: Kết quả thi thực hành quyết định việc tốt nghiệp của
nhà trường và doanh nghiệp, đội ngũ giáo viên cho đào tạo nghề được tăng lên
cả về qui mô và chất lượng, đặc biệt là đội ngũ giáo viên thực hành, từ đó nâng
cao chất lượng đào tạo.
- Đội ngũ cán bộ quản lý đào tạo tại các cơ sở đào tạo chủ yếu được chọn
ra từ đội ngũ giáo viên. Khi liên kết với các doanh nghiệp, đội ngũ cán bộ quản
lý được bổ sung từ phía doanh nghiệp. Điều này rất có lợi cho việc tổ chức,
quản lý quá trình đào tạo, đặc biệt là các khâu tuyển sinh, thực tập sản xuất,
việc làm, tham gia xây dựng chương trình...
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo là một trong những yếu tố
cơ bản đảm bảo chất lượng đào tạo nghề. Liên kết đào tạo với doanh nghiệp thì
cơ sở vật chất phục vụ đào tạo sẽ tăng lên, thiết bị phục vụ đào tạo được cập
nhật, tăng lên về số lượng cũng như chất lượng. Đồng thời giúp học viên tiếp
cận với thực tế thiết bị hiện đại đang vận hành, dây chuyền sản xuất hiện đại.
- Tài chính phục vụ đào tạo nghề gồm các nguồn từ ngân sách, học phí,
các nguồn thu và hỗ trợ khác. Hiện nay, ngân sách nhà nước cấp rất hạn chế và
ở mức thấp so với quốc tế. Khi có sự liên kết về mặt tài chính, doanh nghiệp sẽ
đầu tư và đóng góp một phần kinh phí cho đào tạo học viên (mà họ sẽ sử dụng)
để phát triển nguồn nhân lực.