CHƯƠNG I. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Sự cần thiết của đề tài
HTX nông nghiệp giúp tăng cường sức mạnh của xã viên, những người
nông dân (Hồ Văn Vĩnh, 2005). Xã viên có cơ hội tiếp cận các sản phẩm đầu vào
với giá hợp lý, được hưởng các dịch vụ với chất lượng cao và giá thành thấp hơn
so với thị trường. Mặt khác, các xã viên được HTX bao tiêu hoặc trợ giúp tiếp cận
thị trường, không bị tư thương ép giá.
HTX nông nghiệp còn là tác nhân có vai trò liên kết kinh tế theo cơ chế
vận hành của nền kinh tế thị trường. HTX là đầu mối liên kết giữa cơ quan quản
lý nhà nước, doanh nghiệp, khách hàng và người nông dân.
Các HTX nông nghiệp đang gặp rất nhiều khó khăn, chưa phát huy được
hết thế mạnh của HTX. Các hoạt động dịch vụ của các HTX nông nghiệp có quy
mô nhỏ, chưa đáp ứng được về đầu ra cho các xã viên. Hiệu quả kinh doanh của
HTX nông nghiệp thấp, các HTX nông nghiệp chưa đủ sức cạnh tranh trên thị
trường, chưa có sức lôi cuốn, hấp dẫn xã viên tham gia và đóng góp xây dựng
HTX.
Các nghiên cứu hiện nay về hoạt động của HTX nông nghiệp tại Việt
Nam tập trung nhiều ở việc phân tích tác động từ chính sách nhà nước, các nghiên
cứu mới dừng ở phương pháp định tính, chưa chỉ rõ được đâu là nguyên nhân cốt
lõi, mức độ quan trọng của các yếu tố. Do vậy, nguyên nhân và giải pháp có nhiều
nhưng chưa thật đúng và thật trúng (Bùi Văn Huyền, 2010).
Từ những lý do trên, đề tài: ‘‘Đánh giá tác động của các yếu tố nội sinh
đến kết quả hoạt động của các HTX trong lĩnh vực nông nghiệp ở đồng bằng
sông Hồng’’ có ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn. Nghiên cứu nhằm kiểm định
các giả thuyết, tìm ra các nhân tố bên trong tác động đến kết quả hoạt động của
các HTX trong lĩnh vực nông nghiệp.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Đánh giá tác động của các nhân tố nội sinh đến kết quả
hoạt động của HTX và đề xuất quan điểm, giải pháp nâng cao kết quả hoạt động
của HTX trong lĩnh vực nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng
- Các mục tiêu cụ thể:
Bình.
1.5. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.5.1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài.
Trường phái lý luận về vai trò của các yếu tố nội sinh của HTX tác
động đến hoạt động của các HTX nông nghiệp
Van Der Walt (2005) nghiên cứu về sự thất bại của các hợp tác xã đã đưa
ra các yếu tố nguyên nhân đó là sự quản lý yếu kém, mâu thuẫn giữa các thành
viên hợp tác xã về quyền lợi và nghĩa vụ và sự thiếu hụt về tài chính.
Daman Prakash (2000) đưa ra các yếu tố giúp cho các HTX nông nghiệp
có thể thành công đó là (1) Xã viên là những người chủ thực sự của HTX, thông
qua ban quản trị, ban chủ nhiệm, các xã viên điều hành hoạt động của HTX nhằm
phục vụ cho nhu cầu của chính xã viên, (2) Hợp tác xã được quản lý hiệu quả bởi
ban quản trị, ban kiểm soát và ban chủ nhiệm được bầu cử dân chủ, là những
người có kinh nghiệm, được đào tạo (3) Các HTX cần phải đối thoại về chính
sách với chính phủ.
Machethe (1990) khi nghiên cứu về những hợp tác xã không thành công
tại Nam Phi đã chỉ ra rằng nguyên nhân chính đó là các thành viên hợp tác xã
không hiểu rõ về mục đích của hợp tác xã, quyền và nghĩa vụ của các xã viên và
cách thức quản lý hoạt động kinh doanh của hợp tác xã. Xã viên không hiểu việc
2
tồn tại và phát triển của hợp tác xã là do những đóng góp của chính xã viên. Rất
nhiều xã viên chỉ quan tâm đến quyền lợi mà quên đi nghĩa vụ của họ với HTX.
Osterbeg và Nilson (2009) đã chỉ ra rằng sự tham gia của xã viên vào
hoạt động quản trị HTX có tác động tích cực đến kết quả hoạt động của các HTX.
Sự tham gia của xã viên trong HTX bao gồm việc tham gia các cuộc họp; làm
việc trong ủy ban; tham gia vào việc tuyển chọn các thành viên mới; và quyền bổ
nhiệm. Sự tham gia một cách bình đẳng của các thành viên trong việc quản trị của
phương pháp đánh giá tác động đó là: Phương pháp định tính; phương pháp định
lượng.
3
Phương pháp định tính nhằm phát hiện ra các quy luật thông qua việc
nghiên cứu sâu về một số mẫu nghiên cứu có đặc tính nổi trội. Chu Tiến Quang
(2012) sử dụng phương pháp quan sát, phỏng vấn và phân tích các số liệu về kết
quả hoạt động kinh doanh của các HTX trong lĩnh vực nông nghiệp có kết quả
hoạt động tốt để phát hiện ra yếu tố tác động đến sự thành công của các HTX này
như các yếu tố về năng lực của ban chủ nhiệm HTX, sự đồng thuận của xã viên.
Phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm chứng minh các quy luật đã
được nghiên cứu định tính phát hiện trước đó trên cơ sở phân tích mẫu nghiên
cứu số lượng lớn, có tính ngẫu nhiến. Các quy luật tác động được chứng minh qua
việc kiểm định các giả thuyết nghiên cứu (hypothesis). Ví dụ như Azzeddine
M.Azzam và Michael Turner (1991) sử dụng các 58 biến quan sát để đo lường 10
chỉ tiêu về quản lý như quản lý nhân sự, quản lý marketing, quản lý chiến lược,
quản lý hoạt động,… và đo lường biến phụ thuộc kết quả hoạt động HTX thông
qua chỉ tiêu tài chính như doanh thu, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu.Tiếp theo,
nghiên cứu tiền hành sử dụng mô hình kinh tế lượng, hồi quy để đánh giá tác
động, kiểm nghiệm giả thuyết về năng lực quản lý có tác động như thế nào đến
kết quả hoạt động của HTX.
1.6. Mô hình nghiên cứu
Đề tài kiểm chứng hai nhóm yếu tố tác động đến kết quả hoạt động của
các HTX trong lĩnh vực nông nghiệp thông qua hai mô hình nghiên cứu:
Bảng 1: Mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến “Kết quả kinh tế của HTX”
Các biến nội sinh độc lập:
(7 biến nghiên cứu- 35 biến quan sát )
1. Năng lực lập kế hoạch ( 4 biến quan sát)
Kết quả kinh tế
3. Kỹ năng lãnh đạo (6 biến quan sát)
của xã viên do
4. Năng lực kiểm soát (4 biến quan sát)
HTX đem lại (6
5. Sự cam kết cảm xúc của xã viên (6 biến quan sát)
biến quan sát)
6. Sự cam kết duy trì của xã viên (6 biến quan sát)
7. Sự tham gia vào hoạt động quản trị HTX của xã
viên (4 biến quan sát)
1.7. Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định
tính và phương pháp định lượng.
Phương pháp định tính: Một số HTX tiêu biểu được phỏng vấn sâu để
phát hiện các yếu tố nội sinh giúp các HTX hoạt động tốt. Phương pháp định tính
cũng được sử dụng để phát hiện các biểu hiện để đo lường các biến nghiên cứu.
Phương pháp định lượng: Nghiên cứu tiến hành điều tra mẫu gồm 180
HTX trong lĩnh vực nông nghiệp. Các biến nghiên cứu trong mô hình được đo
lường bằng các biến quan sát. Các biến quan sát được xây dựng dựa trên cơ sở lý
luận, các lý thuyết, các nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trước và nghiên cứu
định tính được thực hiện trước đó. Sau khi thu thập dữ liệu, hệ thống thang đo của
các biến nghiên cứu được đánh giá thông qua việc phân tích nhân tố khám phá
động của HTX trong lĩnh vực nông nghiệp.
- Đề xuất quan điểm, giải pháp phát huy các yếu tố nội sinh có tác động
tới kết quả hoạt động của các HXT trong lĩnh vực nông nghiệp ở đồng bằng sông
Hồng, từ đó thúc đẩy các HTX phát triển.
1.9. Kết cấu của luận án
Đề tài được chia làm 5 chương:
Chương I. Phần mở đầu
Chương II. Cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của các yếu tố nội sinh đến kết
quả hoạt động của các HTX trong lĩnh vực nông nghiệp
Chương III. Tổng quan về quá trình phát triển HTX trong lĩnh vực nông nghiệp
tại Việt Nam
Chương IV. Thực trạng tác động của các yếu tố nội sinh đến hoạt động và kết quả
hoạt động của các HTX trong lĩnh vực nông nghiệp
Chương V. Một số giải pháp nâng cao kết quả hoạt động của các HTX trong lĩnh
vực nông nghiệp.
CHƯƠNG II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA
CÁC YẾU TỐ NỘI SINH ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC HỢP
TÁC XÃ TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP
2.1. Hợp tác xã trong lĩnh vực nông nghiệp
6
2.1.1. Khái niệm hợp tác xã và hợp tác xã trong lĩnh vực nông nghiệp
Luật hợp tác xã được ban hành năm 2012 ghi rõ: “Hợp tác xã là tổ chức
kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự
nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh
doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự
chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã”. HTX
hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp là các HTX mà các hoạt động chính là sản
xã hội; (3) Hoạt động môi trường và (4) Hoạt động tổ chức.
7
Hoạt động kinh tế: Hoạt động kinh tế của HTX là những hoạt động tạo ra giá trị
kinh tế cho HTX và cho xã viên, bao gồm: Hoạt động sản xuất nông nghiệp tập
trung, Hoạt động cung ứng dịch vụ nông nghiệp, Hoạt động chế biến và tiêu thụ
sản phẩm nông nghiệp, Hoạt động tín dụng và một số hoạt động khác
Hoạt động xã hội; HTX thực hiện các hoạt động xã hội nhằm giúp xã viên cải
thiện đời sống sinh hoạt, năng cao trình độ của mình.
Hoạt động môi trường: HTX thực hiện các hoạt động bảo vệ, duy trì những điều
kiện môi trường tự nhiên nhằm duy trì và phát triển sản xuất nông nghiệp.
Hoạt động tổ chức:Hoạt động tổ chức của HTX là những hoạt động nhằm mục
tiêu nâng cao năng lực quản lý của HTX từ đó giúp HTX đạt hiệu quả trong quá
trình thực hiện các hoạt động của mình.
2.2.2. Kết quả hoạt động của các hợp tác xã trong lĩnh vực nông nghiệp
Kết quả hoạt động kinh tế của các HTX trong lĩnh vực nông nghiệp bao
gồm 2 chỉ tiêu: (1) Kết quả kinh tế của HTX và (2) kết quả kinh tế mà HTX đem
lại cho xã viên.
2.3. Phân loại hợp tác xã trong lĩnh vực nông nghiệp
HTX trong lĩnh vực nông nghiệp được chia làm 3 loại:
(1) HTX sản xuất nông nghiệp tập trung;
(2) HTX dịch vụ nông nghiệp
(3) HTX chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
HTX sản xuất nông nghiệp tập trung là những HTX mà xã viên góp vốn,
góp đất để tiến hành sản xuất tập trung sản phẩm nông nghiệp.
HTX dịch vụ nông nghiệp là các HTX cung cấp các đầu vào sản xuất như
giống, phân bón hoặc các dịch vụ như làm đất, tưới tiêu v.v… cho xã viên.
HTX chế biến và tiêu thụ sản phẩm còn được gọi là HTX marketing là
các HTX nhập các sản phẩm của xã viên để chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
vấn đề khó khăn của HTX trong đó đặc biệt là vấn đề kẻ hưởng không (Free-rider
problem), vấn đề chi phí hoạt động của HTX (Cook, Illiopolous, 1999; Nilsson,
1999). Sự cam kết là một khái niệm đa hướng, bao gồm: cam kết cảm xúc, cam
kết duy trì, và cam kết đạo đức (John Meyer, Natalie Allen, 1990)
- Sự tham gia của các xã viên vào hoạt động quản trị hợp tác xã. Sự
tham gia của xã viên vào hoạt động quản trị HTX có tác động mạnh đến kết quả
hoạt động của HTX (Organ 1988; Organ, Podsakoff, Graham 1991). Xã viên
tham gia quản trị HTX trực tiếp khi tham gia ban quản trị, ban chủ nhiệm hoặc
ban kiểm soát HTX. Xã viên tham gia quản trị HTX một cách gián tiếp thông qua
việc tham gia các đại hội xã viên hàng năm (Annual General Meetings-AGM).
2.5. Các yếu tố ngoại sinh tác động đến kết quả hoạt động hợp tác xã
Các yếu tố ngoại sinh là một phần không thể thiếu trong sự phát triển bền
vững của hợp tác xã, bao gồm môi trường địa lý của HTX, thói quen tập quán của
khu vực, khung pháp lý của quốc gia (Nyoro & Ngugi, 2007; Fafchamps 1996),
các chính sách của chính phủ (Hill, 2007)
Đang có nhiều quan điểm về vai trò của các yếu tố ngoại sinh. Một số ý
kiến cho rằng, các HTX là các tổ chức đem lại lợi ích cho người yếu thế, do vậy
rất cần sự hỗ trợ từ chính phủ. Một số quan điểm khác lại cho rằng, các hỗ trợ của
bên ngoài gây ra các tác động xấu đến sự phát triển lành mạnh của các HTX như
hiện tượng ỷ lại, tạo sự cạnh tranh bất bình đẳng với các tổ chức không được hỗ
trợ, tạo ra các hiện tượng gian lận như việc một tổ chức tư nhân đăng ký thành lập
dưới hình thức HTX để được hưởng lợi.
2.6. Mô hình quản trị hợp tác xã theo truyền thống và theo kiểu mới
2.6.1. Hợp tác xã truyền thống và và những khó khăn tất yếu của hợp tác xã
truyền thống
Vấn đề kẻ hưởng không (Free-rider problem)
9
Vấn đề kẻ hưởng không là việc các thành viên trong tổ chức chỉ mong
Phương pháp định tính sẽ là bước đầu tiên nhằm phát hiện ra sự tác động, sau đó
phương pháp định lượng sẽ được sử dụng để chứng minh sự tác động đó. Phương
pháp định tính thường sử dụng các tình huống nhằm phát hiện tác động giữa các
khái niệm nghiên cứu (Eisenhardt, 1989).
2.7.2. Phương pháp định lượng.
Phương pháp định lượng nhằm mục đích kiểm định các giả thuyết về sự
tác động của các biến nghiên cứu thông qua việc sử dụng các công cụ thống kê.
10
Đầu tiên, các biến nghiên cứu cần phải được đo lường thông qua việc sử
dụng một tập hợp các biểu hiện (được gọi là biến quan sát) của biến nghiên cứu.
Các biến quan sát này sau đó sẽ được sử dụng để thu thập thông tin về mức độ
đồng ý của đối tượng được điều tra. Tiếp theo, tác động qua lại giữa các biến
nghiên cứu được chứng minh thông qua việc sử dụng các công cụ phân tích thống
kê với mẫu nghiên cứu lớn và được lựa chọn ngẫu nhiên.
CHƯƠNG III. TỔNG QUAN VỀ HỢP TÁC XÃ TRONG LĨNH VỰC
NÔNG NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
VÀ TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
3.1. Sự hình thành và phát triển của các hợp tác xã trong lĩnh vực nông
nghiệp tại Việt Nam qua các giai đoạn
3.1.1 Sự hình thành và phát triển của các hợp tác xã trong lĩnh vực nông
nghiệp tại Việt Nam trong giai đoạn trước đổi mới 1955-1988
3.1.2. Sự hình thành và phát triển của các hợp tác xã trong lĩnh vực nông
nghiệp tại Việt Nam trong giai đoạn 1988-1996
Năm 1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10 “Đổi mới quản lý kinh tế
nông nghiệp” trong đó xác định phát huy tính tự chủ, tự nguyện của nông dân,
quan hệ HTX – xã viên tiến tới bình đẳng theo hợp đồng. Từ đó, số lượng HTX
giảm mạnh, tuy nhiên vẫn có những HTX tồn tại, hoạt động với chất lượng tốt
nghiệp tại Việt Nam trong giai đoạn 2013 đến nay
Tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII đã ban hành Luật HTX số
23/2012/QH13 (Luật Hợp tác xã 2012), có hiệu lực thi hành từ 01 tháng 7 năm
2013, thay thế Luật HTX số 18/2003/QH12 (Luật Hợp tác xã 2003). Với mục tiêu
nhằm khuyến khích và phát triển mô hình HTX kiểu mới, đồng thời định hướng
phát triển các HTX hiện có hoạt động theo đúng bản chất HTX.
Giải quyết khúc mắc về vấn đề bản chất của HTX, Luật HTX 2012 được
xây dựng trên cơ sở coi các HTX là một hình tổ chức khá đặc biệt: vừa là một
doanh nghiệp, hoạt động có lợi nhuận, phục vụ khách hàng bao gồm cả xã viên và
không phải xã viên, mặc khác HTX là một tổ chức phục vụ xã viên
Hiện chưa có các đánh giá về sự phát triển của HTX trong lĩnh vực nông
nghiệp trong giai đoạn 2013 đến nay. Tuy nhiên theo quan điểm của nghiên cứu
sinh, cách tiếp cận của Luật HTX 2012 là chưa phù hợp ở việc hạn chế quyền độc
lập, tự chủ của HTX, giảm tính “doanh nghiệp” của HTX mà lại tăng quá lớn tính
phục vụ xã viên, đồng thời có những hỗ trợ lớn cho HTX, gây cạnh tranh không
lành mạnh với các loại hình kinh tế khác. Nếu hoạt động đúng theo quy luật thị
trường, nhà nước cần phải xác định HTX cũng giống như các loại hình doanh
nghiệp khác, hạn chế hỗ trợ, các hỗ trợ nếu có chỉ xoay xung quanh việc tăng
cường năng lực của HTX. Khi có năng lực, các HTX sẽ tự tìm ra điểm mạnh của
mình hoạt động trong môi trường cạnh tranh với các đối thủ khác.
3.2. Thực trạng các hợp tác xã trong lĩnh vực nông nghiệp ở đồng bằng sông
Hồng
3.2.1. Thực trạng số lượng và lĩnh vực hoạt động các hợp tác xã trong lĩnh
vực nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng
Đồng bằng sông Hồng là vùng có số lượng HTX trong lĩnh vực nông
nghiệp lớn nhất trong cả nước. Tính đến thời điểm 2014, tại đồng bằng sông
Hồng có tới 3.585 HTX trong lĩnh vực nông nghiệp, trong tổng số 10.154 HTX
trong lĩnh vực nông nghiệp trên cả nước. Trong số đó có tới 80% HTX thực hiện
dịch vụ thủy lợi, 53% dịch vụ cung ứng giống cây trồng, 30% HTX thực hiện
dịch vụ cung ứng vật tư, phân bón, 20% HTX thực hiện dịch vụ làm đất.
185.674
Tỷ suất lợi
nhuận sau
thuế trên
doanh thu
HTX sản xuất nông nghiệp
2.218.254
8,37%
HTX dịch vụ nông nghiệp
3.078.849
241.162
7,83%
HTX chế biến và tiêu thụ sản phẩm
nông nghiệp
1.734.879
102.247
5,89%
3.056.216
3.084.288
2.252.994
3.831.367
Vốn chuyển từ mô hình cũ
694.871
754.938
528.185
801.489
Vốn đóng góp của xã viên
840.246
822.942
660.934
1.036.862
Vốn tích lũy qua các năm
363.333
365.273
674.027
6.157
6.157
Chỉ tiêu
Trung bình tổng vốn
Vốn liên doanh, liên kết
Vốn vay từ tổ chức PCP
-
-
Nguồn: Kết quả điều tra của luận án
* Số liệu thu được từ các HTX tại Hà Nội về nguồn vốn không đầy đủ nên không
được thể hiện trong bảng.
CHƯƠNG IV. THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ NỘI SINH
ĐẾN HOẠT ĐỘNG VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ
TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP.
4.1. Nghiên cứu định tính về các yếu tố nội sinh tác động đến kết quả hoạt
động của các hợp tác xã trong lĩnh vực nông nghiệp
4.1.1. Đối với các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp
Thứ hai, ban chủ nhiệm HTX cần làm đầu mối xây dựng các quy định liên
quan đến hoạt động làm đất, các quy định này cần có sự tham gia dân chủ của xã viên,
xã viên xây dựng, xã viên thảo luận và đi đến quyết định cuối cùng.
Thứ ba, HTX cần có khả năng kiểm soát được các chi phí để có được giá dịch
vụ tốt nhất, rẻ nhất cho xã viên.
Thứ tư, HTX cần có khả năng quản lý, vận hành và bảo dưỡng máy móc, trang
thiết bị làm đất
Dịch vụ bảo vệ cây trồng vật nuôi
Từ nghiên cứu đối với dịch vụ bảo vệ cây trồng,vật nuôi của HTX cho xã viên
tại HTX Nghĩa Hồng, Nam Định cho thấy các yếu tố nội sinh sau tác động đến hoạt
động cung cấp dịch vụ bảo vệ cây trồng, vật nuôi của HTX:
Thứ nhất, sự đồng lòng của tất cả các xã viên tác động rất lớn đến công tác bảo
vệ cây trồng, vật nuôi. Chỉ cần một số hộ không tham gia, sâu bệnh, dịch bệnh sẽ tiếp
tục lây lan trong trang trại hoặc ruộng đồng của các xã viên khác.
Thứ hai, HTX cần có mối quan hệ chủ động, tích cự đối với các trạm bảo bảo
vệ thực vật huyện để được cung ứng vật tư, thuê máy phun thuốc, tập huấn cho xã viên
kiến thức bảo vệ thực vật, phòng trừ dịch hại.
4.1.3. Đối với các hợp tác xã chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
Đối với hoạt động chế biến sản phẩm nông nghiệp
Kinh nghiệm đối với sự thành công của HTX Nghĩa Hồng, xã Nghĩa Hồng,
huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định cho thấy các HTX các yếu tố nội sinh tác động đến
hoạt động chế biến nông sản bao gồm:
Thứ nhất, HTX phải có đội ngũ cán bộ HTX có năng lực tổ chức, quản lý, điều
hành HTX.
Thứ hai, nhân tố “Sự đồng thuận của xã viên” tác động lớn đến hoạt động chế
biến nông sản của HTX Nghĩa Hồng. Các xã viên phải đồng thuận về tổ chức chế biến
nông sản tập thể do HTX tổ chức; về phương pháp chế biến, chất lượng, mẫu mã sản
phẩm chế biến và giá cả cho từng loại sản phẩm chế biến theo chất lượng và kiểu dáng.
15
thụ sản phẩm nông nghiệp.
KNLKH: Biến số Kỹ năng lập kế hoạch; KNTC: Biến số Kỹ năng tổ chức
KNLĐ: Biến số kỹ năng lãnh đạo;KNKS: Biến số kỹ năng kiểm soát
CKCX: Biến số Cam kết cảm xúc; CKDT: Biến số Cam kết duy trì
TGQT: Biến số Tham gia quản trị HTX
Kết quả nghiên cứu cho thấy
- Các biến số: Loại hình HTX, năng lực kiểm soát của ban chủ nhiệm HTX, cam
kết cảm xúc, cam kết duy trì và tham gia vào quản trị HTX của xã viên có tác
động thuận chiều đến kết quả kinh tế của HTX trong lĩnh vực nông nghiệp. Các
16
biến số này có thể giải thích được 56,7% sự thay đổi của biến số Kết quả kinh tế
của HTX (R bình phương điều chỉnh bằng 0,560)
- Biến số cam kết cảm xúc của xã viên HTX có mức độ tác động lớn nhất đến kết
quả kinh tế của HTX trong lĩnh vực nông nghiệp, với hệ số tác động là 0,352. Các
biến số có mức độ tác động xếp theo thứ tự mức độ tác động giảm dần là biến số
năng lực kiểm soát của ban chủ nhiệm HTX, năng lực, cam kết duy trì và tham
gia vào quản trị HTX của xã viên với hệ số tác động lần lượt là 0,249; 0,238 và
0,208
- Biến số loại hình HTX có tác động đến kết quả kinh tế của HTX trong lĩnh vực
nông nghiệp, các HTX chế biến và tiêu thụ nông sản hiện đang có kết quả kinh tế
là thấp nhất trong 3 loại hình HTX. HTX dịch vụ nông nghiệp có kết quả kinh tế
lớn hơn HTX chế biến và tiêu thụ ở mức 0,161 đơn vị. HTX sản xuất nông nghiệp
có kết quả kinh tế lớn nhất trong 3 loại hình HTX, lớn hơn HTX chế biến và tiêu
thụ ở mức 0,365 đơn vị.
4.2.5. Hồi quy với biến phụ thuộc là “Kết quả kinh tế của xã viên do HTX đem lại”
Kết quả đánh giá tác động của các biến năng lực của ban chủ nhiệm
HTX, cam kết và sự tham gia vào quản trị HTX của xã viên tới kết quả kinh tế xã
dàng có được khách hàng và sau cùng là dễ dàng huy động được nguồn lực.
Trong bối cảnh hiện nay yếu tố cam kết cảm xúc của xã viên đóng vai trò rất quan
trọng tới kết quả hoạt động của HTX. Cam kết duy trì của xã viên có tác động tuy
nhiên mức độ tác động còn ở mức trung bình, điều này cho thấy lợi ích mà HTX
đem lại cho xã viên còn chưa cao, khiến cho mức độ cam kết duy trì của xã viên
còn chưa lớn.
- Các biến số đến từ phía xã viên HTX như sự cam kết, sự tham gia vào quản trị
có tác động lớn, thuận chiều đến kết quả kinh tế của HTX và của xã viên. Các yếu
tố đến từ năng lực quản trị của ban chủ nhiệm có mức tác động nhỏ hơn và theo
từng năng lực khác nhau đối với từng yếu tố kết quả kinh tế cho HTX hay cho xã
viên. Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận vai trò của các yếu tố từ năng lực quản
trị của ban chủ nhiệm, vì ngoài tác động trực tiếp như trong mô hình nghiên cứu,
năng lực quản trị còn có tác động gián tiếp tới kết quả kinh tế của HTX và của xã
viên thông qua việc tác động vào các yếu tố đến từ xã viên.
4.2.6. Phân tích tương quan giữa biến số “Kết quả kinh tế của hợp tác xã” và
“Kết quả kinh tế hợp tác xã đem lại cho xã viên”
CHƯƠNG V
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HTX
TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP
TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
5.1. Quan điểm tiếp cận trong phát triển các hợp tác xã trong lĩnh vực nông
nghiệp ở Việt Nam
Thứ nhất, HTX nông nghiệp là một tổ chức kinh tế đặc biệt, không mâu
thuẫn với cơ chế kinh tế thị trường, có thể phát huy lợi thế và tiềm năng của xã
viên và bổ khuyết cho cơ chế thị trường.
Thứ hai, HTX mang lại nhiều lợi ích cho xã viên bao gồm lợi ích về kinh tế,
lợi ích xã hội, văn hóa thông qua hiện thực hóa các giá trị và nguyên tắc hợp tác cao
đẹp.
Thứ ba, HTX nông nghiệp là sự kết hợp giữa người sở hữu và người sử dụng
sản phẩm, dịch vụ của HTX, giữa người chủ và người làm công, giữa người bán và
mất phí
Dựa trên nghiên cứu của luận án, có thể đưa ra các nội dung tập huấn để
nâng cao năng lực của ban chủ nhiệm HTX như sau:
Nâng cao năng lực lập kế hoạch của ban chủ nhiệm Hợp tác xã
Ban chủ nhiệm HTX cần xác định được điểm mạnh, điểm yếu của HTX,
cơ hội và thách thức từ môi trường bên ngoài. Từ đó, trong bản chiến lược của
HTX cần trả lời được 3 câu hỏi chiến lược:
- Hợp tác xã sẽ sản xuất, kinh doanh sản phẩm gì?
- Hợp tác xã sẽ nhắm tới đối tượng khách hàng nào: Khách hàng cá nhân,
hay khách hàng tổ chức, khách hàng tiêu dùng hay các công ty sản xuất và thương
mại, khách hàng thu nhập cao hay khách hàng bình dân?
- Sản phẩm,dịch vụ của HTX sẽ có những đặc tính chất lượng, giá cả như
thế nào: Sản phẩm chất lượng tốt, giá cả tương xứng hay sản phẩm chất lượng
bình dân, giá cả hợp lý?
19
Bảng 5.1. Phân tích SWOT đối với các HTX trong lĩnh vực nông nghiệp
Điểm mạnh
- So với hộ kinh doanh cá thể, HTX có đông đảo xã
viên, từ đó có nguồn nhân lực lớn phục vụ cho sản
xuất
- So với hộ kinh doanh cá thể, HTX, xã viên sở hữu
số lượng lớn đất nông nghiệp phục vụ sản xuất
- So với các công ty kinh doanh, HTX có mối quan
hệ gần gũi, sâu sát giữa HTX và xã viên
- Là tổ chức của xã viên, bảo vệ xã viên, do vậy
được xã viên “ưu tiên” khi giao dịch.
Điểm yếu
chủ nhiệm HTX cần tích cực học hỏi, rèn luyện để tăng cường năng lực lãnh đạo.
Trong các hợp tác xã, với nhu cầu đa dạng của xã viên, ban chủ nhiệm
HTX cần tăng cường khả năng thuyết phục các xã viên đạt tới sự đồng thuận và
sau đó thông qua quyết định của cả hợp tác xã. Hơn nữa, các chủ nhiệm HTX cần
tăng cường khả năng thuyết phục xã viên, lắng nghe và chỉ ra những điểm chưa
đúng trong hoạt động của xã viên, thuyết phục xã viên tuân thủ các quy định
20
trong quá trình sản xuất, hòa giải cácc mâu thuẫn giữa các xã viên trong quá trình
hợp tác xã mua hàng của hợp tác xã.
Nâng cao năng lực kiểm soát của ban chủ
c nhiệm Hợp tác xã
Ban chủ nhiệm HTX có thể xây dự
ựng mô hình kiểm soát dựa trên quá trình
sản xuất của xã viên như sau:
Hình 1. Mô hình kiểm soát chấ
ất lượng sản phẩm của xã viên
Nguồn: Đề xuấ
ất của nghiên cứu sinh
Nâng cao sự cam kết cảm xúc của xã viên
viê hợp tác xã
Ban chủ nhiệm HTX cần cho xãã viên cảm thấy HTX như một phần gia
đình hoặc HTX có ý nghĩa lớn lao với xãã viên, thông qua những buổi sinh hoạt, buổi
họp hay các buổi đào tạo, ban chủ nhiệm HTX
H
cần nâng cao nhận thức của xã viên về
các giá trị tốt đẹp của HTX.
hàng không phải xã viên HTX trong việc sử dụng các sản phẩm và dịch vụ do
HTX, hoặc cung cấp sản phẩm dịch vụ cho HTX.
- Xã viên được phân phối lãi của HTX theo tỷ lệ vốn góp và mức độ sử
dụng hoặc cung cấp sản phẩm cho HTX; được hưởng các phúc lợi xã hội của
HTX.
- Xã viên được tham gia các buổi đào tạo, sinh hoạt nhóm nhằm nâng cao
năng lực về hoạt động sản xuất.
- Các xã viên không tuân thủ các quy định của HTX, vi phạm điều lệ
hoạt động của HTX cần phải bị xem xét kỷ luật ở các mức độ khác nhau, ở mức
nặng HTX có thể tước quyền xã viên, yêu cầu đền bù các thiết hại gây ra cho
HTX
Nâng cao sự tham gia vào quản trị hợp tác xã của xã viên
Để nâng cao sự tham gia vào quản trị HTX của xã viên, có một số nội
dung mà HTX cần phải thực hiện, bao gồm:
Thứ nhất, việc lựa chọn ban quản trị, ban chủ nhiệm, ban kiểm soát HTX
cần phải thật sự dân chủ. Tất cả các xã viên đều có quyền ứng cử hoặc đề cử xã
viên nắm giữ các trọng trách trên. Việc quyết định lựa chọn phải thông qua bầu
cử, dựa trên nguyên tắc “mỗi xã viên một phiếu bầu”.
Thứ hai, các HTX cần củng cố và duy trì tính nghiêm túc, dân chủ và
quyền lực tối cao của Đại hội xã viên. HTX cần tổ chức đều đặn các cuộc đại hội
hoặc họp thường niên, trước khi tham gia cuộc họp, các xã viên cần được cung
cấp đầy đủ tài liệu liên quan đến nội dung cuộc họp. Trong các cuộc họp, ý kiến
của xã viên cần được tôn trọng, lắng nghe, ban quản trị, ban chủ nhiệm HTX có
thể phân tích sự đúng, sai trong các ý kiến của xã viên nhưng không được sử dụng
quyền lực để áp đặt ý muốn chủ quan của mình. Trong các trường hợp không
thống nhất được với xã viên, cần có biểu quyết để lấy ý kiến của tập thể xã viên
trước khi ra quyết định cuối cùng.
Thứ ba, các HTX có thể cân nhắc việc tổ chức bỏ phiếu tín nhiệm giữa
nhiệm kỳ với các thành viên BQT và có thể miễn nhiệm (trước nhiệm kỳ) đối với
các thành viên BQT kém năng lực, thiếu gương mẫu hoặc vi phạm Điều lệ HTX
các loại hình doanh nghiệp khác. Từ đó, xây dựng hệ thống pháp lý đảm bảo rằng
các HTX có sự tự chủ trong hoạt động để tồn tại và phát triển, tồn tại trong một
môi trường với những sự cạnh tranh và hợp tác với các đối tác, đối thủ khác.
Theo quan điểm của nghiên cứu sinh, Luật HTX 2012 đang có quan điểm
hỗ trợ lớn cho HTX và từ đó cần phải quản lý chặt HTX. Tuy nhiên đứng trên góc
độ kinh tế thị trường, nghiên cứu sinh cho rằng nhà nước cần tiếp cận theo hướng
hỗ trợ HTX ở mức độ vừa phải, nếu có tập trung vào công tác đào tạo, về luật
pháp thì coi các HTX cũng giống như các loại hình doanh nghiêp khác
Thứ hai, hệ thống luật pháp cần được xây dựng trên cơ sở nhận thức về
đặc điểm riêng của HTX – đó là cơ chế hoạt động một phần giống doanh nghiệp
kinh doanh, một phần giống hiệp hội với nhiều thành viên tham gia. Từ đó luật về
HTX phải nêu rõ các nội dung về quyền lực của xã viên, quyền lực của ban quản
trị, việc hình thành vốn của HTX, phân chia lợi nhuận HTX.
23
Đổi mới mạnh mẽ chính sách hỗ trợ cho HTX
Theo quan điểm của nghiên cứu sinh, Nhà nước chỉ nên tập trung hỗ trợ sự
phát triển các HTX thông qua chính sách đào tạo cho HTX. Các chính sách khác rất dễ
tạo môi trường cạnh tranh không hoàn hảo giữa HTX và các loại hình kinh doanh khác.
PHẦN KẾT LUẬN
Nghiên cứu đã cho thấy nhiều HTX nếu biết sử dụng tốt nguồn lực về xã viên
của mình, thu hút được sự cam kết của xã viên, lôi cuốn xã viên vào hoạt động quản trị
HTX lúc đó các HTX sẽ có cơ hội thành công. Để làm được điều đó, ban chủ nhiệm
HTX cần phải có những năng lực quản trị phù hợp với từng loại hình HTX để có thể
đưa HTX phát triển.
Nghiên cứu định tính cho thấy với mỗi hoạt động khác nhau của HTX,
các nhân tố nội sinh tác động đến kết quả hoạt động của HTX là khác nhau. Tuy
nhiên có một số nhân tố chung tác động, đó là năng lực định hướng kinh doanh,
năng lực quản lý bao gồm các năng lực lập kế hoạch, năng lực tổ chức, năng lực