BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
TRƯƠNG THỊ NGỌC HƯƠNG
KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG THUỐC
TẠI BỆNH VIỆN CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2011
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI 2014
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
bạn bè. Đến nay luận văn đã được hoàn thành.
Với sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn
chân thành tới Tiến sĩ Vũ Thị Trâm , người thầy đã tận tình chỉ bảo,
hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn
thành luận văn.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô trong bộ môn Quản
lý và Kinh tế Dược đã cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu.
Tôi xin trân trọng cám ơn Ban Giám Hiệu, Phòng Sau Đại Học,
Phòng Đào Tạo, các phòng ban và các thầy cô giáo trường Đại Học Dược
Hà Nội đã dạy dỗ và giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại trường.
Tôi xin trân trọng cám ơn Ban Giám Đốc, khoa Dược và các khoa
phòng bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi
để tôi hoàn thành tốt luận văn.
Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới gia đình và bạn
bè, những người đã dành cho tôi tình cảm và nguồn động viên, khích lệ.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 12 năm 2013
Trương Thị Ngọc Hương MỤC LỤC
Nội dung Trang
Trang bìa chính
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
3.2.1.3. Phân tích tính thích ứng của danh mục thuốc bệnh viện 43
3.2.2. Lựa chọn phương thức mua thuốc 46
3.2.2.1. Quy trình đấu thầu 46
3.2.2.2. Quản lý chất lượng trong quá trình mua thuốc. 51
3.2.3. Phân tích, đánh giá hoạt động cấp phát thuốc của bệnh viện 52
3.2.3.1. Quy trình cấp phát thuốc 52
3.2.3.2. Công tác bảo quản thuốc và quản lý hàng tồn kho 53
3.2.4. Phân tích, đánh giá hoạt động giám sát sử dụng thuốc tại bệnh viện 56
3.2.4.1. Giám sát thực hiện danh mục thuốc bệnh viện 56
3.2.4.2. Giám sát kê đơn, chỉ định dùng thuốc. 57
3.2.4.3. Công tác dược lâm sàng và thông tin thuốc 60
CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN 65
4.1. Về một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cung ứng thuốc của BV
Chấn Thương Chỉnh Hình TPHCM 65
4.2. Về hoạt động cung ứng thuốc. 65
4.2.1. Về hoạt động lựa chọn thuốc 66
4.2.2. Về hoạt động mua thuốc 66 4.2.3. Về hoạt động cấp phát thuốc 67
4.2.4. Về hoạt động giám sát sử dụng thuốc 68
KẾT LUẬN VÀ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT. 69
1. KẾT LUẬN 69
1.1. Về một số yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động cung ứng thuốc của BV
Chấn Thương Chỉnh Hình TPHCM 69
1.2. Về hoạt động cung ứng thuốc. 70
2. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT. 71
2.1. Với Ủy ban nhân dân Thành phố và Sở Y Tế TPHCM 71
2.2. Với bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình 72
2.3. Với khoa dược. 72
WHO
Phản ứng không mong muốn của thuốc
Bảo hiểm y tế
Bệnh viện
Danh mục thuốc bệnh viện
Danh mục thuốc thiết yếu
Dược sĩ đại học
Dược sĩ trung học
Hội đồng thuốc và điều trị
Hội đồng nhân dân
Hồ sơ dự thầu
Hồ sơ mời thầu
Mô hình bệnh tật
Ủy ban nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh
47
3.5 Quy trình cấp phát thuốc
52
3.6 Mối quan hệ giữa Dược sĩ- Bác sĩ- Y tá- Bệnh nhân
58
DANH MỤC BẢNG
STT
TÊN BẢNG TRANG3.1 Cơ cấu nhân lực khoa dược bệnh viện năm 2011
28
3.2 Nguồn kinh phí mua thuốc tại bệnh viện năm 2011
31
3.3 Mức chi trả của BHYT tại bệnh viện năm 2011
31
3.4 Cơ cấu sử dụng thuốc theo chủng loại
33
55
3.15 Danh mục các mặt hàng pha chế tại bệnh viện
63
3.16 Kết quả hoạt động của nhà thuốc bệnh viện năm 2011
64
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe là tài sản quý nhất của con người và toàn xã hội. Người có
sức khỏe không chỉ là người không có bệnh tật mà còn là người được thoải
mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội. Vì vậy quan tâm chăm sóc
và nâng cao sức khỏe cho mọi người chính là quan tâm cho sự phát triển
kinh tế, xã hội của đất nước.
Trong công tác khám chữa bệnh cho toàn dân, bệnh viện là nơi thể
hiện tập trung nhất các quan điểm của Đảng và Nhà Nước về chăm sóc và
bảo vệ sức khỏe toàn dân. Bệnh viện cũng là nơi thể hiện năng lực của
ngành y tế. Công tác dược bệnh viện có vai trò rất quan trọng trong hoạt
động của một bệnh viện, nó định hướng cho công tác sử dụng thuốc tại
bệnh viện, đặc biệt là sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả. Sử dụng thuốc là
khâu cuối cùng trong công tác khám chữa bệnh nhưng kết quả của việc sử
dụng thuốc sẽ thể hiện tính hiệu quả của dịch vụ y tế.
Một trong những nhân tố quan trọng có tính ảnh hưởng lớn đến chất
lượng công tác khám chữa bệnh của bệnh viện là vấn đề cung ứng thuốc.
Hoạt động cung ứng thuốc trong bệnh viện hiện nay không chỉ gói gọn
trong việc mua và cấp phát thuốc mà bên cạnh đó còn phải đảm bảo thuốc
Trong những năm qua công tác Dược đã có những bước phát triển
mạnh về tổ chức, quản lý, sản xuất và cung ứng. Ngành Dược cơ bản đã
đáp ứng được nhu cầu sử dụng thuốc cho nhân dân cả về số lượng và chất
lượng. Thuốc sản xuất trong nước ngày càng nhiều, mẫu mã phong phú,
chất lượng ngày càng tốt hơn [16]. Trong sự tiến bộ của ngành Dược nói
chung có sự đóng góp quan trọng của công tác Dược bệnh viện. Các cơ sở
khám chữa bệnh trong toàn quốc tiếp tục duy trì và tăng cường kết quả
cung ứng và sử dụng thuốc hợp lý. Theo báo cáo của Cục quản lý Dược
Việt Nam, ngành Dược về cơ bản đã cung ứng đủ thuốc và kịp thời cho các
cơ sở khám chữa bệnh trên toàn quốc.
Theo báo cáo kết quả công tác khám chữa bệnh năm 2009,2010 của
Cục quản lý khám chữa bệnh, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng trong bệnh
viện chiếm tỷ trọng 47.9% (năm 2009) và 58.7% (năm 2010) tổng giá trị
tiền viện phí hàng năm trong bệnh viện [21], [22]. Những bất cập trong
cung ứng, sử dụng thuốc tại các bệnh viện cũng ngày càng gia tăng, chẳng
hạn như: thuốc không thiết yếu được sử dụng với tỷ lệ cao, lạm dụng kháng
sinh, vitamin…[21]
Các thuốc do ngân sách nhà nước, quỹ bảo hiểm y tế chi trả, nguồn
thu viện phí cung ứng tại các cơ sở y tế công lập thực hiện thông qua đấu
thầu với giá hợp lý, ổn định trong vòng 12 tháng, chất lượng đảm bảo.
Tuy nhiên, phần lớn các bệnh viện còn rất lúng túng trong việc triển
khai đấu thầu thuốc mặc dù đã có thông tư liên tịch của Bộ Y Tế và Bộ Tài
Chính. Vì thuốc là một loại hàng hóa đặc biệt và nhiều chủng loại do đó để
4
lựa chọn thuốc hợp lý cần có kiến thức về thuốc, về điều trị, về tính kinh tế
và tính khách quan.
Cung ứng đầy đủ, kịp thời, thường xuyên thuốc có chất lượng đáp
ứng nhu cầu điều trị an toàn, hợp lý, hiệu quả và kinh tế cho người bệnh là
một trong những mục tiêu hàng đầu của bệnh viện.
dược lâm sàng không phát huy được.
Công tác Dược lâm sàng không phải là mới, tuy nhiên cho đến nay
vẫn tập trung ở một số bệnh viện trung ương và một số bệnh viện lớn ở Hà
Nội, Thành phố Hồ Chí Minh. Khoa Dược bệnh viện đã triển khai công tác
dược lâm sàng, hướng dẫn sử dụng thuốc, nhưng nhìn chung chức năng này
còn khá mờ nhạt. Tình trạng thiếu dược sĩ đại học và trên đại học ở các địa
phương chính là nguyên nhân dược lâm sàng không phát triển được. Tại
một số bệnh viện, do còn thiếu tính khoa học nên Khoa Dược lúng túng,
tổn hao nhân lực và thời gian cho công tác đầu thầu thuốc mà lãng quên
nhiều nhiệm vụ khác
Các bệnh viện cơ bản cung ứng đủ thuốc cho người bệnh nội trú
không để bệnh nhân tự mua thuốc. Hội đồng thuốc và điều trị đã phát huy
vai trò trong cung ứng và đảm bảo chất lượng thuốc, hướng dẫn sử dụng
hợp lý, an toàn. Tuy nhiên nhiều bệnh viện vẫn có xu hướng dùng thuốc
ngoại, thuốc đắt tiền ( theo đề tài khảo sát của bệnh viện Nhi Thái Bình
năm 2010: tỉ lệ mặt hàng thuốc ngoại chiếm 41.34% nhưng tỉ lệ chi phí sử
dụng chiếm 74.08%) trong khi thuốc sản xuất trong nước hiện đang sử
dụng vẫn còn giá trị chữa bệnh.[24]
Hoạt động thông tin và theo dõi ADR: Được thực hiện dưới nhiều
hình thức như thông tin thuốc mới, thuốc bị đình chỉ lưu hành, phản ứng có
hại của thuốc xảy ra tại bệnh viện… Tuy nhiên, hoạt động thông tin thuốc
vẫn còn yếu kém, chưa thường xuyên, thường là kiêm nhiệm, có bệnh viện
còn chưa thành lập tổ thông tin thuốc. Chưa tạo được mối quan hệ mật thiết
6
giữa y và dược do đó thông tin phản hồi về tác dụng và phan ứng có hại của
thuốc còn nhiều hạn chế.[25] [26] [28] [29]
- Ngày 24 tháng 3 năm 2009, Bộ trưởng Bộ Y tế ký Quyết định số:
991/QĐ-BYT về việc thành lập Trung tâm Quốc gia về thông tin và theo
dõi tác dụng phụ của thuốc, đặt tại Trường Đại học Dược Hà Nội. Trung
là mối lo ngại cho các nhà quản lý y tế và xã hội. Từ những vấn đề trên,
ngày 16/04/2004 Bộ Y Tế sổ sung chỉ thị 05/2004/KT-Bộ Y Tế để tiếp tục
chấn chỉnh công tác cung ứng sử dụng thuốc trong bệnh viện [7] [12].
Ngày 27-07-2005 Bộ Y Tế và Bộ Tài Chính đã ban hành thông tư
liên tịch số 20/2005/TTLT-BYT-BTC để hướng dẫn thực hiện đấu thầu
cung ứng thuốc trong các cơ sở y tế công lập. Thông tư này áp dụng cho
các cơ sở y tế công lập có sử dụng nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước
theo quy định để mua thuốc phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh và phòng
bệnh với tổng kinh phí trong năm từ 200 triệu đồng trở lên đối với cơ sở y
tế công lập trung ương.
Sau hai năm thực hiện đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập theo
thông tư 20/2005/TTLT-BYT-BTC, ngày 10-08-2007, Bộ Y Tế, Bộ Tài
Chính ban hành thông tư số 10/2007/TTLT-BYT-BTC thay thế cho thông
tư 20/2005/TTLT-BYT-BTC. Thông tư số 10/2007 thay đổi một số điều
khoản so với thông tư 20/2005 như: áp dụng cho các cơ sở y tế công lập có
sử dụng nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu hợp pháp
khác để mua thuốc theo quy định tại thông tư này và các văn bản pháp luật
có liên quan (không giới hạn số tiền mua sắm tối thiểu).
Thông tư 10 quy định Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc chính phủ và các cơ quan khác ở Trung ương, Chủ tịch Ủy ban
Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm phê duyệt
kế hoạch đấu thầu mua thuốc cho các cơ sở y tế công lập thuộc phạm vi
quản lý theo quy định hiện hành. Thủ trưởng các cơ sở y tế công lập (thủ
8
trưởng đơn vị) chịu trách nhiệm phê duyệt hồ sơ mời thầu, phê duyệt kết
quả lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc của đơn vị.
Thông tư 10 quy định cụ thể các nội dung phải thực hiện gồm:
- Lập kế hoạch đấu thầu mua thuốc: căn cứ lập kế hoạch, nội dung
của từng gói thầu trong kế hoạch, giá gói thầu, hình thức lựa chọn nhà thầu,
Cấp phát thuốc
Hình 1.1.Quy trình cung ứng thuốc trong bệnh viện
9
trên kết quả của hoạt động trước đó đồng thời là nền tảng cho hoạt động kế
tiếp. Do đó các hoạt động cần có sự trao đổi thông tin và phối hợp với nhau
làm tăng hiệu quả của hoạt động cung ứng thuốc.
1.2.1. Lựa chọn thuốc
Lựa chọn thuốc trong bệnh viện có ý nghĩa quan trọng, nó ảnh hưởng
trực tiếp đến chất lượng và chi phí điều trị.
Lựa chọn thuốc là công việc đầu tiên trong chu trình cung ứng thuốc
và là khâu rất quan trọng. Lựa chọn danh mục thuốc hợp lý và thích ứng
với mô hình bệnh tật của bệnh viện là cơ sở để đảm bảo cho việc chủ động
cung ứng thuốc. Hơn nữa, việc lựa chọn để xây dựng danh mục thuốc bệnh
viện còn là cơ sở cho việc điều trị an toàn, hiệu quả và tiết kiệm chi phí, sử
dụng hợp lý nguồn tài chính trong bệnh viện [6]. Nó đóng một vai trò quan
trọng trong việc nâng cao chất lượng điều trị.
Tiêu chí để lựa chọn thuốc
- Đảm bảo phù hợp với mô hình bệnh tật.
- Thuốc có chất lượng tốt, an toàn, kinh tế.
- Phù hợp với phác đồ điều trị chuẩn.
- Đáp ứng tốt trong thực tế điều trị.
- Ưu tiên sử dụng thuốc thiết yếu và thuốc theo tên gốc.
Việc lựa chọn thuốc phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mô hình bệnh
tật tại chỗ, trang thiết bị điều trị, kinh nghiệm và trình độ của đội ngũ cán
bộ, nguồn lực tài chính, các yếu tố môi trường, địa lý…[2]
* Mô hình bệnh tật của bệnh viện.
Mô hình bệnh tật của bệnh viện là số liệu thống kê về bệnh tật trong
một khoảng thời gian nhất định (thường theo từng năm) về số bệnh nhân
đến khám và điều trị. Bệnh viện là nơi trực tiếp khám và điều trị cho người
các bệnh thông thường, tên thuốc thường là tên gốc, tên thông dụng quốc
tế, dễ bảo quản dễ sử dụng, giá cả hợp lý. Vì vậy DMTTY đã giúp cho
11
nhiều quốc gia vượt qua được tình trạng thiếu thuốc thiết yếu cho điều trị,
tiết kiệm được ngân sách quốc gia và hạn chế được tác dụng không mong
muốn của thuốc.
Thuốc thiết yếu là cơ sở pháp lý để xây dựng thống nhất các chính
sách của nhà nước về đầu tư, quản lý giá, vốn, thuế liên quan đến thuốc
phòng chữa bệnh cho người nhằm tạo điều kiện có đủ thuốc trong DMTTY
phục vụ công tác bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân. DMTTY là một
trong những căn cứ để lựa chọn thuốc trong bệnh viện.
* Danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh.
Quyết định 31/2011/ QĐ- BYT ngày 11/07/2011 có 900 hoạt chất.
Đây là danh mục thuốc tương đối đầy đủ và rộng mở nếu so sánh với các
nước trong khu vực và trên thế giới[12] [19] [23].Danh mục thuốc thiết yếu
là cơ sở pháp lý để các cơ sở khám chữa bệnh lựa chọn, xây dựng danh
mục thuốc cụ thể cho đơn vị mình. Căn cứ vào danh mục chủ yếu, mô hình
bệnh tật, khả năng kinh phí của bệnh viện để lựa chọn cụ thể từng loại
thuốc có trong danh mục đưa vào xây dựng danh mục thuốc sử dụng tại
bệnh viện phục vụ công tác khám, chữa bệnh đáp ứng các mục tiêu sau:
+ Đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, kinh tế.
+ Đáp ứng nhu cầu điều trị hiệu quả cho người bệnh.
+ Đảm bảo quyền lợi về thuốc chữa bệnh cho người bệnh thuộc diện
chi trả của BHYT.
+ Phù hợp với khả năng ngân sách của BHYT và khả năng kinh tế
của người bệnh.
* Khả năng kinh phí của bệnh viện.
Kinh phí của bệnh viện là một trong những yếu tố quan trọng để lựa
chọn và quyết định danh mục thuốc của bệnh viện. Kinh phí bệnh viện phụ
đấu thầu, chọn thầu, chỉ định thầu công khai theo quy định của nhà
nước”[5].
13
Nhằm tăng cường việc quản lý, sử dụng kinh phí của các cơ sở y tế
công lập trong việc mua thuốc, hóa chất, dịch truyền, vật tư tiêu hao, phục
vụ nhu cầu khám chữa bệnh và phòng bệnh có hiệu quả. Ngày 27/07/2005
Bộ Y Tế và Bộ Tài Chính đã ban hành thông tư liên tịch số 20/2005/TTLT-
Bộ Y Tế-BTC “Hướng dẫn thực hiện đấu thầu cung ứng thuốc trong các cơ
sở y tế công lập” tuy nhiên sau một thời gian triển khai thực hiện tại các cơ
sở y tế phát sinh một số vướng mắc do đó ngày 10 tháng 08 năm 2007 Bộ
Y Tế, Bộ Tài Chính đã ban ban hành thông tư liên tịch số 10/2007/TTLT-
Bộ Y Tế-BTC “ Hướng dẫn đấu thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế công
lập” thay thế thông tư 20/2005/TTLT-Bộ Y Tế-BTC . Thông tư liên tịch số
10/2007/TTLT-Bộ Y Tế-BTC đã sửa chữa một số điểm so với thông tư số
20/2005/TTLT- Bộ Y Tế- BTC, cụ thể:
Đối tượng áp dụng: Các cơ sở y tế công lập có sử dụng nguồn kinh
phí từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu hợp pháp khác theo quy định
để mua thuốc, hóa chất, vật tư tiêu hao, phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh
với tổng kinh phí trong năm từ 200 triệu đồng trở lên với cơ sở y tế công
lập trung ương, từ 50 triệu đồng với các cơ sở y tế tuyến quận, huyện đều
phải tổ chức đấu thầu. Đối với các cơ sở y tế công lập có tổng nguồn ngân
sách mua thuốc trong năm dưới mức quy định trên, thủ trưởng đơn vị quyết
định hình thức mua sắm cho phù hợp, có hiệu quả.
Đối tượng không áp dụng: Thuốc do nhà nước đặt hàng, máu và các
chế phẩm từ máu. Thuốc đông, nam dược trừ thành phẩm.
Thời gian phê duyêt kế hoạch đấu thầu: Không quá 10 ngày.
Phê duyệt hồ sơ mời thầu: Thủ trưởng đơn vị chịu trách nhiệm phê
duyệt hồ sơ mời thầu, kết quả lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc cho đơn vị
theo quy định hiện hành.
+ Thanh toán và kiểm nhận thuốc.
15
* Các phương thức thanh toán tiền thuốc.
Phương thức thanh toán: Tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán theo
hợp đồng
Thanh toán tiền thuốc theo đúng số lượng đã mua và đúng giá trong
hợp đồng mua bán.
* Nhận thuốc và kiểm tra thuốc.
+ Trước khi hàng nhập vào kho bên mua phải giám sát, kiểm tra giữa
dự trù với hóa đơn giao hàng có đúng số lượng, chủng loại, chất lượng
thuốc như đã quy định trong hợp đồng trước đó hay không. Khi giao hàng
phải có đầy đủ giấy báo lô, ghi rõ số đăng ký, số kiểm soát, lô sản xuất, hạn
dùng của thuốc, phiếu kiểm nghiệm.
+ Đối với thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần khi kiểm nhận phải
làm biên bản kiểm nhập theo quy chế thuốc độc.
+ Thuốc nhập vào kho phải thông qua hội đồng kiểm nhập theo quy
định của bệnh viện.
1.2.3. Cấp phát thuốc.
* Về tổ chức kho:
Hệ thống kho dược được chia thành kho chính và kho lẻ phục vụ cho
hoạt động cấp phát thuốc nội trú và ngoại trú, cấp phát thuốc là hoạt động
quan trọng trong cung ứng thuốc, khoa dược có quy trình cấp phát thuốc,
thủ tục hợp lý, đảm bảo chặt chẽ, đúng nguyên tắc.
- Kho chính: Thủ kho là dược sĩ đại học giúp trưởng khoa làm dự trù
mua thuốc, nắm vững tình hình tồn kho, cấp phát thuốc cho các kho lẻ.
- Kho cấp phát lẻ: Cấp phát cho bệnh nhân ngoại trú có thẻ bảo hiểm
y tế, các khoa phòng. Phiếu lĩnh thuốc phải được trưởng khoa dược hoặc
dược sĩ được ủy quyền ký tên.
Trước khi giao thuốc dược sĩ phải thực hiện 03 kiểm tra 03 đối chiếu