Khảo sát hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh viện công an thành phố hồ chí minh - Pdf 33

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN MẠNH CƯỜNG

KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG
THUỐC TẠI BỆNH VIỆN CÔNG AN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2011

LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I

HÀ NỘI - 2013


BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN MẠNH CƯỜNG

KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG
THUỐC TẠI BỆNH VIỆN CÔNG AN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2011
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I

CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: CKI 60 73 20
Nơi thực hiện:

Trường đại học Dược Hà Nội
Bệnh viện công an thành phố Hồ Chí Minh


Học viên
Nguyễn Mạnh Cường


MỤC LỤC

Trang
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục ký hiệu các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
Đặt vấn đề

1

Chương 1. Tổng quan

3

1.1. Tình hình sử dụng thuốc trên thế giới

3

1.2. Tình hình sử dụng thuốc tại Việt Nam

4

1.3. Cung ứng thuốc trong bệnh viện


1.4.1. Quá trình hình thành

21

1.4.2. Chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện

22

1.4.3. Mô hình tổ chức

23


1.4.4. Cơ cấu nhân lực của bệnh viện

23

1.4.5. Vị trí, chức năng và nhiệm vụ của khoa Dược

24

1.4.6. Hội đồng thuốc và điều trị

25

Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

27

2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

31

3.1.2. Phân tích cơ cấu danh mục thuốc bệnh viện

33

3.2. Khảo sát hoạt động mua sắm thuốc tại Bệnh viện công an thành phố Hồ Chí
Minh năm 2011

37

3.2.1. Các hình thức mua thuốc

37

3.2.2. Quy trình mua thuốc

38

3.2.3 Nguồn cung ứng thuốc

40

3.2.4. Kinh phí mua thuốc của bệnh viện năm 2011

41

3.2.5. Quy trình kiểm nhập thuốc

42

51

3.4.3 Hướng dẫn sử dụng thuốc

53

3.4.4 Thông tin thuốc, theo dõi ADR

54

Chương 4. Bàn luận

56

4.1. Về hoạt động lựa chọn thuốc

56

4.2. Về hoạt động mua sắm thuốc

56

4.3. Về hoạt động bảo quản, tồn trữ, cấp phát thuốc

57

4.4. Về hoạt động giám sát sử dụng thuốc

58



Ban Chỉ huy

BVCATP

Bệnh viện công an thành phố

CATP

Công an thành phố

DMT

Danh mục thuốc

DMTBV

Danh mục thuốc bệnh viện

DMTTY

Danh mục thuốc thiết yếu

DS

Dược sĩ

DSTH

Dược sĩ trung học

2
3
4

Tên bảng
Bảng 1.1. Cơ cấu nhân lực của Bệnh viện công an thành phố
Hồ Chí Minh
Bảng 3.1. Cơ cấu DMT bệnh viện theo nhóm tác dụng
Bảng 3.2. Mô hình bệnh tật của bệnh viện công an thành phố
Hồ Chí Minh năm 2011.
Bảng 3.3. Các bệnh thường gặp tại Bệnh viện công an thành
phố Hồ Chí Minh năm 2011.

Trang
24
33
35
36

5

Bảng 3.4. Tỷ lệ thuốc thiết yếu và thuốc trong DMTBV.

36

6

Bảng 3.5. Tỷ lệ thuốc không có đơn vị chào thầu năm 2011.

37

49
51
54


DANH MỤC HÌNH

Stt

Tên hình

Trang

1

Hình 1.1. Chu trình mua thuốc.

8

2

Hình 1.2. Sơ đồ hệ thống pháp lý về đấu thầu hiện hành.

9

3

Hình 1.3. Sơ đồ quy trình cấp phát thuốc của khoa Dược.

15

43
45
50
57


ĐẶT VẤN ĐỀ
Công an nhân dân được Đảng và nhà nước xác định là lực lượng nòng cốt
của lực lượng vũ trang nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ An ninh quốc gia và giữ
gìn trật tự xã hội của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Công an
nhân dân có chức năng tham mưu cho Đảng và nhà nước và thống nhất quản lý
về bảo vệ bảo vệ An ninh quốc gia và giữ gìn trật tự xã hội; đấu tranh phòng
chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, các loại tội phạm và các hành
vi vi phạm pháp luật về An ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội.
Vì vậy, công tác của lực lượng công an nhân dân có vai trò quan trọng trong
việc bảo vệ An ninh chính trị và giữ gìn trật tự an toàn xã hội, duy trì kỷ cương,
pháp luật góp phần đắc lực vào sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc
Việt Nam XHCN. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Công an cách mạng là
một vũ khí sắc bén của chuyên chính vô sản, cho nên nhiệm vụ của công an là
cực kỳ quan trọng”.
Sự nghiệp bảo vệ sức khỏe cho cán bộ chiến sỹ trong lực lượng công an
nhân dân là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước, các ngành, các cấp và toàn thể
xã hội; trong đó ngành y tế giữ vai trò nòng cốt.
Bệnh viện công an thành phố Hồ Chí Minh trực thuộc Sở công an thành phố
Hồ Chí Minh là đơn vị khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe toàn diện cho cán
bộ chiến sỹ công tác trong lực lượng công an thành phố, đảm bảo việc phòng
bệnh, khám chữa bệnh kịp thời và chính xác cho cán bộ chiến sỹ công tác trong
lực lượng công an thành phố và người dân trên địa bàn thành phố.
Hoạt động cung ứng thuốc là một trong những hoạt động quan trọng của
bệnh viện, việc cung ứng đủ thuốc đảm bảo chất lượng và sử dụng thuốc hợp lý

năm 2011”
Với các mục tiêu sau:
1. Mô tả hoạt động lựa chọn, mua thuốc, cấp phát và sử dụng thuốc tại
bệnh viện công an thành phố Hồ Chí Minh năm 2011.
2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cung ứng thuốc tại
bệnh viện công an thành phố Hồ Chí Minh năm 2011.
Từ đó đề xuất 1 số ý kiến góp phần nâng cao chất lượng cung ứng thuốc tại
bệnh viện công an thành phố Hồ Chí Minh.

2


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Tình hình sử dụng thuốc trên thế giới
Thuốc có vai trò quan trọng trong việc phòng bệnh và chữa bệnh, trong bảo
vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân. Nhu cầu về thuốc phòng bệnh và chữa bộnh
ngày càng cao và đa dạng; số lượng và chủng loại thuốc theo yêu cầu của xã hội
ngày càng tăng. Chỉ tính riêng nguyên liêu dùng để bào chế các dạng thuốc trên
thế giới hiện nay, cũng vào khoảng 20.000 hoạt chất. Từ những nguyên liệu này
người ta bào chế ra rất nhiều loại dược phẩm khác nhau. Trong những năm gần
đây ngành công nghiệp dược trên thế giới phát triển hết sức mạnh mẽ. Từ những
năm 50 của thế kỷ XX, con người mới chỉ biết 3-4 loại thuốc thì ngày nay đã có
tới hàng trăm thuốc được sử dụng, hàng ngàn thuốc đang được nghiên cứu. Sản
phẩm của thuốc hết sức đa dạng và phong phú, nhiều loại thuốc có tác dụng
mạnh, hiệu quả điều trị cao nhưng tác dụng phụ cũng rất nhiều. Do đó cần phải
hướng tới việc sử dụng thuốc hợp lý an toàn, phải hạn chế các phản ứng có hại
của thuốc. Càng ngày các nước có xu hướng lựa chọn và chỉ sử dụng một số các
loại thuốc có độ an toàn cao hơn, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của nước
mình, chẳng hạn như Na uy chỉ có khoảng 80 hoạt chất, Nigeria có khoảng 400
sản phẩm thuốc trên thị trường. Theo chương trình hành động thuốc thiết yếu của

xây dựng Ngành Dược Việt Nam phát triển một cách bền vững, đảm bảo cung
ứng nguồn thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho nhân dân. Phát triển Ngành Dược
Việt Nam đúng hướng là một yếu tố quan trọng để đảm bảo an ninh y tế và an
sinh xã hội trong giai đoạn trước mắt cũng như về lâu dài.
Trong những năm qua, Ngành Dược Việt Nam đã có những tiến bộ nhanh
và hết sức cơ bản. Ngành Dược đã cung ứng đủ thuốc cho nhu cầu phòng bệnh,
chữa bệnh của nhân dân, thuốc sản xuất trong nước đã chiếm gần 50% thị phần
dược phẩm. Từ những cơ sở sản xuất, cung ứng nhỏ bé, đến nay Ngành Dược đã
xây dựng được một hệ thống tương đối hoàn chỉnh từ sản xuất, xuất nhập khẩu,
lưu thông phân phối thuốc tới tận người bệnh. Những thay đổi trong hệ thống
cung ứng thuốc đã tạo điều kiện cho thầy thuốc và người bệnh được tiếp cận
nhanh chóng với những thành tựu của nhân loại, được sử dụng những loại thuốc
mới phát minh, những thuốc chuyên khoa đặc trị dùng để chẩn đoán và chữa trị
những bệnh nan y. Thị trường dược phẩm đã được vận hành trong nền kinh tế thị
trường có sự định hướng và quản lý của Nhà nước, dựa trên nền tảng hệ thống

4


tiêu chuẩn chất lượng được pháp quy hóa theo hướng tuân thủ và đồng bộ với
pháp luật quốc gia, hòa hợp khu vực và cam kết hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, Ngành Dược Việt Nam cũng đang đứng trước những thách
thức to lớn, đang phải đối diện với những hạn chế do cả nguyên nhân chủ quan
lẫn khách quan. Trình độ sản xuất, phân phối dược phẩm mặc dù đã tuân thủ
những quy chuẩn quốc tế cơ bản nhưng do nguồn vốn và quy mô đầu tư chưa đủ
lớn đã làm cho nền công nghiệp dược phẩm Việt Nam dường như dậm chân tại
chỗ, nếu không kịp thời khắc phục sẽ dần dần trở nên lạc hậu so với sự phát triển
không ngừng của các nước khác trên thế giới. Hệ thống và phương pháp đào tạo
chậm đổi mới tạo ra nguồn nhân lực dược thiếu về số lượng và yếu về chất
lượng. Sự yếu kém về nghiên cứu và ứng dụng không chỉ làm mất đi lợi thế

Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định ban hành Chính sách Quốc gia về
dược giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn 2030, nhằm định hướng cho Ngành Dược
Việt Nam phát triển một cách bền vững, góp phần quan trọng vào sự nghiệp
chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân.
1.3. Cung ứng thuốc trong bệnh viện
1.3.1. Lựa chọn thuốc
Lựa chọn thuốc là khâu đầu tiên trong chu trình cung ứng thuốc, là việc
xác định chủng loại thuốc để cung ứng.
Lựa chọn thuốc để xây dựng DMTBV là việc làm cần thiết; bước đầu của
quá trình hoạt động cung ứng thuốc của bệnh viện, là cơ sở cho việc điều trị hợp
lý, an toàn, hiệu quả và kinh tế.
* Nguyên tắc lựa chọn thuốc trong danh mục:
- Thuốc đảm bảo hiệu lực điều trị, an toàn
+ Danh mục thuốc chủ yếu xây dựng trên cơ sở Danh mục thuốc thiết yếu
của Việt Nam và của Tổ chức Y tế thế giới hiện hành.
+ Thuốc phải có hiệu quả rõ rệt trong điều trị, tham khảo ý kiến của hội
đồng thuốc và điều trị của bệnh viện.
+ Thuốc được Bộ Y tế cho phép lưu hành tại Việt Nam (được cấp số đăng
ký còn hiệu lực, được duyệt) và có tần xuất sử dụng nhiều tại các cơ sở khám
chữa bệnh;
+ Danh mục thuốc Y học cổ truyền thêm các tiêu chuẩn sau: Ưu tiên lựa
chọn thuốc sản xuất tại Việt Nam; những chế phẩm cổ phương và những chế
phẩm đã có uy tín trên thị trường nhiều năm; thuốc có công thức trong Dược điển

6


Việt Nam. Thuốc giữ được phương pháp bào chế truyền thống của thuốc y học
cổ truyền, đồng thời đảm bảo dạng dùng thích hợp cho sử dụng, bảo quản và lưu
thông phân phối.

Hoạt động mua thuốc tại bệnh viện được bắt đầu từ khi xác định được nhu
cầu mua thuốc dựa theo kế hoạch mua thuốc (1tháng hoặc 6 tháng...) lựa chọn
nguồn cung ứng, hợp đồng mua thuốc, giám sát thực hiện cung ứng, nhập hàng,
kiểm soát chất lượng... Hoạt động mua thuốc kết thúc khi thuốc đã được kiểm
nhập vào kho thuốc của khoa Dược.
Chu trình mua sắm thuốc gồm các bước như trong sơ đồ sau:

Xác định nhu cầu,
cân đối nhu cầu –
kinh phí
Thu thập thông
tin về sử dụng,
đánh giá

Chọn phương
thức mua
Chu trình mua
thuốc
Chọn nhà cung
ứng

Thanh toán

Kiểm nhận thuốc
và kiểm tra

Đặt hàng, theo dõi
đơn đặt hàng

Hình 1.1. Chu trình mua thuốc

tư 13/
2006/
TTBTM

Thông
tư 63/
2007/
TTBTC

Thông
tư 10/
2007/
TTLTBYTBTC

Quyết
định
491/
2008/
QĐBKH

Quyết
định
678/
2008/
QĐBKH

Quyết
định
731/
2008/

- Gói thầu mua sắm hàng hoá dưới 1 tỷ đồng
- Gói thầu mua sắm thường xuyên dưới 100 triệu đồng.
+ Chào hàng cạnh tranh: Gói thầu có giá trị dưới 2 tỷ, áp dụng với mua
sắm hàng hoá thông thường. Phải có ít nhất 3 báo giá từ 3 nhà thầu khác nhau.
+ Mua sắm trực tiếp: áp dụng khi hợp đồng có nội dung tương tự ký trước
đó không quá 6 tháng và đơn giá không được vượt quá đơn giá của gói thầu
tương tự trước đó.
* Chọn nhà cung ứng
Sau khi lựa chọn phương thức mua, cần tổ chức đấu thầu để xác định và
chọn nhà cung ứng. Phân tích đánh giá các nhà cung ứng cũ, xem xét và đánh giá
các nhà cung ứng mới về năng lực kinh doanh, năng lực tài chính, uy tín và
thương hiệu của nhà cung ứng. Bên cạnh đó nhà cung ứng phải đảm bảo thoả
mãn các yêu cầu về kỹ thuật, biện pháp cung ứng, thời hạn thực hiện hợp đồng ...
Sau khi công bố kết quả trúng thầu đã được phê duyệt, hai bên thương
thảo hoàn thiện hợp đồng và tiến hành ký kết hợp đồng mua bán bằng văn bản.
Việc thương thảo cần tập trung thống nhất các điều khoản thể hiện quyền
và nghĩa vụ của các bên theo pháp lệnh hợp đồng kinh tế.
* Đặt hàng và theo dõi đơn đặt hàng
Để xác định số lượng thuốc cần đặt hàng, chú ý các thông số sau:

10


- Mức tối thiểu: là lượng thuốc dự trữ cần thiết phải có trong kho.
- Mức tối đa: là lượng thuốc tối đa có thể chứa trong kho.
- Mức đặt hàng: là số lượng sẽ mua trong kỳ.
Các mức này được xét duyệt định kỳ và được rút kinh nghiệm để lên kế
hoạch cho kỳ sau.
Bên đặt hàng phải giám sát đơn hàng về số lượng, chủng loại, chất lượng,
giá cả, tiến độ giao hàng như đã quy định trong hợp đồng.

được sửa đổi bổ xung so với Quyết định số 03/2005/QĐ - BYT, gồm 750
thuốc/hoạt chất (Tăng 16% so với năm 2005 là 646 thuốc/ hoạt chất). Căn cứ vào
danh mục này các bệnh viện đều triển khai xây dựng DMT cụ thể sử dụng trong
bệnh viện.
Trong những năm gần đây, Chính phủ và Bộ Y tế rất quan tâm đến vấn đề
mua sắm thuốc, các văn bản pháp lý qui định, hướng dẫn việc thực hiện công tác
mua thuốc tại các cơ Sở Y tế công lập đã được bổ sung, danh mục thuốc cũng
được bổ sung cho các tuyến điều trị: Ban hành theo thông tư 02/TT- BYT ngày
15/01/2010 của Bộ Y tế là danh mục thuốc bổ sung sử dụng cho trẻ em dưới 6
tuổi thuộc phạm vi thanh toán của bảo hiểm y tế, danh mục này gồm 54 thuốc/
hoạt chất đã góp phần cho các bệnh viện tăng cường khả năng điều trị cho bệnh
nhân.
* Về hoạt động đấu thầu thuốc.
Thực trạng trên toàn quốc về cung ứng thuốc tại các cơ sở khám chữa
bệnh cho thấy tuỳ theo tình hình của từng địa phương mà công tác tổ chức đấu
thầu có khác nhau. Mặc dù nhiều địa phương thực hiện đấu thầu cung ứng thuốc,
nhưng chất lượng của công tác đấu thầu: lựa chọn mặt hàng, lựa chọn nhà cung
ứng còn nhiều điều bất cập, nhất là việc chọn nhiều thuốc biệt dược có giá thành
cao hơn thuốc gốc, đây là một bất hợp lý về giá thuốc và thương hiệu sản phẩm
đã gây tổn thất không nhỏ cho quỹ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, trong khi quỹ
đang mất cân đối trầm trọng. Bên cạnh đó không ít thuốc đấu thầu vào bệnh viện
cao hơn khoảng 10 – 20% so với giá bán lẻ, mua nhiều, số lượng lớn nhưng lại
đắt hơn thuốc bán lẻ, số lượng nhỏ đây là điều hết sức bất hợp lý.
Mặt khác trong những năm gần đây, giá thuốc trên thị trường Việt Nam có
nhiều biến động lớn, cụ thể như nhiều thuốc trúng thầu nhưng do giá trên thị
trường hiện tại cao hơn giá trúng thầu khiến các nhà cung cấp gặp khó khăn.

12




13


Sự phát triển mạnh mẽ của ngành dược, tạo ra sự đa dạng về chủng loại
thuốc, số lượng thuốc cũng như tên biệt dược của các loại thuốc. Hiện nay Việt
Nam có khoảng 101 nhà máy sản xuất thuốc đạt chuẩn GMP-WHO, thực hành
sản xuất tốt theo tiêu chuẩn của WHO (Tổ chức Y tế Thế giới).
Việc kê đơn thuốc theo tên biệt dược đã bị lạm dụng, có nơi bác sỹ mặc
nhiên coi việc kê đơn một tên biệt dược quen thuộc mới là hợp lý. Bác sỹ dường như
quen tay với việc đó và thậm chí có bác sỹ còn không biết tên gốc của thuốc là gì,
một ví dụ điển hình cùng một tên gốc Paracetamol, một loại thuốc giảm đau hạ sốt
thông thường mà tên biệt dược nhìn thôi đã thấy chóng mặt.
Việc kê quá nhiều thuốc sẽ ảnh hưởng tới sự tuân thủ điều trị, số lượng
bệnh nhân đông, thời gian giành cho việc tư vấn sử dụng thuốc của các bác sỹ và
dược sỹ thì có hạn, không hướng dẫn đầy đủ hoặc có hướng dẫn nhưng bệnh
nhân vẫn không tuân thủ điều trị là tình trạng vẫn thường xảy ra thường xuyên,
điều này ảnh hưởng tới kết quả điều trị. Phần lớn bệnh viện dùng thuốc hai lần
một ngày với mọi thuốc cho mọi người bệnh mà không căn cứ vào các đặc tính
dược động học, dược lực học của thuốc dẫn đến việc sử dụng còn chưa hợp lý.
Việc theo dõi phản ứng có hại của thuốc (ADR) đã triển khai nhưng chưa
thực sự mang lại hiệu quả thiết thực cho công tác điều trị trong bệnh viện: có sổ
sách theo dõi ADR tại các khoa phòng nhưng không có rút kinh nghiệm thường
xuyên.
Hoạt động thông tin thuốc trong bệnh viện còn yếu và lúng túng.
Tóm lại việc sử dụng thuốc vẫn còn khiếm khuyết trong sự phối hợp,
hướng dẫn thời gian dùng thuốc, thầy thuốc vẫn còn thói quen kê đơn thuốc theo
tên biệt dược, bệnh án chưa ghi đầy đủ, chữ viết cẩu thả khó đọc.
Trước tình trạng trên HĐT&ĐT của mỗi bệnh viện phải có kế hoạch hoạt
động thường xuyên từ lựa chọn thuốc, kiểm tra giám sát kê đơn của bác sỹ đến


Y tế công an 24 Quận, Huyện

Cấp phát ngoại trú

Kiểm tra đối chiếu

Kiểm tra đối chiếu

Bệnh nhân ngoại
trú

Bệnh nhân nội trú

Hình 1.3. Sơ đồ quy trình cấp phát thuốc của khoa Dược

15


Để tránh xảy ra sai sót trong khâu cấp phát trước khi cấp phát thuốc người
cấp phải thực hiện:
3 Kiểm tra: Thể thức đơn hoặc phiếu lĩnh thuốc, liều dùng, cách dùng.
Nhãn thuốc
Chất lượng thuốc
3 Đối chiếu: Tên thuốc trong đơn, phiếu và nhãn thuốc.
Nồng độ, hàm lượng thuốc trong đơn, phiếu với số thuốc sẽ giao.
Số lượng, số khoản thuốc ở đơn, phiếu với số thuốc sẽ giao về
tổ chức, chia thành kho chính và những kho lẻ.
- Kho chính: Là nơi tồn trữ, bảo quản thuốc của toàn bệnh viện để cấp
cho các kho lẻ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status