Lời nói đầu
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển như vũ bão của ngành
công nghệ thông tin và sự ra đời của internet, thương mại điện tử cũng (TMĐT)
đã phát triển nhanh chúng trờn toàn thế giới. Tại các nước phát triển như
Canada, Mỹ, liên minh Châu Âu (EU), TMĐT đã phát triển mạnh mẽ và mang
lại nhiều lợi Ých cho cả người sản xuất và người tiêu dùng. ở các nước này,
khách hàng sẽ không cần phải đến các cửa hàng bán lẻ để mua hàng hoá mà việc
mua bán có thể diễn ra ngay tại nhà. Bên chiếc máy vi tính nối mạng bạn có thể
tiến hành giao dịch với bất kỳ cửa hàng nào trên thế giới và bất kỳ thời gian nào.
Các cửa hàng trên mạng không bao giê đóng cửa và có thể đáp ứng tối đa nhu
cầu của bạn. Còn đối với các donh nghiệp, TMĐT giúp họ tiếp cận trực tiếp với
khách hàng trên toàn thế giới, mở rộng thị trường, thúc đẩy xuất khẩu .... hơn thế
nữa, TMĐT còn là công cụ quan trọng giỳp cỏc nước đang triển từng bước rút
ngắn khoảng cách kinh tế với các nước phát triển.
Ở Việt Nam, Đảng và nhà nước ta đã sớm nhậm thức được tầm quan trọng
của thương mại điện tử. Với chủ chương đi trước đón đầu (công nghiệp hoá gắn
với hiện đại hoá) TMĐT cũng đang từng bước được triển khai. Tuy đến nay,
mới chỉ có một số doanh nghiệp mạnh rạn đi đầu trong việc thành lập các cửa
hàng và siêu thị ảo, số còn lại còn chưa quan tâm hoặc mới chỉ dừng lại ở việc
thành lập các Website để quảng cáo về sản phẩm và thương hiệu. Với mục đích
đưa ra một cách nhìn tổng quát về sự phát triển của TMĐT giữa doanh nghiệp
và khách hàng, tôi chọn đề tài đề án môn học là: "Thực trạng và giải pháp phát
triển thương mại điện tử B2C ở Việt Nam".
Nội dung đề án bao gồm ba chương:
Chương I. Tổng quan về thương mại điện tử B2C
Chương II. Thực trạng của thương mại điện tử B2C ở Việt Nam
Chương III. Giải pháp phát triển thương mại điện tử B2C ở Việt Nam.
1
người bán, hỗ trợ khách hàng và quản lý cơ sở dữ liệu khách hàng hoàn
toàn trên mạng;
• eBusiness: Kinh doanh điện tử, là các ứng dụng cho phép thực hiện giao
dịch giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác và với khách hàng của
doanh nghiệp đó;
• eEterprise: Doanh nghiệp điện tử, đó là một số doanh nghiệp ứng dụng cả
B2C và B2B.
Vậy TMĐT và kinh doanh điện tử là hoàn toàn khác nhau, doanh nghiệp
Việt Nam nên bắt đầu từ B2C hay TMĐT. Trước tiên chúng ta cầm thiết lập
3
quan hệ với khách hàng trên mạng internet, bán hàng qua internet, hỗ trợ khách
hàng, quản lý cơ sở dữ liệu khách hàng qua internet để từng bước tham gia vào
TMĐT.
2. Đặc điểm của thương mại điện tử
Giao dịch TMĐT được thực hiện trên cơ sở của giao dịch truyền thống, như
vậy giao dịch TMĐT có liên quan đến thương mại truyền thống. Khác với giao
dịch truyền thống được tiến hành trên giấy, qua phương tiện thông tin, bằng xe
tải máy bay hay các phương tiện khỏc. Cỏc giao dịch điện tử được tiến hành
trờn cỏc phương tiện điện tử mà chủ yếu là mạng internet.
Để tiến hành giao dịch TMĐT cần có một số chương trình mỏy tính cài đặt ở
điểm cuối của giao dịch hoặc quan hệ thương mại.
TMĐT là một hệ thống bao gồm nhiều giao dịch thương mại. Các giao dịch
này không chỉ tập trung vào việc mua sắm hàng hoá, dịch vụ trực tiếp tạo ra thu
nhập cho doanh nghiệp, mà còn bao gồm các giao dịch hỗ trợ tạo ra lợi nhuận
như kích thích gợi mở nhu cầu đối với hàng hoá, dịch vụ, hỗ trợ chào bán tạo
điều kiện thuận lợi cho quá trình thông tin liên lạc giữa doanh nghiệp với khách
hàng.
các doanh nghiệp trực tiếp đến người tiêu dùng cuối cùng thông qua mạng
internet.
Vậy bán hàng trực tuyến đã tạo ra một cách thức mới trong phân phối
hàng hoá của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể bán hàng hoá một cách trực
tiếp cho khách hàng của mình mà không cần bất kỳ cửa hàng vật lý
nào( Amazon, một công ty bỏn sỏch trực tuyến, mở trang web từ năm 1995 và
nhanh chóng trở thành nhà bán lẻ nổi tiếng trên khắp thế giới). Nhờ đó giảm bớt
chi phí tiờu thụ như chi phí cho các cửa hàng thực, các đại lý, tối thiểu hoá chi
phí bảo quản hàng tồn kho. TMĐT cũn giỳp cho khoảng cách giữa người sản
xuất và người tiêu dùng được thu hẹp, giúp họ có thể trao đổi trực tiếp với nhau.
Tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng hơn với các doanh nghiệp nhỏ, các
doanh nghiệp nhỏ có thể tiếp cận với người tiêu dùng toàn cầu thông qua mạng
internet. Do TMĐT cho phép khách hàng và doanh nghiệp tiếp xúc trực tiếp với
nhau từ đó tạo điều kiện cho người sản xuất nắm bắt tốt hơn những thông tin từ
người tiêu dùng, để có những cải tiến và sửa đổi kịp thời, đáp ứng nhu cầu
khách hàng. Người tiêu dùng thỡ cú thể đưa ra yêu cầu về sản phẩm trực tiếp với
nhà sản xuất. Hơn nữa công cụ tìm tin trực tuyến cũn giỳp khách hàng nhanh
5
chóng tìm được mặt hàng mong muốn và có được sự lùa chọn nhà cung cấp trên
phạm vi toàn cầu. Qua đó giúp họ tiết kiệm thời gian mua sắm để có nhiều thời
gian cho các hoạt động khác.
2. Giao dịch thương mại điện tử
2.1 Phân biệt các loại giao dịch trong thương mại điện tử
Giao dịch TMĐT gồm có 2 loại là TMĐT B2B (giao dịch giữa doanh nghiệp
với doanh nghiệp) và B2C.Vậy sự khác biệt giữa B2B và B2C là gì?
Thứ nhất, sự khác nhau về khách hàng, khách hàng của giao dịch B2B là các
công ty, còn khách hàng của B2C là các cá nhân. Xét về tổng thể thỡ cỏc giao
chí bán lẻ
Theo mẫu in sẵn
Trang web
Gửi thư điện tử
Thư điện tử, trang web
6
4. Kiểm tra hàng
5. Lập hoá đơn
6. Phân phối sản phẩm
7. Thanh toán
Trực tiếp
Theo mẫu in sẵn
Trực tiếp
Tiền mặt, thẻ tín dụng
Qua CSDL trực tuyến,
trang web
CSDL trực tuyến
Nhà vân chuyển, các
mạng thông tin
Thẻ khấu trừ, thẻ từ ..
Bảng 1: Phương thức cũ và mới thực hiện mua bán sản phẩm
Qua bảng 1 ta thấy mua hàng qua mạng và mua hàng truyền thống có nhiều
bước giống nhau nhưng cách thức mà thống tin được nhận và truyền tải lại khác
7
truyền thống. Do tính ổ định về các đặc điểm của chỳng,chi phớ sản xuất
xác định và thường đã được khách hàng biết đến;
•
Những hàng hoỏ bỏn theo phương thức này thường là những hàng hoá
không mang tính cấp thiết, không cần dùng ngay so với các mặt hàng mà
họ cần dùng ngay lập tức. Các nhà sản xuất có thể thể xây dựng kế hoạch
sản xuất, vận chuyển hoặc giao hàng theo đơn đặt hàng trên internet;
•
Do những yêu cầu trờn nên những sản phẩm bỏn trờn mạng phổ biến là:
đĩa CD, sách, dụng cụ nấu nướng, những vật dụng lưu niệm về thể thao),
phần mềm máy tính.... Trong đó đĩa CD vẫn là mặt hàng được mua phổ
biến nhất trên mạng trong 3 năm liên tiếp. Tuy nhiên, vào năm 2001, tỷ lệ
người sử dụng mua mặt hàng này giảm đi nếu so với năm trước đó. Việc
đặt vé máy bay đi du lịch chiếm 11% số người mua hàng trực tuyến.
Người Hàn Quốc và Mỹ mua quần áo nhiều nhất trên mạng, 25% số
người mua hàng trên mạng.
III. Kinh nghiệm của một số nước trong phát triển thương mại điện tử
1. Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là một nước công nghiệp phát triển nhất thế giới, với cơ sở hạ
tầng phát triển đã tạo điều kiện quan trọng để nước này nhanh chóng chuyển
sang TMĐT. Hiện nay Hoa Kỳ là nước đi tiên phong trong TMĐT. Tính tới
7/1997 số lĩnh vực kinh doanh của mỹ có sử dụng TMĐT đó nờn tới hàng nghìn,
cho đến năm 2002 doanh số TMĐT của Mỹ chiếm 50% doanh số TMĐT toàn
những người những quốc gia khác nhau.
2. Các nước ASEAN
Bắt đầu cú các hoạt động tập thể về TMĐT năm 1997, với cơ sở hạ tầng
CNTT, pháp lý yếu kém, sự dè dặt nhất định trước các rủi ro, tổn thất có thể xảy
ra. Khi buộc phải tham gia trong lúc môi trường thích hợp chưa được tạo dựng
và giữa các nước chưa có khả năng liờn thông, liờn tỏc. Bản các nguyên tắc chỉ
đạo của ASEAN cho thấy các đánh giá đúng mức của tổ chức này. Các nguyên
tắc chỉ đạo đó là:
•
Chính phủ đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo môi trường cho sự phát
triển TMĐT;
•
Các doanh nghiệp chấp nhận và áp dụng TMĐT theo các cam kết trong
khu vực doanh nghiệp phải đảm bảo tính cạnh tranh;
•
Thiết lập một cơ sở hạ tầng CNTT dễ tiếp cận, chi phí thấp;
•
Đảm bảo ròng thông tin và tôn trọng sự tự định đoạt của từng cá nhân
song song với việc đảm bảo các nguyên tắc quốc gia về văn hoá xã hội và
sự khác biệt về văn hoá giữa các quốc gia;
•
Liên tục kiểm nghiệm các phản ánh của TMĐT vào hệ thống thuế và hợp
tác chặt chẽ để đảm bảo tính toàn vẹn của của hệ thống thuế.
Tóm lại tuy mỗi nước có một cách tiếp cận TMĐT khác nhau song đều gồm
7 bước sau:
Hình thành một hệ thống các quan điểm và nguyên tắc chỉ đạo về TMĐT;
•
Phổ cập kiến thức về TMĐT tới các doanh nghiệp và từng cá nhân;
•
Xác định các cản trở hiện hữu trên đất nước mình, trong khu vực và thế
giới;
•
Xác định chiến lược từng bước tiếp cận TMĐT;
•
Các bước tiến hành gồm: xây dựng một chương trình tổng thể, xây dựng
chương trình hoạt động từng bước, triển khai thực hiện;
•
Hoạt động TMĐT chủ yếu do các doanh nghiệp tiến hành, chính phủ chỉ
tạo môi trường và xúc tiến;
&TT sẽ làm nòng cốt để Việt Nam sẽ trở thành một trong những nước dẫn đầu
ASEAN về xã hội CNTT và ứng dụng CNTT & TT. Cụ thể là đến năm
2010,giao dịch TMĐT sẽ chiếm 25-30% tổng số các giao dịch của các ngành
kinh tế . Tốc độ tăng trưởng trung bình của ngành CNTT sẽ là 25-30% ,mật độ
điện thoại sẽ là 26-27 máy /100 dân (ở hai thành phố lớn la Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh sẽ đạt 35-40 mỏy/100 dõn). Mật độ bình quân thuê bao internet là
8,4 thuê bao/100 dân (trong đó 30% là thuê bao băng rộng). Tỷ lệ dân số sử
dụng internet khoảng 40%, mật độ bình quân máy tính cá nhân ước tính đạt 10
mỏy/100 dõn, ...
2. Cơ sở nguồn nhân lực công nghệ thông tin
Để mua bán trên mạng có thể thực hiện được, không chỉ cần đến cơ sở hạ
tầng công nghệ thông tin mà còn cần có đội ngò chuyên gia về tin học và cộng
đồng sử dụng internet (người tiêu dùng).
Đội ngò chuyên gia về tin học sẽ thiết kế các phần mền và quản lý cỏc kờnh
bán hàng trực tuyến. Trước năm 1980 nước ta chưa có khoa công nghệ thông tin
trong các trường đại học, chưa có một hệ thống đào tạo nào cho chuyên nghành
khoa học mới mẻ này. Sau năm 1980 nhiều trường đại học đã thành lập khoa
công nghệ thông tin. Số cử nhân công nghệ thông tin được đào tạo ngày càng
nhiều với chất lượng cao ở cả trong và ngoài nước. Các chuyên gia tin học của
11
nước ta chủ yếu là các chuyên gia phần mềm, nhưng chưa có đủ năng lực để xây
dựng các phần mềm có qui mô toàn cục (ở mức quốc gia và quốc tế);
Cộng đồng sử dụng internet: Trình độ phổ cập tin học ở nước ta ngày càng
tăng nên đặc biệt là ở các thành phố lớn. Theo số liệu thống kê, năm 1999 số
người sử dụng internet/ web trên 1000 dân là 0.02 (chỉ bằng 1/10 ở Brunõy), cả
nước chỉ có VDC là công ty duy nhất đầu vào mạng (IAP) và 4 nhà cung cấp
dịch vụ (ISD) kể cả VDC ( so với 16 ở Thái Lan và 120 ở Philipin). Nhưng chỉ
còn đang được Bộ thương mại soạn thảo để trình Chính phủ phê duyệt vào năm
2005. Mặc dù, bộ luật thương mại năm 1997 qui định hợp đồng thương mại có
thể dưới dạng “nói, viết hoặc hành vi cụ thể”, bộ luật cũng qui định “điện tín,
điện báo, fax, email và các hình thức liên lạc điện tử khác được coi là dưới dạng
văn bản”. Văn bản pháp luật này đã thừa nhận tính chất pháp lý của văn bản
điện tử song đến nay vẫn chưa có một văn bản cụ thể nào qui định về chữ ký
điện tử, giao dịch điện tử và chứng thực điện tử ... Đây là rào cản rất lớn đối với
sự phát triển của TMĐT ở Việt Nam. Vì các doanh nghiệp ở trong và ngoài
nước khó có thể tham gia TMĐT khi chưa được đảm bảo rằng hệ thống pháp
luật Việt Nam hỗ trợ và công nhận hoạt động kinh doanh ứng dụng CNTT.
4. Các hoạt động liên quan
Từ cuối năm 1997 cùng với sự xuất hiện của internet, TMĐT cũng bắt
đầu được biết đến nhưng còn rất xa lạ ở Việt Nam. Sau khi ra nhập ASEAN
(10/97) và APEC (14/11/98), Việt Nam đã tham gia hội nghị ASEAN về
TMĐT, sau đó tham gia vào chương trình hành động về TMĐT của Apec. Đến
cuối năm 1998 một số tổ chức chuyên trách về TMĐT được thành lập như Ban
TMĐT thuộc Bộ thương mại ( thành lập 12/1998), mở cỏc lớp tập huấn về
TMĐT cho các doanh nghiệp . Sau một số siêu thị, cửa hàng trực tuyến và các
sàn giao dịch điện tử cũng nhanh chóng xuất hiện và đi vào hoạt động như siêu
thị VDC, sàn giao dịch Vnemart....
II. Quá trình triển khai thương mại điện tử B2C ở Việt Nam
1. Một số doanh nghiệp đã áp dụng TMĐT ở Việt Nam hiện nay
TMĐT đã khởi động được hơn 5 năm ở Việt Nam, nhưng có thể nói hiện
nay TMĐT ở Việt Nam vẫn còn trong giai đoạn sơ khai. ở Việt Nam hiện nay
mới chỉ có 2% doanh nghiệp có Website, 8% doanh nghiệp bắt đầu sử dụng
13
là
Website này đã thu được một số thành công
bước đầu. Với nhiều đơn hàng có giá trị (300-500 USD) đã được phục vụ theo
đúng nhu cầu. Mới đây VDC tiếp tục cho ra dịch vụ cung cấp hàng tiêu dùng
qua mạng hay còn gọi là VDC siêu thị với tên miền là />hay đây có thể coi là một trung tâm TMĐT trên
mạng với qui mô lớn từ trước tới nay. Hàng hoá bao gồn rất nhiều loại từ nhiều
hãng có tên tuổi ở Việt Nam và trên thế giới như: LG, Samsung, Electrolux,
Phillips, Kodak,Vinamilk... Hàng hoỏ bỏn trờn mạng được chia ra làm 4 loại
hàng chính:
- Thực phẩm - đồ uống: bao gồm sữa, trà...
- Rượu: rượu mạnh, rượu vang
- Đồ dùng cá nhân: mỹ phẩm, dầu gội, sữa tắm...
- Đồ điện tử gia dông: tivi, tủ lạnh, máy giặt....
Siờu thị VDC có thể thu được một số thành công đáng kể trên là do hàng
được bỏn trờn siêu thị giá thấp hơn bán tại cửa hàng thực và hàng được chuyển
đến tậm nhà, có nhiều phương thức thanh toán linh hoạt cho khách hàng lùa
chọn: thanh toán bằng tiền mặt chuyển khoản, chuyển tiền qua bưu điện. Điều
này rất phù hợp với những người thường xuyên phải đi công tác xa hoặc xa quê
muốn gửi quà cho người thân. Cách thức mua hàng cũng rất thuận lợi. Trên mỗi
sản phẩm đều có ảnh và mô tả chi tiết về tính năng, công dụng, tiêu chuẩn kỹ
Http://www.Vnexpress.com.vn/
Tin nhanh ViÖt Nam, ngµy 23/7/2004
(1)
14
thuật, hướng dẫn sử dụng kèm theo giá cả. Sau khi xem xét mọi thông tin, khách
các đối tác và bạn hàng quốc tế;
Trung tâm giao dịch thương mại, thông qua sàn giao dịch các doanh
nghiệp có thể tìm kiếm đối tác, bạn hàng, và tiến hành đàm phán hợp đồng
thương mại;
15
Trung tõm thụng tin h tr doanh nghip, vi 40.000 trang ti liu v th
-
trng, phỏp lut v tp quỏn thng mi, cỏc doanh nghip s c tip cn
vi ngun thụng tin phong phú;
Trung tõm h tr doanh nghip, thụng qua cỏc sn giao dch, cỏc doanh
-
nghip s c cung cp thụng tin v cỏc vn bn chớnh sỏch, cỏc quy nh
v tp quỏn thng mi quc t, t vn cho cỏc doanh nghip tham gia vo
TMT;
Din m cho cỏc doanh nghip, sn giao dch l din m cho cỏc doanh
-
nghip cú iu kin trao i, hc hi kinh nghim, hi ỏp nhng vn
quan tõm.
Trong giai on th nghim bt u t thỏng 4/2003, sn giao dch s h tr
giao dch, m phỏn kớ hp ng thc hin giao dch trc tuyn (B2B), tin hnh
yêu cầu,
dữ liệu
Máy chủ tại trung
tâm thông tin
Bộ thơng mại
Thông
tin xác
nhận
đơn
hàng
cách
thức
giao
hàng
16
Hình 2 Mô hình hệ thống bán hàng qua mạng
Đây là một mô hình hệ thống được lùa chọn. Theo thiết kế, trung tâm thông
tin Bộ thương mại sẽ đóng vai trò trung tâm giao dịch. Tại đây sẽ xây dựng một
website mua bán hàng hoỏ. Cỏc siêu thị sẽ cung cấp thông tin về danh mục mặt
hàng và về doanh nghiệp. Thông qua website khách hàng có thể tìm kiếm đặt,
chọn hàng,đặt mua hàng,... Các thông tin này sẽ được kiểm tra và xây dựng
thành các đơn hàng và được chuyển về các siêu thị tương ứng. Khi nhận được
đơn hàng các chủ siêu thị sẽ kiểm tra và gửi thông tin xác nhận đơn hàng cùng
phương thức thanh toán và giao hàng. Trong công việc thanh toán, người sử
dụng có thể sử dụng phương thức thanh toán bằng tiền mặt hoặc qua ngân hàng.
3. Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý ở Việt Nam còn chưa hoàn thiện pháp lệnh TMĐT và
giao dịch điện tử còn đang trong quá trình soạn thảo. Chưa có một văn bản pháp
lý nào công nhận chữ ký điện tử, chứng thực điện tử .... Chưa có hành lang pháp
lý điều trỉnh hoạt động TMĐT khi có mâu thuẫn phát sinh.
4. Phương tiện thanh toán
Phương tiện thanh toán trong các giao dịch TMĐT điện tử ở Việt Nam hiện
nay chủ yếu là thẻ tín dụng, tiền mặt. Những phương tiện thanh toán thường chỉ
được dùng trong thị trường bán lẻ hàng hoá thông thường. Con các phương tiện
thanh toán điện tử như thẻ ghi nợ, thẻ khấu trừ ... còn chưa được sử dông.
5.Thị trường bán lẻ còn khiêm tốn
Bán lẻ trong TMĐT ở Việt Nam cũn khỏ khiêm tốn và chỉ có ở một số
thành phố lớn là Hà Nội thành phố Hồ Chí Minh và một số thành phố khác.
Nguyên nhân là do trình độ tin học trong dân cư còn thấp, Ýt có cơ hội tiếp cận
với phương tiện kĩ thuật hiện đại như máy vi tính và thãi quen tiêu dùng. Người
18
dân đã quen với việc đến các cửa hàng các siêu thị để mua sắm hàng hoá, họ coi
đó là một thãi quen và cũng là một hình thức giải trí.
Chương III - giải pháp phát triển thương mại điện tử B2C ở Việt Nam
Có thể nói TMĐT là con dao hai lưỡi đối với các nước đang phát triển: nếu
được triển khai ở giai đoạn đầu với sự tham gia đông đảo của cộng đồng kinh
doanh , TMĐT có thể thúc đẩy sự phát triển chung, thậm chí đối với cả những
doanh nghiệp không liên quan trực tiếp đến TMĐT. Mặt khác nếu tham gia
19
,đặt hàng ,giao hàng và thanh toán đều được thực hiện từ xa.
20
TMĐT với công ty vào cuối năm 1995 khi họ được đưa catalog lên internet.
Ngay sau đó công ty đã có thể nhận đơn hàng qua email hoặc đặt hàng và thanh
toán trực tuyến qua web. Như vậy, việc áp dụng TMĐT tương đương với việc
đưa ra một kênh liên lạc mới : Chào hàng thông qua web, đặt hàng qua web
hoặc email, cung cấp thông tin về thẻ tín dụng qua web.
Mãi tới tháng 7/97, luật về chữ kí điện tử ở Đức mới được thông qua và cho
tới nay vẫn chưa có văn bản pháp luật rõ ràng về việc mó hoỏ thông tin được
ban hành ở Đức.
Vì bán hàng qua mạng hoàn toàn khác với bán hàn truyền thống doanh
nghiệp không phải thông qua các đại lý mà trực tiếp bán hàng tới người tiêu
dùng. Để làm được việc đó trước hết doanh nghiệp cần làm gì?
1.1 Tăng cường khả năng công ngệ thông tin
Bán hàng qua mạng là một kênh phân phối mới cao cấp nó đòi hỏi một đội
ngò nhân lực phù hợp. Doanh nghiệp nờn cú thờm bộ phận chuyên trách quản lý
vấn đề này (phòng bán hàng qua mạng thuộc phòng bán hàng), nhân viên của
phòng này phải là những người am hiểu về internet và phương thức bán hàng
qua mạng . Cơ sở hạ tầng CNTT của doanh nghiệp cũng cần được nâng cấp để
đáp ứng yêu cầu mới.
1.2 Cải tiến bộ máy quản lý
Cơ cấu bộ máy quản lý thông thương không thích hợp với doanh nghiệp khi
tham gia TMĐT. TMĐT đặt ra một yêu cầu rất cao về tốc độ xử lý đơn đặt
hàng, giao hàng, dịch vụ hậu mãi. Để đạt được điều này doanh nghiệp cần có
một số vị trí nhân sự mới và cơ cấu tổ chức mới phân biệt rõ ràng phục vụ cho
kênh bán hàng.
1.3 Thay đổi văn hoá doanh nghiệp
truyền thống.
2.2. Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia vào thương mại
điện tử
Trong giai đoạn Việt Nam bắt đầu bước vào TMĐT chính phủ cần có các
biện pháp
*Khuyến kích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia TMĐT
Giảm cước phí internet truy cập internet cho các doanh nghiệp khi bắt đầu tham
gia TMĐT, lập ra các tổ chức tư vấn cho doanh nghiệp về vấn đề TMĐT.
22
* Chớnh phủ các nước cần phải trỏnh cỏc hạn chế không cần thiết đối với
thương mại điện tử
Các bên tham gia TMĐT cần phải thông qua internet mà đạt được các thoả
thuận pháp lý về mua bán sản phẩm, dịch vụ mà sự can thiệt của chính phủ là tối
thiểu. Chính phủ các nước nên tránh áp đặt các qui định mới không cần thiết và
các thủ tục quan liêu hoặc thuế suất với giao dịch qua mạng internet. Hiểu được
sự cần thiết phải khởi động TMĐT ở Việt Nam.
Hiểu rằng không cần thiết phải điều tiết tất cả mọi thứ trước khi TMĐT có
thể được tiến hành. Tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, TMĐT ra đời trước
khi bất cứ đạo luật liên quan nào được ban hành. Chính phủ không nên can thiệp
quỏ sõu vào hoạt động TMĐT, mà chỉ cần gỡ bỏ một số cản trở nhỏ trong ngân
hàng, bưu điện là có thể tiến hành TMĐT.
4. Đẩy mạnh phát triển công nghệ thông tin
Cần khẩn trương kiện toàn và thống nhất hệ thống chỉ đạo triển khai các
trương trình, đề án ứng dụng phát triển CNTT- Viễn thông, đảm bảo nội dung và
phương pháp tiến hành, sự hài hoà giữa liên kết và kinh phí.
Nghiên cứu và đề xuất cơ chế cụ thể liên kết giữa các cơ quan nghiên cứu
khoa học, cơ quan đào tạo với doanh nghiệp CNTT-Viễn thụngvà quản lý nhà
là một vấn đề mới nhiều khía cạnh mà các nước trên thế giới vẫn đang nghiên
cứu tìm hiểu,do đó chúng ta cần phải có thời gian để hoàn thiện dần dần.
Vì internet là một không gian thị trường toàn cầu nên khuôn khổ pháp lý cho
hoạt động của nó phải có tính nhất quán trên thị trường toàn cầu. Do đó khi tiến
hành xây dựng hành lang pháp lý cho cho hoạt động TMĐT cần tham khảo các
quy định về TMĐT trên thế giới và các quốc gia khác. Pháp lệnh TMĐT cần
phải tạo môi trường pháp lý đơn giản nhất quán, tối thiểu các cản trở cho việc
tham gia TMĐT của các doanh nghiệp. Đảm bảo cạnh tranh, bảo vệ sở hữu trí
tuệ và bí mật riờng tư, ngăn ngõa gian lận, nâng cao tính công khai. Chính phủ
các nước cần phải thừa nhận các đặc thù của internet, tạo lập những qui định cho
sự phát triển của nó.
Kết luận
24
TMĐT đang là một chủ đề mới được nhiều người quan tâm, song vẫn còn
tương đối xa lạ với doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam. Bỏn hàng trên
mạng internet dường như còn chưa dành được sự quan tâm xứng đáng của
doanh nghiệp còng như người tiêu dùng. Doanh nghiệp còn thờ ơ trước TMĐT,
do họ cho rằng bán lẻ qua mạng là một kênh bán hàng chỉ thích hợp ở các nước
phát triển như Mỹ, Canada ... và của các doanh nghiệp lớn. Nhưng thực tế họ đã
nhầm vì ngay cả ở nước ta cũng đó cú một số doanh nghiệp đi đầu trong phát
triển TMĐT và đã thu được một số thành công đáng kể như VDC, VCCI, các
làng nghề thủ công mỹ nghệ. TMĐT đã mở ra một cơ hội mới đầy hấp dẫn, tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp
lớn và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia vào thương mại quốc tế, tiếp cận
với thị trường nước ngoài, đẩy mạnh xuất khẩu. Vì vậy các doanh nghiệp và nhà
nước cần có các biện pháp để nhanh chóng thúc đẩy sự phát triển của TMĐT.