1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ THƠ
HÌNH THÀNH KỸ NĂNG KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TÀI LIỆU
TRÊN INTERNET CHO HỌC SINH TRONG HỌC TẬP LỊCH SỬ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
(VẬN DỤNG QUA PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CỔ ĐẠI VÀ TRUNG
ĐẠI LỚP 10, CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN LỊCH SỬ)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: TS. HOÀNG THANH TÚ HÀ NỘI – 2012
2
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNTB : Chủ nghĩa tư bản
CNTT : Công nghệ thông tin
Biểu đồ 2.1. Biểu đồ so sánh kết quả điểm kiểm tra của lớp TN và ĐC
80 4
M ỤC L ỤC
Trang
Lời cảm ơn
i
Danh mục viết tắt
ii
Danh mục bảng
iii
Danh mục biểu đồ
tập lịch sử ở trường THPT
33
1.2.2. Những nguyên nhân ảnh hưởng tới việc khai thác và sử dụng
tài liệu trên internet trong học tập môn Lịch sử ở trường THPT 5
41
Tiểu kết chương 1
44
Chƣơng 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH KỸ NĂNG
KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TÀI LIỆU TRÊN INTERNET
TRONG HỌC TẬP PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CỔ ĐẠI VÀ
TRUNG ĐẠI (LỚP 10) Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG
45
2.1. Vị trí, mục tiêu và nội dung cơ bản của phần Lịch sử thế giới cổ
đại và trung đại lớp 10
45
2.1.1. Cấu trúc, vị trí của chương trình
45
2.1.2. Mục tiêu
46
2.1.3. Nội dung kiến thức phần Lịch sử thế giới cổ đại và trung đại
73
2.4.2. Đối tượng thực nghiệm
74
2.4.3. Nội dung thực nghiệm
74
2.4.4. Phương pháp thực nghiệm
75
2.4.5. Kết quả thực nghiệm
75
Tiểu kết chương 2
81
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
82
TÀI LIỆU THAM KHẢO
84
PHỤ LỤC
88
tích cực, gây hứng thú cho giáo viên và học sinh. Tuy nhiên, do kỹ năng
nghiệp vụ sư phạm cũng như nhận thức và năng lực về CNTT của nhiều giáo
viên lịch sử ở phổ thông, cùng một số cán bộ quản lý còn nhiều hạn chế nên
8
việc sử dụng công nghệ mới này vào việc đổi mới phương pháp dạy học lịch
sử chưa đem lại hiệu quả cao. Giáo viên và học sinh có thể dễ dàng vào hệ
thống mạng để tìm kiếm những thông tin tư liệu cần thiết từ những trang web
có nội dung Lịch sử (dùng công cụ tìm kiếm google, yahoo…) phục vụ cho
việc tham khảo hay tải tài liệu về sử dụng. Ngoài ra qua công cụ này, giáo
viên và học sinh có thể dễ dàng chia sẻ các dạng thông tin tư liệu (văn bản,
hình ảnh, âm thanh, phim tư liệu lịch sử…) hay tham gia trao đổi, thảo luận
những vấn đề về chuyên môn qua diễn đàn giáo dục điện tử (như
) hoặc qua thư điện tử… vào bất kỳ lúc nào, ở đâu.
Thực tiễn ở trường phổ thông hiện nay, hầu hết học sinh ít có hứng thú
với môn Lịch sử, việc khai thác và sử dụng tài liệu trên internet hiện nay còn
khó khăn, nhiều giáo viên và học sinh không biết sử dụng máy tính và thiếu
kỹ năng trong khai thác và sử dụng tài liệu trên internet. Hạn chế rõ nét nhất
là những biểu hiện lạm dụng về những thông tin được khai thác trên internet,
giáo viên lệ thuộc và không đảm bảo các mối tương tác cần thiết khác giữa
giáo viên-học sinh; học sinh-học sinh, trong trao đổi, đàm thoại, dạy học nêu
vấn đề… Việc khai thác không hợp lí thông tin trên internet và các khả năng
liên kết đã làm hạn chế đáng kể hiệu quả dạy học, thậm chí phản tác dụng.
Mặt khác, nhiều giáo viên thiếu chọn lọc, đưa quá nhiều thông tin vào bài
giảng mà không chú ý thể hiện rõ kiến thức trọng tâm cũng như tính hệ thống
của kết cấu nội dung bài giảng, làm cho nhận thức lịch sử của học sinh bị tản
mạn, ít sâu sắc và không bền vững, mặc dù về nhất thời có thể tạo nên sự
hứng thú. Một số bài giảng, tuy kênh hình được đưa vào sử dụng rất phong
phú nhưng chủ yếu chỉ để trình diễn, minh họa lịch sử mà chưa được khai
thác như một nguồn thông tin hay làm cơ sở để trao đổi thảo luận. Kho thông
Về vai trò của internet, Lori A.Perine-Phó Giám đốc phòng chính sách
Khoa học và Công nghệ Nhà Trắng (Hoa Kỳ) đã viết “Mạng internet là một
nền móng đang mở rộng chưa từng thấy cho nghiên cứu toàn cầu”. Ông đã
khẳng định tính “Toàn cầu hóa” thông qua internet, đó là sự cộng tác của
nhiều người khác nhau trên các châu lục thông qua sử dụng internet: sự
10
cộng tác giữa sinh viên với nhà khoa học, giữa nhà khoa học với nhà khoa
học, giữa cư dân với cư dân, giữa chuyên gia y tế với người chủ trì chữa
trị… [28, tr.8].
Somkiat Tangkitvanich Deunden Nikomborirak Viện nghiên cứu phát
triển Thái Lan (TDRI) cho rằng “mạng internet là một công cụ tăng cường vốn
xã hội”. Ông khẳng định vốn xã hội ở các trường học sẽ có hiệu quả hơn khi các
phụ huynh học sinh và công dân địa phương có sự tham gia tích cực [28, tr.9].
Về vấn đề hình thành kỹ năng, trong “Tài liệu chương trình tập huấn
đào tạo giảng viên”, tập 1 thuộc Dự án đào tạo Việt Nam- Australia (2002) đề
cập đến các giai đoạn trong việc học một kỹ năng gồm: giai đoạn nhận thức
kiến thức và thông tin về kỹ năng; giai đoạn thực hiện theo mẫu; giai đoạn tự
thực hiện. Các giai đoạn này đan xen và chuyển động theo một quá trình liên
tục [7. tr.27-28]. Trong việc học kỹ năng, sự tiếp nối, thực hành và phản hồi là
quan trọng. Trong đó, sự tiếp nối là thực thi những nhiệm vụ của kỹ năng gần
với thành công khi một nhiệm vụ trước đó đóng vai trò như một tác nhân kích
thích cho nhiệm vụ tiếp theo. Thực hành là cách để phát triển kỹ năng đến
giai đoạn tự chủ của việc học tập. Ý kiến phản hồi của GV hoặc HS giúp cho
việc chỉnh sửa các sai sót trong quá trình thực hiện [7. tr.30].
2.2. Tài liệu trong nước
Cùng với xu hướng chung trên thế giới, ở nước ta internet đã trở thành
phương tiện hỗ trợ dạy học đạt hiệu quả cao trong hầu hết các môn học. Như
chúng ta đã biết, internet là công cụ lưu trữ và tìm kiếm thông tin mạnh mẽ,
hiệu quả trong thời đại nền kinh tế tri thức. Ngày nay internet không chỉ là
nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp trường “Khai thác Microsoft excel,
powerpoint và công cụ tìm kiếm thông tin trên mạng internet trong dạy học
môn địa lý ở trường phổ thông” (2010), ThS.Trần Thị Thanh Thủy đã đưa ra
một số điểm lưu ý khi khai thác thông tin trên mạng internet.
Đề tài cấp trường của ThS.Nguyễn Thị Thanh Hồng “Hình thành kỹ
năng khai thác thông tin mạng internet để dạy học môn giáo dục học” (2010)
12
đã khẳng định vai trò của việc khai thác và vận dụng thông tin trên mạng
internet trong học tập của sinh viên.
Ngoài ra, liên quan đến nội dung này chúng ta có thể kể đến luận án tiến
sỹ “Bộ công cụ tìm kiếm trên mạng” của tác giả Bùi Thị Minh Tuyết-khoa công
nghệ thông tin trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Tác giả đã đưa ra hệ thống các
công cụ hỗ trợ cho việc tìm kiếm và đưa thông tin lên mạng internet.
Luận văn Thạc sỹ-Trường Đại học Sư phạm Hà Nội của Đoàn Thị Kiều
Oanh (2003) “Sử dụng tài liệu khai thác trên mạng internet để dạy học lịch sử
ở trường THPT” đã phân tích được vai trò của tài liệu trên internet và đưa ra
các cách thức sử dụng tài liệu trên internet trong các hoạt động dạy học lịch
sử. Nhưng tác giả chưa đưa ra được hệ thống các kỹ năng để học sinh có thể
khai thác tài liệu trên internet hiệu quả.
Với những kết quả nghiên cứu trên, dù mục đích nghiên cứu khác nhau
ở những lĩnh vực khác nhau nhưng hầu hết các tác giả đều khẳng định tầm
quan trọng của internet và sự cần thiết phải sử dụng nó. Đó là những gợi ý về
mặt lý luận rất quý báu cho chúng tôi nghiên cứu đề tài này.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình hướng dẫn học sinh hình thành kỹ năng khai thác và sử dụng
nguồn tài liệu trên internet trong học tập Lịch sử nói chung và học tập phần
Lịch sử thế giới cổ đại và trung đại nói riêng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
5.1. Cơ sở phương pháp luận
Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước ta về lịch sử, giáo dục.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí thuyết: đọc và phân tích, tổng hợp tài liệu sách báo, tạp
chí, internet… về tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học LS; phân
tích nội dung chương trình, SGK lớp 10.
14
- Nghiên cứu thực tiễn: quan sát, dự giờ, trao đổi với giáo viên, học
sinh, điều tra xã hội học để đánh giá về thực trạng khai thác và sử dụng tài
liệu trên internet trong dạy học Lịch sử ở trường THPT; Thực nghiệm SP
nhằm kiểm tra, đối chứng kết quả nghiên cứu của luận văn.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu như giáo viên vận dụng các biện pháp hình thành kỹ năng khai
thác và sử dụng nguồn tài liệu trên internet cho học sinh theo như yêu cầu và
đề xuất trong luận văn sẽ nâng cao hiệu quả học tập lịch sử nói chung, học tập
phần Lịch sử thế giới cổ đại và trung đại (lớp 10) ở trường THPT nói riêng,
góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử ở trường THPT hiện nay.
7. Đó ng gó p củ a đề tà i
Thực hiện tốt những nhiệm vụ đề ra, luận văn góp phần:
- Khẳng định vai trò, ý nghĩa, sự cần thiết của việc khai thác và sử dụng
tài liệu trên internet trong dạy học Lịch sử ở trường THPT.
- Đánh giá được thực trạng dạy học LS nói chung, thực trạng khai thác
và sử dụng tài liệu trên internet trong môn LS nói riêng.
- Đề xuất một hệ thống các kỹ năng khai thác và sử dụng tài liệu trên
internet và các biện pháp hướng dẫn hình thành kỹ năng khai thác và sử dụng
tài liệu trên internet theo hướng dạy học tích cực.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: làm phong phú thêm lí luận PPDHLS nói chung và
tâm nghiên cứu. Có nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng, tùy thuộc vào
cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu.
Ph.N Gônôbôlin cho rằng: “Kỹ năng là phương thức tương đối hoàn
chỉnh của việc thực hiện những hành động bất kỳ nào đó. Các hành động này
được hoàn thành trên cơ sở của các tri thức, kỹ năng và kỹ xảo- những cái
con người được lĩnh hội trong quá trình hành động” [27, tr.14].
N.D. Levitôv cho rằng: “Kỹ năng là khả năng con người thực hiện một
hành động bất kỳ nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh nghiệm-
những cái đã được lĩnh hội từ trước” [27, tr.14]. Theo A.P Ênipôp trong giáo
trình “Những cơ sở lý luận của dạy học” cho rằng: kỹ năng chính là khả năng
con người biết sử dụng một cách có mục đích, sáng tạo những tri thức và kỹ
xảo của mình trong quá trình hoạt động thực tiễn [10].
Theo A.V. Petrovski: “Kỹ năng là cách thức hành động dựa trên cơ sở
tri thức và được hình thành thông qua luyện tập, tập khả năng cho con người
phản ứng được không chỉ trong điều kiện quen thuộc mà cả trong điều kiện
mới phát sinh”[11].
Theo từ điển tiếng Việt thì kỹ năng là “Khả năng vận dụng những kiến
thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [34, tr.56].
17
Theo gốc Hán-Việt thì “kỹ” là sự khéo léo, “năng” là có thể. “Kỹ
năng là khả năng vận dụng những tri thức thu nhận được trong một lĩnh vực
nào đó vào thực tiễn. Kỹ năng đạt tới mức hết sức thành thạo, khéo léo thì
trở thành kỹ xảo” [11, tr.18].
GS.TS. Nguyễn Thị Côi cho rằng: “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả
một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh
nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép” [4, tr.14].
Tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt thì xác định: kỹ năng là cách
thức hành động dựa trên cơ sở tổ hợp những tri thức và kỹ xảo. Kỹ năng
được hình thành bằng con đường luyện tập tạo kỹ năng cho con người
của CNTT, GV có thể hướng dẫn HS tiếp cận một lượng thông tin phong phú,
đa dạng, sinh động và trực quan về sự kiện lịch sử. Cách tiếp cận như vậy sẽ
là cầu nối lý tưởng giữa nhận thức của HS với hiện thực Lịch sử khách quan,
đồng thời củng cố cho các em nhận thức đúng đắn: Lịch sử là có thật, là cụ
thể và từ đó tạo biểu tượng lịch sử một cách rõ nét. Đây là khâu có ý nghĩa rất
quan trọng trong quá trình dạy học, là cơ sở giúp HS hình thành khái niệm và
hiểu sâu sắc bản chất của Lịch sử. Việc hướng dẫn HS hình thành được các kỹ
năng khai thác và sử dụng tài liệu trên internet sẽ giúp GV tiết kiệm được thời
gian trình bày bảng đen cũng như thao tác sử dụng đồ dùng trực quan truyền
thống, do đó GV sẽ có nhiều thời gian hơn để tổ chức dạy học nêu vấn đề,
trao đổi thảo luận, hoạt động nhóm, kiểm tra đánh giá, thực hành…nhằm phát
huy tối đa tính tích cực, chủ động, tư duy, sáng tạo của HS.
Từ đó, có thể khẳng định: kỹ năng khai thác và sử dụng tài liệu trên
internet là khả năng tìm kiếm, chọn lọc thông tin, tư liệu từ các trang web
và thực hiện các hoạt động học tập để đạt được mục tiêu đề ra.
Để hình thành một kỹ năng, GV phải hướng dẫn HS trải qua các giai
đoạn sau:
- Giai đoạn 1: GV giúp HS nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức
và điều kiện hành động, đồng thời phải nắm vững các bước của kỹ năng.
19
- Giai đoạn 2: Là giai đoạn GV làm mẫu bằng các ví dụ minh họa cụ
thể qua các tiết học, bài học, HS sẽ “quan sát mẫu” và “làm thử theo mẫu”.
Công việc này sẽ giúp các em thấy được khả năng vận dụng tri thức vào hoạt
động thực tiễn, xem hành động có những ưu và nhược điểm gì cần sửa chữa
và củng cố tri thức đã biết. Ở giai đoạn này, việc thử làm ngắn hay dài tùy
theo năng lực của mỗi HS.
- Giai đoạn 3: Sau khi đã làm thử để biết cách làm, người học phải
tiến hành luyện tập, luyện tập nhiều lần. Ở giai đoạn này, các thao tác, các
bước thực hiện hành động dần dần được hoàn chỉnh hơn. Đồng thời các tri
Hệ thống kỹ năng khai thác và sử dụng nguồn tài liệu trên internet cần
hình thành cho HS trong học tập môn Lịch sử được xác định dựa trên hệ
thống các thao tác cần thực hiện khi khai thác tài liệu (tìm kiếm, chọn lọc, lưu
giữ thông tin), khi sử dụng trong các hoạt động học tập (trao đổi, thảo luận)
phù hợp với đặc trưng môn học và yêu cầu của việc học tập Lịch sử. Vì vậy,
để khai thác và sử dụng tài liệu trên internet hiệu quả, GV cần hình thành cho
HS một số kỹ năng sau:
Kỹ năng sử dụng các công cụ tìm kiếm
+ Xác định các vấn đề có liên quan đến nội dung tìm kiếm
Đây là thao tác quan trọng nhất khởi đầu cho việc tìm kiếm thông tin
trên mạng internet. Khi bắt đầu quá trình tìm kiếm chúng ta phải suy nghĩ đến
những vấn đề sau:
- Xác định những từ liên quan đến nội dung tìm kiếm, đó là những từ
hoặc cụm từ đồng nghĩa, nhưng bị loại ra và những từ đó có liên quan
Ví dụ: khi xác định nội dung tìm kiếm có liên quan đến vấn đề “điểm
môn sử thấp”, ta có thể xác định thêm cụm từ có liên quan là “nguyên nhân
của sự yếu kém môn Lịch sử”.
- Xác định phạm vi tìm kiếm về ngôn ngữ (tiếng Anh hay tiếng Việt),
dạng dữ liệu (các trang web, hình ảnh, âm thanh, video…), thời gian.
+ Xác định từ khóa
Sau khi xác định những vấn đề liên quan ở bước 1, bước này tạo tiền đề
cơ bản cho bước xác định từ khóa. Từ khóa là một từ hay cụm từ được khái
21
quát hóa từ tài liệu muốn tìm kiếm. Từ khóa có thể phản ánh một phần hay
toàn bộ nội dung của tài liệu muốn tìm.
Trong cụm từ khóa, chúng ta phải lọc bỏ những từ phụ như liên từ, giới
từ, mạo từ (ví dụ: và, trong, của… trong tiếng Việt hoặc a, an, the, of… trong
tiếng Anh), các từ khóa phải là những từ đơn nghĩa, tránh dùng những từ đa
nghĩa (ví dụ: “Điện Biên Phủ”), chúng ta cũng có thể cho vào từ khóa những
“phương Tây”). Nếu như trang web cung cấp dịch vụ tìm kiếm không có chức
năng Boolean thì có thể thay thế phép NOT bằng cách sử dụng dấu trừ (-).
Phép NEAR: Cho phép tìm những trang web có chứa những từ (cụm
từ) đi cùng với toán tử NEAR sẽ nằm gần nhau. Phép toán này rất thích hợp
để tìm những khái niệm hoặc định nghĩa mà người tìm không nhớ chính xác
(ví dụ: “công nhân” NEAR “là giai cấp”).
Phép () dùng ngoặc đơn cho phép kết hợp nhiều toán tử phức tạp vào
quá trình tìm kiếm (ví dụ: (“văn hóa phương Đông” AND “văn hóa cổ đại
phương Đông”) OR “chữ viết” OR “kiến trúc” OR “điêu khắc).
Kỹ năng thu thập, chọn lọc và sắp xếp tài liệu liên quan đến bài
học
Kiến thức trên internet vốn là một loại kiến thức tổng hợp, nó có mối
liên hệ với nhiều ngành, nhiều lĩnh vực của đời sống, xã hội. Vì vậy, khi khai
thác và sử dụng tài liệu trên internet, GV phải có nhiệm vụ hướng dẫn,
khuyến khích hình thành cho HS kỹ năng thu thập, chọn lọc, sắp xếp tài liệu
liên quan đến bài học để kiến thức được khắc sâu hơn, kỹ hơn, rộng hơn trong
trí óc HS. Trong đó GV hướng dẫn cho HS hình thành kỹ năng thu thập, chọn
lọc và sắp xếp tài liệu thu thập được theo một hệ thống sau:
- Loại tài liệu để làm sáng rõ diễn biến, nội dung sự kiện
Loại tài liệu này lấy sự kiện lịch sử là nội dung chính của bài học, ví dụ
sự kiện 14/7/1789 trong cách mạng tư sản Pháp.
- Loại tài liệu lấy nhân vật lịch sử làm trọng tâm
Nội dung chính của tài liệu sẽ làm nổi bật, hoặc một số nhân vật lịch sử
có ảnh hưởng lớn đến tiến trình lịch sử như nhân vật Oasinhtơn trong bài
23
“Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ”, Bixmac trong
bài “Cuộc đấu tranh thống nhất nước Đức” Abraham Lin- côn trong bài “Nội
chiến ở Mỹ”…
- Loại tài liệu lấy địa danh lịch sử làm trọng tâm
trong nhóm học tập về một chủ đề cụ thể. Trao đổi, thảo luận tạo ra sự tiếp
xúc trực diện giữa các HS trong nhóm học tập và sự tự do trao đổi quan điểm,
ý tưởng, kinh nghiệm cá nhân. Nó không chỉ giúp HS tham gia chủ động vào
quá trình học tập mà còn giáo dục tính độc lập, tính năng động tư duy phê
phán, biết lắng nghe ý kiến của người khác, biết chính xác hóa quan điểm cá
nhân và hình thành chính kiến của mình. GV cần hình thành cho HS kỹ năng
sử dụng tài liệu để trao đổi thảo luận trong nhóm theo các hình thức sau:
- Trao đổi, thảo luận tái hiện nhằm gợi cho HS nhớ lại kiến thức đã chọn
lọc, xử lý và thu thập được, giúp HS củng cố, hiểu sâu sắc hơn kiến thức cũ, làm
cơ sở tiếp thu kiến thức mới, để khái quát và hệ thống hóa kiến thức. Nhờ đó,
hoạt động nhận thức của HS là một quá trình liên tục không bị gián đoạn
Hình thức này thường được thực hiện ở đầu giờ học hoặc trong suốt
tiến trình của bài giảng khi cần vận dụng kiến thức của bài cũ để tiếp nhận
kiến thức mới. Với hình thức này, tài liệu khai thác trên internet được HS
dùng để minh họa bằng một hệ thống tranh ảnh, mẩu chuyện lịch sử, phim, sơ
đồ, bản đồ lịch sử khi trình bày lại bài học.
- Trao đổi, thảo luận phân tích và khái quát hóa nhằm tạo cho HS tiếp
thu kiến thức từ tài liệu trên internet mà HS khác trình bày, hiểu được logic
bản chất của tài liệu lịch sử. Bằng hình thức này, GV hướng dẫn HS phân tích
và đánh giá các tài liệu HS khai thác được trong bài học
Những câu hỏi trao đổi kiểu này thường liên quan tới sự kiện cơ bản,
đòi hỏi sự vận dụng tổng hợp của nhiều tài liệu để tìm ra lô gic, bản chất của
sự kiện đó. Với hình thức này, HS phải trả lời được câu hỏi cho tài liệu
nhóm mình thu thập được từ phía GV, HS đưa ra được những bằng chứng về
độ tin cậy và nội dung tài liệu thu thập được, mục đích sử dụng và phương
pháp sử dụng.
25
- Trao đổi, thảo luận tìm tòi, phát hiện nhằm tổ chức hoạt động nhận
thức của HS khi giải quyết các nhiệm vụ học tập phức tạp. Trong trường hợp