Tổ chức hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty chỉnh hình và phục hồi chức năng hà nội - Pdf 33

LỤC
LỜIMỤC
NÓI ĐẦU

Chương
Những
đề lítheo
luận Mác
chunglà về
tổ trong
chức hạch
toántốtiền
lương

Lao
độngI: của
convấn
người
một
ba yếu
quan
trọng,
các khoản
theotại
lương
các Doanh
nghiệp
quyết
địnhtrích
sự tồn
của trong


21


CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN CHUNG VỂ Tổ CHỨC HẠCH TOÁN TIÊN
LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC.

I.

KHÁI NIỆM cơ BẢN VỂ TlỂN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO
LƯƠNG.
1. Khái niệm cơ bản về tiền lương.

Tiền lương được hiểu một cách thống nhất như sau: “về thực chất tiền
lương dưới CNXH là một phần thu nhập quốc dân, biểu hiện dưới hình thức
tiền tệ được nhà nước phân phối có kế hoạch cho công nhân viên phù hợp với
số lượng và chất lượng lao động của mỗi người đã cống hiến”. Tiền lương
phản ánh việc trả lương cho công nhân viên chức dựa trên nguyên tắc phân
phối theo lao động. Bây giờ, tiền lương chỉ là một khái niệm thuộc phạm trù
phân phối tuân thủ quy luật phân phối.ư

Ở nước ta, quan niệm như vậy về tiền lương đã tồn tại trong một thời gian
dài. Khi Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu tan rã, để tồn tại đất nước ta
phải tiến hành cải cách toàn diện trên mọi lĩnh vực đặc biệt là trong lĩnh vực tư
tưởng. Các quan niệm sai lệch, lìm hãm sự phát triển của nền kinh tế đều dần
dần bị xoá bỏ và thay vào đó là các quan niệm mới để phù hợp với tình hình
phát triển của đất nước và quốc tế. Quan niệm về tiền lương cũng được thay
thế một cách căn bản. “Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao

nhà nước phải dựa vào chức năng này để xây dựng một cơ chế tiền lương phù
hợp, ban hành nó như một văn bản pháp luật bắt chủ doanh nghiệp phải tuân
theo.

4


mức lương sẽ cao, còn những vùng, những ngành tự thân nó đã có sức hút đối
với lao động nhà nước đế cho thị trường tự điều tiết.

- Chức năng thước đo hao phí lao động xã hội: Theo chức năng đó thì vì
tiền lương là giá cả sức lao động nên thông qua tiền lương nhà nước có thể xác
định được mức hao phí lao động của cả XH.

Trong thực tế tồn tại hai khái niệm tiền lương. Tiền lương thực tế và tiền
lương danh nghĩa. Nhưng tất cả các chức năng trên của tiền lương đều gắn với
khái niệm tiền lương thực tế chứ không phải tiền lương danh nghĩa. Bởi vì tiền
lương danh nghĩa chỉ là khái niệm chỉ số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao
động trả cho người cung ứng sức lao động theo hợp đồng thoả thuận giữa hai
bên. Tiền lương danh nghĩa không thể cho ta biết mức trả công cho người lao
động là cao hay thấp. Tiền lương thực tế mới là cái mà người lao động quan
tâm vì tiền lương thực tế quyết định khả năng tái sản xuất lao động và quyết
định lợi ích cụ thể của người công nhân. Giữa tiền lương thực tế và tiền lương
danh nghĩa có mối quan hệ lẫn nhau.

,

,

.


Bảo hiểm XH, y tế, kinh phí công đoàn có ý nghĩa quan trọng trong xã
hội. Các khoản này đã đảm bảo quyền lợi cho người lao động thực hiện công
bằng XH thu hẹp khoảng cách giàu nghèo khắc phục những mặt yếu của cơ
chế thị trường.
3. Sự cần thiết phải hạch toán và nhiệm vụ hạch toán lương các
khoản trích theo lương.
3.1. Sự cần thiết phải hạch toán lưong:

Trong doanh nghiệp tiền lương có một ý nghĩa vô cùng quan trọng đòi
hỏi phải thường xuyên theo dõi ghi chép, kiểm tra, cần thiết phải hạch toán
cẩn thận. Nguyên do vì:

- Tiền lương là một bộ phận chi phí sản xuất. Đối với doanh nghiệp mục
6


định đúng đắn. Hơn thế nữa nếu không có thông tin về chi phí không hiểu biết
rõ về chi phí, thì làm sao doanh nghiệp thực hiện được mục tiêu tối thiểu hoá
chi phí nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực.

- Ngoài ra tiền lương còn là phương tiện tạo ra giá trị mới bởi vì nó chính
là động lực, là mục đích của người lao động. Đối với người lao động tiền
lương được nhận thoả đáng sẽ trở thành động lực kích thích khả năng sáng tạo
để làm tăng năng suất lao động. Tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Mặt khác
mức lương thoả đáng sẽ làm cho người lao động tự giác, có trách nhiệm hơn
với hoạt động của doanh nghiệp. Ngược lại với mức lương không hợp lý sẽ
làm cho người lao động chán nản, hiệu quả sản xuất giảm. Với ý nghĩa này
đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng một mức lương, hình thức trả lương hợp
lý đảm bảo lợi ích cho người lao động kích thích người lao động hăng say

Căn cứ vào tính chất công việc mà người lao động đảm nhận, có thể chia
lao của doanh nghiệp thành hai loại.

Loại lao động trực tiếp và loại lao động gián tiếp.

- Lao động trực tiếp gồm những người trực tiếp tiến hành hoạt động sản
xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm hay trực tiếp thực hiện các công việc dịch vụ
nhất định.

Theo nội dung công việc mà người lao động thực hiện loại lao động trực
tiếp được chia thành: Lao động sản xuất kinh doanh chính lao động sản xuất
kinh doanh phụ trợ, lao động của các hoạt động khác.


- Lao động gián tiếp: Gồm những người chỉ đạo, phục vụ và quản lý kinh
doanh trong doanh nghiệp.

Theo nội dung công việc và nghề nghiệp chuyên môn loại lao động này
được chia ra thành: Nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý kinh tế, nhân viên
quản lý hành chính.

Theo năng lực và trình độ chuyên môn lao động gián tiếp được phân
thành các loại:

+ Chuyên môn chính: Là những người có trình độ từ đại học trở lên có
trình độ chuyên môn cao, có khả năng giải quyết công việc mang tính tổng
hợp, phức tạp.

+ Chuyên viên: Cũng là những người lao động đã tốt nghiệp đại học, trên
đại học, có thời gian công tác tương đối lâu, trình độ chuyên môn tương đối


Đé phục vụ cho công tác hạch toán tiền lương có thể được chia thành hai
loại: Tiền lương lao động trực tiếp và tiền lương lao động gián tiếp. Trong đó
chi tiết theo tiền lương chính là tiền lương chính và tiền lương phụ.

Tiền lương chính: Là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian
10


tiền lương trên cơ sở gắn thu nhập của người lao động với kết quả hoạt động
kinh doanh đồng thời kết họp hài hoà các loại lợi ích cá nhân tập thể, nhà
nước”. Quản lý quỹ lương thực chất là xác định mối quan hệ giữa người lao
động, người quản lý lao động với nhà nước trong việc phân chia lợi ích sau
một kỳ kinh doanh. Quỹ lương của doanh nghiệp được xác định thông qua
đơn giá tiền lương do cơ quan chủ quản giao và khối lượng sản phẩm hàng
hoá, dịch vụ cho doanh nghiệp thực hiện được trong từng thời kỳ.

Cụ thể các quy định của nhà nước như sau:

Nhà nước quy định đơn giá lương của các sản phẩm, trọng yếu của sản
phẩm đặc thù sản phẩm do nhà nước định giá.

Tuỳ theo yêu cầu quản lý các bộ ngành, địa phương quyết định đơn giá
tiền lương cho một số sản phẩm trọng yếu sản phẩm đặc thù của từng bộ
ngành địa phương quản lý.

- Các sản phẩm còn lại dựa vào hướng dẫn chung của doanh nghiệp sẽ
xác định đơn giá nhưng phải đăng ký với cơ quan nhà nước (Bộ lao động
thương binh và xã hội, cơ quan tài chính thuế, cơ quan chủ quản nếu như
doanh nghiệp thuộc trung ương quản lý). Đơn giá tiền lương thường được xác


Quỹ lương thực hiện = ĐG X

Đối với doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả ổn định thì đơn giá tiền lương
12


ĐG = ^“
*kh

Trong đó: Pkh : lợi nhuận kế hoạch của doanh nghiệp.

Quỹ lương thực hiện của doanh nghiệp sẽ bằng:

Quỹ lươns thực hiện = Đơn giá X PTH.

PTH: Lợi nhuận thực hiện.

Các doanh nghiệp mà sản xuất kinh doanh không ổn định và không thể
tính toán tiền lương theo các phương pháp đã nêu ở trên thì sử dụng phương
pháp xác định tiền lương trên doanh thu:
V,,

np _ _________________J_kh___________

~~ Doanh thu kế hoạch

Và quỹ lương thực hiện được xác định như sau.

Quỹ lương thực hiện = ĐG X Doanh thu thực hiện

III. CÁC HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP.

1. Chế độ tiền lương:

1.1. Chế độ tiền lương cấp bậc:
14


kiện lao động nặng nhọc có hại cho sức khoẻ với điều kiện lao động bình
thường chế độ tiền lương cấp bậc có tác dụng nhất tích cực nó điều chỉnh tiền
lương giữa các ngành nghề một cách hợp lý nó cũng giảm bớt được tĩnh chất
bình quân trong việc trả lương thực hiện triệt để quan điểm phân phối theo lao
động chế độ tiền lương cấp bậc do nhà nước ban hành doanh nghiệp dựa vào
đó để vận dụng vào thực tế tuỳ theo đặc điểm sản xuất kinh doanh của đơn vị
mình chế độ tiền lương cấp bậc bao gồm 3 yếu tố có quan hệ chặt chẽ với
nhau, thang lương, tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật, mức lương.

- Thang lương là bảng xác định quan hệ tỷ lệ về tiền lương giữa các công
nhân cùng nghề hoặc nhóm nghề giống nhau theo trình độ cấp bậc của họ.
Mỗi thang lương gồm một số bậc lương và các hệ số phù hợp với lương đó. Hệ
số này nhà nước xây dựng và ban hành.

VD: Hệ số lương công nhân ngành cơ khí bậc 3/7 là 1,92, bậc 4/7 là
2,33.... Mỗi ngành nghề có một bảng lương riêng. Mức lương là số lượng tiền
tệ để trả công lao động trong một đơn vị thời gian (ngày, giờ, tháng) phù hợp
với các bậc trong thang lương. Chỉ lương bậc 1 được quy định rõ còn các
lương bậc cao thì được tính bằng cách lấy mức lương bậc nhân hệ số lương
bậc phải tìm. Mức lương bậc 1 theo quy định phải lớn hơn hoặc bằng mức
lương tối thiểu. Hiện nay mức lương tối thiểu là 180.000đ.



Hình thức trả lương theo thời gian: Là hình thức tiền lương cho người lao
động căn cứ vào thời gian làm việc thực tế, hệ số lương hoặc mức lương ghi
trong hợp đồng lao động của người lao động. Theo hình thức này tiền lương
thời gian phải trả được tính bằng thời gian làm việc nhân mức lương thời gian.

Tiền lương thời gian với đơn giá tiền lương cố định được gọi là tiền lương
thời gian giản đơn nó có thể kết hợp với chế độ tiền lương thưởng để khuyến
khích người lao động hăng hái làm việc tạo nên tiền lương thời gian có
thưởng.

Các doanh nghiệp chỉ áp dụng tiền lương thời gian cho những công việc
16


chỉ những trường hợp chưa đủ điều kiện thực hiện trả lương theo sản phẩm
mới áp dụng trả lương theo thời gian.
2.2. Hình thức tiền lương theo sản phẩm:

Là hình thức trả lương cho người lao động căn cứ vào số lượng chất
lượng và đơn giá tiền lương giao cho một đơn vị sản phẩm công việc đó. Tiền
lương sản phẩm phải trả tính bằng số lương hoặc khối lượng công việc. Sản
phẩm hoàn thành đủ tiêu chuẩn chất lượng nhân với đon giá tiền lương sản
phẩm việc xác định tiền lương sản phẩm phải dựa trên cơ sở các tài liệu về
hạch toán kết quả lao động.

Để khuyến khích người lao động nâng cao năng suất, chất lượng sản
phẩm có thể áp dụng các đơn giá lương sản phẩm khác nhau.

+ Tiền lương sản phẩm tính theo đơn giá tiền lương cố định được gọi là


Nếu vì sự cố điện nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động hoặc
những nguyên nhân bất khả kháng thì tiền lương do hai bên thoả thuận nhưng
sẽ không được thấp hơn mức lương tối thiểu.

- Trong trường hợp nếu công nhân làm ra hàng hỏng xấu thì tuỳ từng
trường hợp họ sẽ được nhận.

Nguyên lương nếu mức hỏng này trong phạm vi định mức cho phép hoặc
nguyên nhân hỏng là khách quan.
18


- Nghỉ 12 ngày làm việc đối với những người làm việc trong điều kiện
bình thường.

- Nghỉ 14 ngày đối với những người làm công việc nặng nhọc, độc hại
hoặc làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống khắc nghiệt và đối với lao
động dưới 18 tuổi.

- Nghỉ 16 ngày làm việc đối với những người làm công việc đặc biệt nặng
nhọc, độc hại nguy hiểm hoặc đối với những người làm công việc nặng nhọc
độc hại nguy hiểm ở những nơi có điều kiện sinh sống khắc nghiệt.

Tiền lương trả cho người lao động nghỉ hàng năm nghỉ lễ, nghỉ tết nghỉ
việc riêng có lương được tính theo lương thời gian. Quỹ tiền lương thanh toán
cho người lao động trong những ngày nghỉ hàng năm nghỉ lễ, nghỉ tết, việc
riêng có lương thường được các cơ quan cấp trên giao ngoài đơn giá tiền lương
được gọi là quỹ tiền lương bổ sung và được hạch toán vào chi phí kinh doanh
trên cơ sở số tiền thực chi cho người lao động.

+ Thưởng do nâng cao chất lượng sản phẩm thể hiện ở việc nâng cao tỷ
trọng hàng loạt một và giảm tỷ lệ hàng hỏng tiền thưởng này căn cứ vào số
tiền tiết kiệm được do giảm tỷ lệ hỏng.

+ Thưởng do tăng năng suất lao động. Các DNSX theo mùa vụ thường sử
dụng hình thức này nhằm phục vụ tốt nhu cầu trên tiền thưởng về sản phẩm
đó.

+ Thưởng do bán hàng vượt mức khoán. Các doanh nghiệp thường áp
dụng hình thức này để khuyến khích người lao động hăng say làm việc tăng

20


+ Thưởng thi đua vào dịp cuối năm được xác định thông qua việc xếp
loại A, B, c. Căn cứ xếp loại thái độ, ý thức chất lượng làm việc trong năm
của người lao động. Tiền thưởng của mỗi cá nhân khác nhau do doanh nghiệp
quyết định thưởng bao nhiêu phải căn cứ vào kết quả hoạt động kinh doanh
trong năm.

+ Thưởng sáng kiến chế tạo sản phẩm với mục đích phát huy tính sáng
tạo của người công nhân như sáng kiến sử dụng máy móc có hiệu quả tạo ra
sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường.

+ Thưởng điển hình chỉ dành cho cá nhân có thành tích suất sắc trong
quá trình công tác nhằm nêu gương tốt cho mọi người.

+ Thưởng nhân dịp lễ tết mức lương như nhau đối với mọi người.

Ngoài ra một số doanh nghiệp còn áp dụng cơ chế trả lương khuyến

phòng tổ chức lao động lập mỗi khi tuyển dụng sa thải thuyên chuyển công
nhân.

Để tính toán chính xác tiền lương phải trả ngoài chí tiêu về số lượng lao
động còn cần các chỉ tiêu về kết quả lao động, chỉ tiêu về thời gian lao động.
1.2. Tổ chức hạch toán thời gian lao động.

Với mục tiêu cung cấp thông tin về thời gian lao động tổ chức hạch toán
thời gian lao động có nhiệm vụ phản ánh kịp thời chính xác số ngày công, giờ
công làm việc thực tế hoặc ngừng sản xuất nghỉ việc của từng người lao động
từng đơn vị sản xuất từng phòng ban trong doanh nghiệp. Công việc tổ chức
hạch toán thời gian lao động có ý nghĩa rất lớn trong quản lý lao động, kiểm
tra việc chấp hành kỷ luật lao động làm căn cứ cho việc tính lương tính thưởng
chính xác cho người lao động.

22


- Bảng chấm công: là chứng từ quan trọng nhất đế hạch toán thời gian lao
động trong các doanh nghiệp. Chứng từ này do bộ tài chính quy định thống
nhất tại mọi doanh nghiệp ( Mẫu 01 - LĐTL - chế độ chứng từ kế toán). Thời
gian làm việc nghỉ việc của người lao động đều được ghi chép hàng ngày vào
bảng chấm công theo đúng chí dẫn, bảng chấm công được lập chi tiết cho từng
bộ phận phòng ban, tổ sản xuất do tổ trưởng sản xuất, các trưởng phòng ban
chịu trách nhiệm chấm công. Bảng chấm công phải công khai cho người lao
động biết và là căn cứ tính lương thưởng, tổng hợp thời gian lao động sử dụng
trong doanh nghiệp ở mỗi bộ phận.

- Phiếu làm thêm giờ hoặc làm đêm chứng từ này được lập cho từng
người khi phát sinh việc làm thêm giờ hoặc đêm. phiếu do người báo làm thêm

duyệt. Quá trình lập phiếu như sau. Phiếu do người giao việc lập sau khi đã
kiểm tra số lượng và chất lượng sản phẩm hoàn thành.

Hợp đồng giao khoán là bản ký kết giữa người giao khoán và người nhận
khoán về khối lượng công việc thời gian làm việc trách nhiệm và quyền lợi
mỗi bên khi thực hiện công việc đó đồng thời là cơ sở thanh toán tiền công
cho người nhận khoán. Hợp đồng giao khoán là chứng từ mẫu số 08 - LĐTL.
Chế độ chứng từ kế toán do Bộ Tài chính phát hành. Trên hợp đồng ghi rõ tên
địa chỉ đơn vị ngày tháng năm hợp đồng, ghi rõ tên người giao và nhận khoán
phương thức giao khoán, trách nhiệm và quyền lợi các bên. Hợp đồng phải có
đủ chữ ký của các bên tham gia.

- Ngoài ra đơn vị còn có thể sử dụng một số chứng từ sổ sách như bảng
theo dõi công việc của tổ, số sản lượng Bộ Tài chính không ban hành các loại
chứng từ sổ sách này mà do doanh nghiệp tự lập. Tất cả các chứng từ sổ sách
này đều làm căn cứ cho việc trả lương.

- Việc cuối cùng trong tổ chức hạch toán chi tiết tiền lương và tính lương
và lập bảng thanh toán cho người lao động việc tính lương này được áp dụng
theo một hình thức trả lương do phòng kế toán làm trừ khi doanh nghiệp có

24


Tính lương: ở Việt Nam thời gian tính lương là một tháng lương được
tính theo hình thức thời gian hoặc sản phẩm cho từng người lao động riêng
trong trường hợp trả lương theo sản phẩm tập thể thì kế toán còn phải tiến
hành chia lương. Có hai hình thức chia lương: Chia lương theo cấp bậc kỹ
thuật và công việc. Hình thức này áp dụng khi cấp bậc công việc được giao
bằng cấp bậc kỹ thuật.

2. Tổ chức hạch toán chi tiết các khoản trích theo lương.

Các khoản trích theo lương không thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp
Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thuộc quản lý của cơ quan bảo hiểm còn kinh
phí công đoàn do công đoàn cấp trên quản lý. Mọi việc chi tiêu thanh toán với
công nhân viên do doanh nghiệp làm dưới sự giám sát của cơ quan cấp trên.
2.1. Tổ chức hạch toán chỉ tiết bảo hiểm xã hội.

- Nguyên tắc quản lý quỹ BHXH.

Quỹ BHXH do cơ quan bảo hiểm xã hội quản lý các khoản trích bảo
hiểm xã hội đều phải nộp lên cơ quan bảo hiểm. Các khoản chi tiêu về bảo
hiểm do doanh nghiệp tự chi cuối kỳ theo quy định của cơ quan bảo hiểm kế
toán đem chứng từ lên quyết toán với cơ quan bảo hiểm rồi nhận tiền thanh
toán.

Dựa trên nguyên tắc này tổ chức hạch toán chi tiết bảo hiểm xã hội gồm
hai loại chứng từ là phiếu nghỉ hưởng bảo hiểm xã hội và bảng thanh toán bảo
hiểm xã hội.

- Phiếu nghỉ hưởng bảo hiểm xã hội lấy chứng từ xác nhận ngày nghỉ ốm
26



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status