RÈN KĨ NĂNG KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG KÊNH HÌNH TRONG DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÝ LỚP 9 - Pdf 33

CHUYÊN ĐỀ
RÈN KĨ NĂNG KHAI THÁC VÀ SỬ
DỤNG KÊNH HÌNH TRONG DẠY HỌC
MÔN ĐỊA LÝ LỚP 9

1


MỤC LỤC
Danh mục các bảng……………………………………………………………..2
Các chữ cái viết tắt…...…………………………………………………………3
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ………………………………………………………..4
1.Lí do chọn chuyên đề…………………………………………………………4
2.Mục đích nghiên cứu……………………………………………………...…..5
3.Nhiệm vụ nghiên cứu…………………………………………...…………….5
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu.................................................................5
5. Phạm vi nghiên cứu..........................................................................................6
6. Phương pháp nghiên cứu……………………………..…………………........6
7. Cấu trúc của chyên đề......................................................................................6
PHẦN II. NỘI DUNG …………………………………………………….........8
I.Tổng quan vấn đề nghiên cứu…………………………………………………7
II.Thực trạng vấn đề nghiên cứu.………………………………………….……9
1.Thuận lợi………………………… ………………………………………….9
2.Khó khăn ……………………...……………………..............……………....9
3. Nguyên nhân của thực trạng……………………….………………………..11
III. Phương pháp khai thác kênh hình trong giảng dạy Địa Lí 9……………….11
1. Đặc điểm kênh hình trong SGK Địa Lí 9- THCS………………………......11
2. Các loại kênh hình trong dạy học Địa Lí 9………………………………….12
3. Xác định việc sử dụng kênh hình trong các khâu dạy học Địa Lí…………..13
4. Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình cụ thể……………...14
IV.Khai thác kênh hình cụ thể trong bài dạy Vùng đồng bằng sông Cửu Long 22

Cũng như các môn học khác trong nhà trường phổ thông môn Địa lí cũng
đang đứng trước những vận hội và thách thức mới. Để phù hợp với đặc trưng
môn học đồng thời thực hiện tốt quá trình đổi mới phương pháp giáo dục theo
hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh thì việc dạy và học Địa lí trong nhà
trường phổ thông muốn đạt hiệu quả cao cần phải có sự kết hợp nhuần nhuyễn
trong việc khai thác hệ thống kênh chữ và kênh hình. Sở dĩ như vậy vì kênh hình
ngoài chức năng đóng vai trò là phương tiện trực quan minh hoạ cho kênh chữ,
nó còn là một nguồn tri thức lớn có khả năng phát huy tính tích cực chủ động,
sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập. Bên cạnh đó, thông qua kênh hình
con đường nhận thức của học sinh được hình thành, giúp cho học sinh tự mình
phát hiện và khắc sâu kiến thức. Sử dụng kênh hình còn giúp cho giáo viên tổ
chức việc dạy và học theo đặc trưng bộ môn nhằm đạt hiệu quả cao.
Trong thời gian gần đây sách giáo khoa Địa lí đã có nhiều thay đổi phù
hợp hơn với nhu cầu đổi mới dạy và học. Trong đó, số lượng kênh hình chiếm tỉ
lệ khá cao với nội dung phong phú: bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh, bảng số liệu và
được thể hiện bằng màu sắc có tính khoa học, trực quan cao đảm bảo thuận lợi
cho việc dạy và học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh.
Để có thể khai thác được tối đa hệ thống kiến thức của sách giáo khoa việc
hướng dẫn cho học sinh phương pháp khai thác hệ thống kênh hình là một trong
những nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên Địa lí. Vì vậy, tôi chọn chuyên
đề nghiên cứu: “Rèn luyện kĩ năng khai thác và sử dụng kênh hình trong dạy
học Địa lí lớp 9”
1.2. Cơ sở thực tiễn
Hiện nay, cùng với việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa tạo điều
kiện cho học sinh có thể tự học và tự nghiên cứu nhiều hơn thì việc đổi mới
phương pháp cũng đang được các GV chú ý và thực hiện. Một loạt các phương
pháp dạy học “lấy học sinh làm trung tâm” đã và đang được GV sử dụng trong
quá trình dạy học.
Đối với môn Địa lí, việc đổi mới phương pháp dạy học để phát huy tính
tích cực, chủ động tìm tòi kiến thức càng có ý nghĩa quan trọng. Trong thực tế

hợp hài hoà làm sao học sinh có thể lĩnh hội tri thức một cách tốt nhất. Khi khai
thác các kênh hình Địa lí, ngoài chức năng là “nguồn minh hoạ cho kiến thức”
giáo viên cần chú ý đến chức năng là “nguồn tri thức” và “nguồn cung cấp kiến
thức”cho HS. Đồng thời tạo điều kiện để học sinh được làm việc với các phương
tiện trực quan qua đó lĩnh hội được tri thức, rèn luyện thói quen độc lập, sáng
tạo của HS.
2. Mục đích nghiên cứu.
Chuyên đề nghiên cứu những vấn đề liên quan đến việc sử dụng và khai
thác kênh hình trong quá trình dạy học Địa lí ở trường THCS.
GV và HS có những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng
dạy và học tập môn Địa lí. Qua đây HS không chỉ nắm được các tri thức Địa lí
mà còn hình thành các kĩ năng rất cần thiết trong cuộc sống của các em.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Nghiên cứu những cơ sở về “kênh hình địa lí” và việc “rèn luyện kỹ
năng khai thác và sử dụng kênh hình địa lí” cho học sinh.
- Điều tra, tìm hiểu để nắm được thực trạng việc rèn luyện kỹ năng địa lí
của học sinh lớp 9 trường THCS Tuân Chính .
- Đề xuất một số ý kiến về các biện pháp nhằm củng cố, nâng cao kỹ năng
khai thác và sử dụng kênh hình Địa lí cho học sinh lớp 9 trường THCS Tuân
Chính.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu.
6


- Đối tượng nghiên cứu:
Kỹ năng khai thác và sử dụng kênh hình môn Địa lí lớp 9.
- Khách thể nghiên cứu:
Học sinh lớp 9A,B - Trường THCS Tuân Chính.
5. Phạm vi nghiên cứu.
- Chuyên đề được xây dựng trong phạm vi môn Địa Lí cấp THCS.

1. Đặc điểm kênh hình trong SGK Địa Lí 9- THCS.
7


2. Các loại kênh hình trong dạy học Địa Lí 9.
3. Xác định việc sử dụng kênh hình trong các khâu dạy học Địa Lí.
4. Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình cụ thể.
IV.Khai thác kênh hình cụ thể trong bài dạy Vùng đồng bằng sông Cửu Long.
V. Kết quả.
PHẦN III. KẾT LUẬN.
1. Kết luận.
2. Kiến nghị và đề xuất.
TÀI LIỆU THAM KHẢO.

8


PHẦN II: NỘI DUNG
I.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu.
Rèn luyện kĩ năng khai thác kênh hình cho học sinh trong dạy học Địa lí
là việc làm quan trọng để thực hiện thành công mục tiêu dạy học. Song song với
việc lựa chọn các PPDH, các hình thức tổ chức dạy học thì việc lựa chọn khai
thác kênh hình và TBDH rất cần được lưu ý. Nó góp phần quyết định sự thành
công của bài giảng và là dấu hiệu của đổi mới PPDH nhằm phát huy tính tích
cực của HS.
Trong quá trình dạy học, phương tiện trực quan và những đồ dùng trực
quan nói chung là một trong những nguồn thông tin cung cấp kiến thức quan
trọng, nó có tác dụng tạo nên hình ảnh giúp cho học sinh nhận thức kiến thức dễ
dàng và bền vững.
Kênh hình là một vật thể hoặc một nhóm các vật thể mà giáo viên sử dụng

Thực tế kênh hình trong chương trình Địa lí 9 nói chung và Địa lí vùng kinh
tế nói riêng hết sức đa dạng và phong phú. Nó bao gồm các loại bản đồ, biểu đồ,
lược đồ, tranh ảnh có trong SGK, các PTDH có sẵn trong phòng TBDH… và cả
tư liệu GV thu thập được.
Vấn đề đặt ra là phải có những phương pháp khai thác kênh hình cụ thể, đảm
bảo đúng vai trò và chức năng của kênh hình trong dạy học Địa lí. Từ đó giúp
HS tiếp cận, khai thác kênh hình một cách nhanh nhất, đạt hiệu quả cao nhất.
II. Thực trạng vấn đề nghiên cứu.
1. Thuận lợi:
- Được sự chỉ đạo quan tâm sâu sắc của các cấp, ban ngành, đặc biệt là Sở
GD và ĐT, Phòng GD và ĐT, Ban giám hiệu nhà trường, tổ chuyên môn và các
anh chị đồng nghiệp có nhiều kinh nghiệm.
-Trong những năm qua bộ môn Địa lí đã được các cấp, các ngành quan
tâm hơn như tổ chức thi tuyển vào lớp 10 THPT chuyên, thi học sinh giỏi cấp
huyện, tỉnh, thi tốt nghiệp THPT.
- GV có đủ SGK, SGV, chuẩn kiến thức kĩ năng, các tài liệu tham khảo...
- Nhà trường đã trang bị máy tính, đèn chiếu phục vụ cho việc giảng dạy.
- Việc truy cập thông tin về chuyên môn của GV cũng có nhiều thuận lợi
nhờ kết nối mạng internet. Bản thân GV luôn có nhu cầu nghiên cứu, tìm tòi cái
mới, cái hay trong bài giảng.
- HS lớp 9 có năng lực quan sát tốt hơn và có tư duy nhạy bén hơn, có
khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát hoá tốt hơn nhiều so với HS lớp 6,7,8.
Ngoài ra tính tích cực và độc lập nhận thức của các em tăng lên rõ rệt, các em
không thích chấp nhận một cách đơn giản các yêu cầu của giáo viên, các em sẽ
có biểu hiện thờ ơ hoặc kém hứng thú trong tiết học nếu chỉ nghe giáo viên
giảng bài và ghi chép. Về tính cách các em đều thể hiện cá tính rõ rệt, thích
tranh luận, thích bày tỏ ý kiến của bản thân mình.
Từ những đặc điểm tâm lí trên đòi hỏi trong quá trình dạy học GV phải có
những cải tiến sao cho phù hợp. Lúc này GV có vai trò quan trọng trong việc
kích thích hứng thú học tập của HS bằng việc sử dụng các PPDH tích cực kết

Từ những khó khăn trên dẫn đến HS không có hứng thú với môn Địa lí
như các môn khoa học thực nghiệm khác. Khó khăn lớn nhất của GV Địa lí là
HS không yêu thích môn học, điều đó gây ảnh hưởng nhiều đến chất lượng bộ
môn. Qua thực tế áp dụng chuyên đề, tôi đã đưa ra một số câu hỏi trắc nghiệm
về thái độ của HS đối với môn Địa lí. Đồng thời yêu cầu các em làm một bài
kiểm tra về kiến thức. Kết quả như sau:
+ Bảng 1:
Kết quả điều tra về thái độ của HS đối với việc học tập bộ môn Địa lí:
Lớp

Tổng số
học sinh

9A
9B

Thích học

Không thích

Bình thường

32

6

18,7%

12



0

0%

8

25%

22

68,8
%

2

6.2%

9B

39

6

15,4
%

29

74,3

- Các giờ học chưa gây được sự hứng thú cho HS. Các em thấy khó ghi
nhớ các đặc điểm của sự vật, hiện tượng, các số liệu, biểu bảng…
- GV sử dụng PPDH chưa phù hợp với các đối tượng HS.
Tuy còn nhiều khó khăn, song với trách nhiệm của người GV đứng lớp,
tôi luôn luôn mong muốn HS của mình yêu thích môn Địa lí.Từ đó HS sẽ có
hứng thú học tập, tiếp thu bài tốt, đạt kết quả cao. Vì vậy, tôi đã cố gắng nghiên
cứu thực hiện đề tài của mình.
III. Phương pháp khai thác kênh hình trong giảng dạy Địa Lí lớp 9.
1.Đặc điểm kênh hình trong SGK Địa lí 9– THCS
Nếu như trước đây, SGK với khổ nhỏ, chủ yếu là kênh chữ, kênh hình rất
hiếm hoi. Hiện nay, cải cách chương trình và SGK kênh hình đã được chú trọng
hơn, trung bình mỗi bài có 2- 3 kênh hình. Chất lượng của kênh hình cũng được
tăng lên rõ rệt và phù hợp với hệ thống kênh chữ, tạo điều kiện cho GV tiến
hành giảng dạy và hướng dẫn HS khai thác tri thức địa lí thông qua kênh hình.
Nhìn chung các kênh hình được bố trí trên khổ giấy tương đối rộng cho
nên không những đảm bảo tính trực quan, thẩm mĩ mà còn kích thích hứng thú
học tập của học sinh. Dựa vào hệ thống kênh hình được cung cấp, học sinh tri
giác nhanh, phát hiện ra các xu thế chính, các đặc điểm chủ yếu của sự vật hiện
tượng. Ngoài ra một số sơ đồ, biểu đồ còn thể hiện cả mối quan hệ qua lại giữa
các hiện tượng, các quá trình địa lí, các lược đồ trong SGK được khái quát hoá
nhằm nhấn mạnh các kiến thức quan trọng nhất.
Kênh hình được bố trí không những trong các bài học lí thuyết mà còn
được thể hiện trong các bài thực hành nên việc rèn luyện kĩ năng Địa lí với kênh
hình cũng chiếm một vị trí quan trọng. Lúc này việc rèn luyện kĩ năng Địa lí
được chuyển hoá sang việc xây dựng một số loại kênh hình phù hợp với trình độ
nhận thức của học sinh. Ngoài ra, ngay dưới mỗi kênh hình đều có những câu
hỏi đòi hỏi mức độ tư duy của học sinh. Qua hệ thống câu hỏi này khi quan sát
kênh hình học sinh có được những định hướng cụ thể cho việc tự lực tìm ra tri
thức Địa lí.
Như vậy, với những đổi mới về chương trình và sách giáo khoa theo quan

Các loại biểu đồ cơ bản được sử dụng là:
- Biểu đồ hình tròn
- Biểu đồ hình cột
- Biểu đồ đường
- Biểu đồ miền
- Biểu đồ kết hợp
Trong giảng dạy địa lí kinh tế - xã hội các loại biểu đồ có vai trò hết sức
quan trọng, nó là phương tiện trực quan các số liệu thống kê để học sinh khai
thác kiến thức đồng thời là phương tiện để học sinh rèn luyện kĩ năng địa lí.
* Bảng số liệu thống kê
Là các số liệu thống kê riêng biệt được tập hợp thành bảng, trong đó các
số liệu thống kê có mối quan hệ với nhau. Số liệu thống kê giúp cho giáo viên
giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho học sinh, dùng để minh hoạ các nội dung
13


của bài học. Trong SGK Địa lí 9 hầu hết các số liệu thống kê đảm bảo tính khoa
học, mức độ chính xác cao. Điều này tạo thuận lợi cho giáo viên và học sinh
trong quá trình giảng dạy và học tập Địa lí.
2.4. Tranh ảnh Địa lí:
Hiện nay với sự phát triển của khoa hoc kĩ thuật, các loại tranh ảnh phục
vụ cho giảng dạy hết sức phong phú và đa dạng. Tranh ảnh giúp cho giáo viên
dễ dàng minh hoạ các đối tượng địa lí một cách sống động, từ đó giúp cho HS
ghi nhớ sâu sắc và bền lâu hơn. Bất cứ một bức ảnh chụp nào đều có bố cục theo
3 cảnh: chủ đề, tiền cảnh và hậu cảnh. Tối thiểu phải có chủ đề và hậu cảnh mới
thể hiện được không gian 3 chiều của bức ảnh.
Ảnh chụp chủ yếu trong phần Địa lí lớp 9 thể hiện một số hoạt động sản
xuất như hệ thống kênh mương nội đồng đã được kiên cố hóa, thu hoạch bằng
máy ở đồng bằng sông Cửu Long, mô hình kinh tế trang trại nông lâm kết hợp,
chế biến cá tra xuất khẩu, các trung tâm thương mại...

hình cũng như hiểu các vấn đề được phản ánh trên kênh hình.
- Giáo viên có sự chuẩn bị trước hệ thống câu hỏi có liên quan đến kênh
hình mà mình định sử dụng trong tiết học.
- Giáo viên khích lệ, động viên các em cũng như linh hoạt điều khiển các
hoạt động của lớp học.
- Lựa chọn các PPDH phù hợp để giảng bài khi có sử dụng kênh hình.
3.3. Sử dụng kênh hình để củng cố kiến thức
Để thực hiện khâu này, giáo viên có thể sử dụng chính các phương tiện
trực quan đã giảng dạy kết hợp với hệ thống câu hỏi trắc nghiệm và dạng bài
text ngắn. Giúp HS củng cố bài học và đảm bảo được tính độc lập trọng nhận
thức của HS.
3.4. Sử dụng kênh hình trong khâu đánh giá, kiểm tra
Đánh giá, kiểm tra mức độ lĩnh hội kiến thức địa lí của học sinh dựa vào
kênh hình vừa có tác dụng tái hiện kiến thức cũ, vừa có khả năng củng cố, khắc
sâu tri thức địa lí.
Có thể sử dụng kênh hình đánh giá HS khi:
- Kiểm tra bài cũ.
- Trong khi dạy bài mới.
- Khi ôn tập, kiểm tra.
3.5. Sử dụng trong quá trình tự học của học sinh
Giáo viên chú ý đến khâu này bằng cách giao cho các em các bài tập nhận
thức gắn liền với khai thác kiến thức từ kênh hình, đồng thời sử dụng hiệu quả
các bài thực hành trong chương trình.
Việc hướng dẫn HS sử dụng kênh hình trong quá trình tự học để khai thác
kiến thức sẽ giúp HS dễ nhớ kiến thức, kiến thức sẽ được sâu chuỗi một cách
logic, làm cho tư duy Địa lí phát triển hơn.
4. Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình cụ thể
Kênh hình chứa đựng các thông tin địa lí cho nên học sinh có thể tiến
hành khai thác các kiến thức địa lí thông qua hệ thống kênh hình. Tuy nhiên,
thực tế hiện nay là khả năng khai thác kênh hình của học sinh còn nhiều hạn chế,

- Cách tiến hành công việc
- Quy tắc về trình tự tiến hành công việc
- Kiểm tra kết quả khi thực nghiệm
Giáo viên tiến hành làm mẫu sau đó yêu cầu HS nhắc lại trình tự công
việc và ghi vào vở để về nhà thực hiện một bài tương tự mà giáo viên làm mẫu
trên lớp.
* Hướng dẫn HS đọc và vận dụng bản đồ:
Đọc bản đồ là một kĩ năng tương đối khó và phức tạp đối với HS. Để có kĩ
năng này, các em phải vận dụng đồng thời cả những kiến thức về địa lí và cả
những kiến thức về bản đồ. Để đọc được bản đồ học sinh phải nắm được những
công việc sau:
- Nhận biết được các kí hiệu rõ ràng về các sự vật hiện tượng địa lí
- Biết cách làm sáng tỏ tính chất của đối tượng, hiện tượng.
- Có những biểu tượng không gian cần thiết về sự phân bố của các sự vật
hiện tượng địa lí.
- Biết so sánh, phân tích các đối tượng địa lí biểu hiện trên bản đồ
Đọc bản đồ có 3 mức độ:
- Mức 1: HS đọc được vị trí các đối tượng địa lí, có biểu tượng về các đối
tượng thông qua hệ thống ước hiệu ghi trên bản đồ.
16


- Mức 2: Tìm ra được các đặc điểm tương đối rõ ràng của các hiện tượng
địa lí được biểu hiện trên bản đồ.
- Mức 3: HS biết kết hợp kiến thức bản đồ với kiến thức địa lí sâu hơn để
so sánh, phân tích tìm ra mối liên hệ giữa các đối tượng trên bản đồ.
Giúp cho HS có thể đọc và vận dụng trên bản đồ, GV hướng dẫn HS thực
hiện theo qui trình sau:
- Nắm được mục đích làm việc
- Đọc bảng chú giải để biết được các kí hiệu qui ước


17


Muốn HS nhanh chóng tìm ra đặc điểm, thuộc tính bản chất của các sự vật
hiện tượng địa lí trên bản đồ. GV nên hướng dẫn HS vào việc phân tích bản đồ,
tổ chức du lịch trên bản đồ, lược đồ qua đó các em khái quát hoá, tổng hợp để
tìm ra các đặc điểm cần thiết.
* Thông qua việc đọc, phân tích bản đồ, lược đồ xác lập được mối quan hệ
nhân quả giải thích được những đặc điểm quan trọng đặc biệt là trong đặc điểm
phân bố của các đối tượng địa lí. Đây cũng là yêu cầu cao nhất đối với HS.
Ví dụ: Khi dạy bài “Giao thông vận tải và bưu chính viễn thông” GV yêu
cầu quan sát bản đồ giao thông Việt Nam. GV không chỉ dừng lại ở việc yêu cầu
HS xác định sự phân bố của các loại hình giao thông vận tải mà yêu cầu HS
hướng vào sự giải thích tại sao có sự phân bố như vậy.Để thuận tiện cho HS
khai thác tri thức từ bản đồ, nhanh chóng tìm ra các mối liên hệ nhân quả các sự
vật hiện tượng địa lí GV có thể yêu cầu HS lập bảng có nêu đặc trưng của đối
tượng địa lí trên cơ sở nghiên cứu đọc bản đồ.
Loại hình giao Ưu điểm
thông vận tải

Nhược điểm

Phân bố

Đường ôtô
Đường sắt
Đường sông
Đường biển
GV khi tiến hành cho HS khai thác tri thức từ bản đồ cần chú ý do bản đồ

kinh tế xã hội là sự phản ánh trong tư duy những sự vật hiện tượng địa lí kinh tế
xã hội đã được trừu tượng hoá và kháí quát hóa dựa vào các dấu hiệu bản chất
sau khi đã tiến hành các thao tác tư duy. Việc sử dụng biểu đồ sẽ là điều kiện
thuận lợi để HS nắm được các dấu hiệu bản chất của khái niệm.
- Hướng dẫn HS khai thác biểu đồ để phân tích mối quan hệ giữa các hiện
tượng địa lí kinh tế xã hội
Trong quá trình dạy học Địa lí việc làm rõ mối quan hệ giữa các ngành
kinh tế, các vùng kinh tế và giữa kinh tế với tự nhiên là một đặc điểm cơ bản của
tư duy địa lí. Trong quá trình khai thác biểu đồ để hiểu bản chất HS phải biết
được mối quan hệ lôgic giữa các sự vật hiện tượng địa lí
- Hướng dẫn HS khai thác biểu đồ để thấy được sự phân bố của các
đối tượng địa lí kinh tế xã hội.
Phương pháp này được sử dụng khi xuất hiện loại hình bản đồ biểu đồ.
Ví dụ: Khi dạy bài 36 Vùng Đồng bằng sông Cửu Long, GV hướng dẫn
HS tìm hiểu bản đồ kinh tế chung của vùng thông qua đó HS thấy được mức độ
tập trung công nghiệp, các ngành công nghiệp cụ thể cũng như sự phân bố của
chúng và lí giải nguyên nhân tại sao lại có sự phân bố như vậy.
Khi tiến hành hướng dẫn HS khai thác kiến thức địa lí từ biểu đồ GV có
thể sử dụng phối hợp nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau để có thể phát
huy được tính tích cực chủ động sáng tạo của HS
4.3. Phương pháp khai thác tri thức địa lí qua bảng số liệu thống kê
Các số liệu thống kê nói chung và bảng số liệu thống kê nói riêng có ý
nghĩa nhất định trong việc cung cấp các tri thức địa lí cho HS. Chúng có tác
dụng soi sáng, giải thích được các khái niệm và qui luật địa lí. Mỗi một GV Điạ
lí cần có những kiến thức và kĩ năng sử dụng bảng số liệu thống kê đồng thời
cũng phải có phương pháp để hướng dẫn HS biết cách khai thác các bảng số liệu
thống kê. Từ đó rút ra những tri thức địa lí cần thiết.
Ví dụ: Khi dạy bài 22 Thực hành: “Vẽ và phân tích biểu đồ về mối quan
hệ giữa dân số, sản lượng lương thực và bình quân lương thực theo đầu người”
ở Đồng bằng sông Hồng”. Qua bảng số liệu HS sẽ thấy được rằng mặc dù là

Ví dụ: Khi dạy bài 35: “Vùng Đồng bằng sông Cửu Long” khi dạy phần
thế mạnh của vùng, GV cho HS phân tích sơ đồ các tài nguyên thiên nhiên chính
ở Đồng bằng sông Cửu Long và yêu cầu HS quan sát vào lược đồ tự nhiên vùng
Đồng bằng sông Cửu Long và giải thích về sự phân bố đó.
Sử dụng sơ đồ giúp cho các em dễ dàng nhận biết được sự phân loại của
các hiện tượng địa lí. Giáo viên có thể xây dựng sơ đồ trong đó có một số ô còn
bỏ trống sau đó yêu cầu HS nghiên cứu sách giáo khoa và hoàn thành sơ đồ.
Tuy nhiên trong quá trình sử dụng sơ đồ hoá giáo viên cần chú ý đến trình
độ nhận thức của HS do đây là phương pháp đòi hỏi HS có mức độ tư duy và
khả năng khái quát hoá tương đối cao.
4.4.2. Hướng dẫn HS khai thác lát cắt địa hình
Lát cắt địa hình thường được sử dụng đồng thời với bản đồ tự nhiên, phần
lớn trong quá trình dạy học Địa lí GV và HS sử dụng chủ yếu là các lát cắt địa
hình trong SGK.
20


Lát cắt địa hình là sơ đồ địa hình được vẽ theo mặt cắt ngang của địa hình
một lãnh thổ. Hướng dẫn HS khai thác lát cắt địa hình GV có thể tiến hành theo
các bước sau:
- Hướng dẫn các em quan sát lát cắt theo chiều từ tây sang đông hoặc từ
bắc xuống nam theo hướng mặt cắt ngang của địa hình.
- Quan sát các điểm độ cao khác nhau của khu vực để thấy được sự phân
hoá của địa hình lãnh thổ, chú ý đến điểm độ sâu của địa hình.
- Suy luận các điểm độ cao và độ sâu của địa hình có ảnh hưởng gì đến
các điều kiện tự nhiên khác và các hoạt động kinh tế xã hội.
4.4.3. Hướng dẫn HS khai thác tranh ảnh địa lí
Giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác tri thức địa lí từ tranh ảnh theo
trình tự :
- Quan sát bức tranh, nêu nội dung của bức tranh

Đảm bảo tính trực quan là một trong những nguyên tắc quan trọng của
kênh hình. Tính trực quan của kênh hình thể hiện ở khả năng nhận biết nhanh
các đối tượng và hiện tượng địa lí được biểu hiện trên kênh hình của HS.
Hệ thống kênh hình nên sử dụng những màu sắc đẹp, các kí hiệu gần gũi,
các hình ảnh trực quan nhằm kích thích hứng thú học tập của HS.
- Tính sư phạm:
Để đảm bảo được tính sư phạm thì kênh hình được xây dựng phải có sự
nghiên cứu kĩ về nội dung và về phương pháp cũng như đặc điểm tâm lí lứa tuổi
của học sinh. Bản thân học sinh cũng giống như trang giấy trắng, chính quá trình
học tập rèn luyện trong nhà trường phổ thông đã góp phần hình thành nên nhân
cách và phẩm chất của các em. Do vậy, khi lựa chọn, thiết kế kênh hình phục
tính sư phạm còn thể hiện ở sự thống nhất về kí hiệu, phương pháp thể hiện.
- Tính thẩm mĩ:
Kênh hình được sử dụng trong giảng dạy Địa lí phải đảm bảo tính thẩm mĩ
cao, các đường nét, màu sắc...phải hài hoà, cân đối. Tính thẩm mĩ vừa có tác
dụng thu hút học tập của HS vừa có tác dụng giáo dục óc thẩm mĩ cho HS.
Để làm được điều đó GV phải có lòng nhiệt tình say mê bộ môn, được đào
tạo chuyên môn nghiệp vụ vững vàng và luôn có tinh thần trách nhiệm cao trong
công việc giảng dạy.

22


IV- KHAI THÁC KÊNH HÌNH CỤ THỂ TRONG BÀI DẠY VÙNG
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG.
A.Mục tiêu:
1- Kiến thức: HS cần nắm được:
- Vị trí địa lí, giới hạn của vùng và những điều kiện tự nhiên thuận lợi. Tài
nguyên đất, khí hậu, nước phong phú, đa dạng là điều kiện để đồng bằng sông
Cửu Long trở thành vùng trọng điểm sản xuất lương thực, thực phẩm lớn nhất cả

? Hãy xác định ranh giới và nêu ý nghĩa vị trí địa lí của vùng?
- Vị trí địa lí của ĐBSCL: Nằm ở phía Tây vùng Đông Nam Bộ, giáp Đông
Nam Bộ, Cam-pu-chia, vịnh Thái Lan, Biển Đông.
- Ý nghĩa vị trí địa lí của vùng:
+ Với vị trí nằm ở cực Nam đất nước. Khí hậu cận xích đạo, có mùa mưa, mùa
khô rõ rệt. Nhiệt độ cao, lượng mưa lớn là điều kiện tốt để phát triển nông
nghiệp nhất là cây lúa nước.
23


+ Phía Đông Bắc giáp với vùng Đông Nam Bộ, vùng kinh tế phát triển năng
động, nhận được sự hỗ trợ nhiều mặt như công nghiệp chế biến, thị trường tiêu
thụ và xuất khẩu.
+ Phía Bắc giáp với Cam-pu-chia, thuận lợi giao lưu với các nước trong tiểu
vùng sông MêCông.
+ Phía Tây, Nam và Đông Nam giáp biển, thềm lục địa rộng với nguồn dầu khí
lớn đã được thăm dò và khai thác. Nguồn lợi hải sản dồi dào, là điều kiện thuận
lợi để phát triển ngành nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản.
 Vị trí địa lí của vùng tạo điều kiện cho giao lưu trên đất liền và trên biển, cho
hợp tác với các vùng trong nước và các nước trong tiểu vùng sông MêCông.
II. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên:
* Giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào hình 35.1, hãy cho biết các loại đất chính
ở đồng bằng sông Cửu Long và sự phân bố của chúng?
GV dùng bản đồ tự nhiên H 35.1 để xác định các loại đất chính, nơi phân bố,
việc sử dụng từng loại đất đó.
+ Đất phù sa ngọt: Phân bố dọc ven sông Tiền, sông Hậu là loại đất tốt nhất, có
độ phì cao và tương đối, thích hợp với trồng lúa và nhiều loại cây công nghiệp
hàng năm và cây ăn quả.
+ Vùng đất phèn: Phân bố ở vùng Đồng Tháp Mười và Hà Tiên, vùng trung
tâm bán đảo Cà Mau. Đất có hàm lượng độc tố cao, tính chất cơ lí yếu, nứt nẻ

+ Tài nguyên rừng: có rừng ngập mặn ven biển chiếm diện rất tích lớn ở bán đảo
Cà Mau, tài nguyên sinh vật phong phú thuận lợi cho việc đánh bắt và nuôi
trồng thủy sản.
+ Tài nguyên khí hậu: Cận xích đạo nóng ẩm quanh năm, lượng mưa dồi dào,
lượng bức xạ lớn cũng thích hợp cho việc phát triển nông nghiệp.
+ Tài nguyên nước:
Sông MêCông và hệ thống kênh rạch chằng chịt, nguồn nước dồi dào cung cấp
nước cho tưới trong nông nghiệp và phục vụ cho sinh hoạt đời sống của nhân
dân. Sông ngòi có hàm lượng phù sa lớn, hàng năm bồi đắp cho đồng bằng và
mở rộng đồng bằng ra phía biển thuận lợi thuận lợi cho SX nông nghiệp.
+ Bờ biển và hải đảo: Biển ấm quanh năm, nhiều ngư trường rộng lớn, tôm cá và
hải sản phong phú, nhiều đảo và quần đảo thuận lợi cho khai thác hải sản.
? Nêu một số khó khăn về mặt tự nhiên ở đồng bằng sông Cửu Long?
+ Địa hình trũng, thấp, không có đê bao kiên cố, mùa lũ gây ngập úng trên diện
rộng. Nhiều diện tích đất bị ngập nước, triều cường khiến cho nước biển xâm
nhập sâu vào đất liền.
+ Đất phèn, đất mặn chiếm diện tích lớn.
+ Mùa khô kéo dài gây thiếu nước nghiêm trọng và nạn cháy rừng đe doạ.
? Nạn lũ hàng năm của sông Mê Công gây thiệt hại lớn về người và tài sản cho
người dân ở đồng bằng sông Cửu Long.Tại sao đồng bằng sông Cửu Long lại
chọn giải pháp sống chung với lũ? Nhà nước ta có dự án gì trước lũ lụt hàng
năm này?
* Chủ động sống chung với lũ vì:
Ngoài những thiệt hại lũ gây ra còn có nhiều lợi thế do lũ đem lại như:
+ Lấy nước để tích tụ phù sa.
+ Làm vệ sinh đồng ruộng.
+ Đánh cá, khai thác thuỷ hải sản...
* Nhà nước và nhân dân đồng bằng sông Cửu Long đang đầu tư lớn cho các dự
án thoát nước ra biển miền Tây vào mùa lũ.
- Quay đê bao vùng chống lũ, khai thác các lợi thế do chính lũ hàng năm đem


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status