Trường Đại học Luật Hà Nội
I, Phần mở đầu:
Như chúng ta đã biết, dư luận xã hội là một hiện tượng phức tạp của đời
sống xã hội, nó là một hiện tượng thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội.
Nó có tác động to lớn đến mọi cá nhân, mọi tổ chức trong xã hội với nhiều lĩnh
vực. Để hiểu rõ thêm về dư luận xã hội sau đây em xin trình bày một số vấn đề
liên quan đến dư luận xã hội đó là: Các tính chất cơ bản của dư luận xã hội và
tác dụng của dư luận xã hội đối với lĩnh vực pháp luật.
II, Phần nội dung:
1, Khái quát về dư luận xã hội:
Dư luận xã hội là tập hợp các ý kiến, thái độ có tính chất phán xét, đánh
giá của các nhóm xã hội của cộng đồng xã hội hay của xã hội nói chung. Nó có
tính chất phổ biến tương đối, tính mạnh mẽ và tính bền vững nhất định đối với
những vấn đề đụng chạm tới lợi ích chung, thu hút được sự quan tâm của nhiều
người, và được thể hiện trong các nhận định hoặc hành động thực tiễn của họ.
Dư luận xã hội là một hoạt động quan trọng trong đời sống tinh thần của con
người, nó tồn tại tất cả trong các hoạt động lớn nhỏ khác nhau của con người
trong mọi hoạt động xã hội.
Dư luận xã hội chỉ được nảy sinh khi trong cộng đồng xuất hiện những
vấn đề, những sự kiện, hiện tượng mang tính thời sự có liên quan đến lợi ích của
các nhóm xã hội hoặc của cả cộng đồng. Nó có thể hình thành một cách tự phát,
nhưng cũng có thể hình thành do chủ định với sự chuẩn bị từ trước để phục vụ
một mục đích nào đó. Trong quá trình phát triển của xã hội, sự phụ thuộc vào
nhau giữa các cá nhân và cộng đồng trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống
ngày càng nhiều hơn. Và cùng với sự phát triển của xã hội thì dư luận xã hội
cũng ngày càng phát triển hơn.
Dư luận xã hội là tập hợp các ý kiến của cá nhân, các nhóm xã hội, hay
của xã hội. Những ý kiến đó có thể chỉ là sự mô tả lại sự việc, hiện tượng, cũng
Bài tập lớn học kỳ môn xã hội học đại cương
gồm: tán thành, phản đối hoặc lưỡng lự (chưa rõ thái độ). Cũng có thể phân
thành khuynh hướng tích cực hoặc tiêu cực, tiến bộ hoặc lạc hậu… Ở mỗi
Bài tập lớn học kỳ môn xã hội học đại cương
2
Trường Đại học Luật Hà Nội
khuynh hướng tán thành hay phản đối lại có thể phân chia theo các mức độ cụ
thể như rất tán thành, tán thành, lưỡng lự, phản đối, rất phản đối.
Tính khuynh hướng cũng biểu thị sự thống nhất hay xung đột của dư luận
xã hội. Xét theo các mức độ tán thành hay phản đối được nêu ở trên, nếu đồ thị
phân bố theo hình chữ U thì biểu thị sự xung đột; còn nếu đồ thị phân bố theo
hình chữ J thì biểu thị sự thống nhất. Đồ thị phân bố dư luận xã hội có hình chữ
U khi trong xã hội có hai loại quan điểm mâu thuẫn, đối lập nhau về cùng một
sự kiện, hiện tượng quá trình xã hội nào đó đều có tỉ lệ người ủng hộ cao. Trong
một xã hội nhất định nếu thái độ dư luận xã hội đối với phần lớn các vấn đề kinh
tế, chính trị, xã hội có dạng phân bố hình chữ U thì điều đó có nghĩa là xã hội
đang đứng trên bờ vực của một cuộc nội chiến. Khi sơ đồ phân bố dư luận xã
hội phân bố theo hình chữ J thì chỉ có một loại quan điểm (tán thành hoặc phản
đối) có tỉ lệ số người ủng hộ cao mà thôi điều đó biểu thị sự thống nhất cao
trong dư luận xã hội.
Ví dụ: Cuộc chiến tranh đã từng xảy ra khi liên minh quân sự Bắc Đại
Tây Dương (NATO) tấn công Nam Tư. Trước tình hình này đã có nhiều luồng
dư luận khác nhau. Ở trong nước các nước thuộc khối NATO thì cho rằng đó là
một cuộc chiến tranh cần thiết còn ở Nam Tư và một số nước trên thế giới lại
phản đối cuộc chiến tranh đó.
2.2, Tính lợi ích:
Vì đối tượng của dư luận xã hội là những vấn đề có mối quan hệ mật thiết
tính trước mắt và tính lâu dài.
Hai là, quá trình trao đổi thảo luận ý kiến để dẫn đến dư luận xã hội là quá
trình giải quyết mâu thuẫn lợi ích. Trong công việc này nhóm xã hội nào có tổ
chức tốt thành lực lượng thì nhóm xã hội đó sẽ thành công hơn trong việc bảo vệ
quan điểm, lợi ích của mình và ngược lại.
2.3, Tính lan truyền:
Dư luận xã hội chỉ nảy sinh khi xuất hiện những vấn đề liên quan đến lợi
ích của cộng đồng, vì vậy dư luận xã hội thường là những thông tin được nhiều
người quan tâm và luôn mang tính kích thích đối với mọi người. Để làm được
điều này dư luận xã hội đã có các thông tin bằng hình ảnh, bằng âm thanh sống
Bài tập lớn học kỳ môn xã hội học đại cương
4
Trường Đại học Luật Hà Nội
động trực tiếp có tính thời sự. Dưới tác động của các luồng thông tin này, các
nhóm công chúng khác nhau sẽ cùng được lôi cuốn vào quá trình bày tỏ sự quan
tâm của mình thông qua các hoạt động trao đổi, bàn bạc, tìm kiếm thông tin,
cùng chia sẻ trạng thái tâm lý của mình với người xung quanh.
Đặc biệt với các sự kiện lớn như chiến tranh, tội phạm, ô nhiễm môi
trường… chúng ta có thể theo dõi và ghi nhận được ảnh hưởng của các luồng
thông tin đến các hành động quan tâm của công chúng. Khi đó ta có thể thấy sự
hình thành và lan truyền của dư luận xã hội rất rõ nét.
Ví dụ: Trận động đất khủng khiếp ở Haiti với thiệt hại về người và tài sản
rất lớn vào cuối năm 2009 ngay lập tức thông qua các phương tiện thông tin đại
chúng, thông tin này đã được lan truyền đi khắp thế giới nhằm kêu gọi sự giúp
đỡ của mọi người.
Việc nhà máy Vedan sả trực tiếp chất thải ra sông Thị Vải và làm môi
người).
Biến đổi theo thời gian: ngay trong một nền văn hóa – xã hội, thì theo thời
gian các dư luận xã hội cũng có thể bị biến đổi. Chẳng hạn, trên cùng lãnh thổ
đất nước Việt Nam, từ thời xưa thì chế độ đa thê, một người chồng được danh
chính ngôn thuận có 5 thê 7 thiếp và được cộng đồng xã hội thừa nhận, nhưng
đến thời kỳ hiện nay thì chế độ đa thê không còn được chấp nhận, bị mọi người
phản đối và lên án gay gắt.
Ngoài hai phương diện trên, dư luận xã hội còn biến đổi theo đối tượng
của các phán xét, đánh giá khi công chúng phát hiện thêm các mối liên quan
giữa các đối tượng ban đầu với các sự kiện, hiện tượng, quá trình diễn ra kèm
theo nó.
2.5, Tính tương đối trong khả năng phản ánh thực tế xã hội:
Sự phản ánh thực tế xã hội của dư luận xã hội có thế là đúng hoặc sai theo
nhiều mức độ khác nhau. Dù có đúng đắn được mọi người chấp nhận, tán thành
thì nhiều dư luận xã hội vẫn luôn có những hạn chế của nó, vì vậy không tuyệt
đối hóa khả năng nhận thức từ dư luận xã hội, khi nhận thức từ dư luận xã hội
thì phải có sự chủ động trong sự chọn lọc thông tin để nhận thức. Ngược lại dù
dư luận xã hội có sai thì trong dư luận xã hội vẫn có hạt nhân hợp lý cần được
Bài tập lớn học kỳ môn xã hội học đại cương
6
Trường Đại học Luật Hà Nội
coi trọng. Dư luận xã hội không phải lúc nào của đa số cũng đúng hơn so với
thiểu số, có nhiều trường hợp dư luận của số ít đúng nhưng do mọi người chưa
nhận thức được nên vẫn phản đối: Ví dụ như Galile, khi ông tuyên bố Trái Đất
quay quanh Mặt Trời, mặc dù đây là một nhận xét đúng nhưng trong thời kỳ ấy
tất cả mọi người trong xã hội đều không công nhận nó, mà còn cho đó là một
cũng như trong mỗi cộng đồng dân cư. Nó tác động nên cách ứng xử của các
thành viên trong xã hội, chỉ ra những việc nên làm, những việc không nên làm.
Đối với hoạt động xây dựng pháp luật: Dư luận xã hội như là một bộ phận
của ý thức pháp luật, nên nó thúc đẩy, củng cố việc hình thành những tư tưởng,
những quan điểm pháp lý phục vụ cho quá trình hoạch định chính sách pháp
luật. Sáng kiến pháp luật liên quan đến việc ban hành sửa đổi hoặc hủy bỏ các
quy định pháp luật. Nói cách khác thông qua dư luận xã hội có thể biết được giai
đoạn đó nhân dân đang quan tâm đến vấn đề gì. Trên cơ sở nghiêm cứu về dư
luận xã hội các cơ quan, nhà chức trách có thẩm quyền tiến hành xây dựng chính
sách điều pháp luật, chương trình xây dựng pháp luật và cả những quy định pháp
luật cụ thể cho phù hợp với nhu cầu đòi hỏi của cuộc sống. Dư luận xã hội có
thể hoan nghênh, chào đón, ủng hộ và cũng có thể phản đối việc ban hành một
văn bản pháp luật hay một quy định pháp luật nào đó.
Vì vậy các cơ quan nhà nước khi ban hành bất kỳ một quy định pháp luật
nào đó mang tính nhạy cảm thì nên thăm dó dư luận xã hội về vấn đề đó để nắm
bắt được phản ứng của xã hội ủng hộ hay phản đối hoặc có những băn khoăn gì.
Từ đó cho thấy các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi ban hành hoặc bãi bỏ
các quy định của văn bản pháp luật có liên quan đến các vấn đề nhạy cảm thì
không thể không quan tâm đến dư luận xã hội, thăm dò cự đồng tình hay phản
đối của các chủ thể có liên quan để có thể đưa ra những giải pháp phù hợp.
Đối với hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật: Dư luận xã hội có tác
dụng như là cố vấn về mặt tinh thần cho việc tiến hành các hoạt động thực hiện
và áp dụng pháp luật của các cơ quan hay nhà chức trách có thẩm quyền.
Hoạt động thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật đương nhiên là phải
trên cơ sở pháp luật nhưng nếu được sự đồng tình ủng hộ của dư luận xã hội thì
hiệu quả sẽ rất cao. Tuy nhiên trong quá trình xây dựng pháp luật không phải lúc
nào cũng có thể lường trước được mọi tình huống hay hoàn cảnh có thể xảy ra
trên thực tế. Do vậy khi tổ chức thực hiện pháp luật các cơ quan nhà nước có
Bài tập lớn học kỳ môn xã hội học đại cương
những vụ tiêu cực, tham nhũng bị phanh phui là do nhân dân. Những dữ liệu từ
các cuộc họp quốc hội vừa qua cho thấy trong số những đơn tố của nhân dân thì
90% là đúng sự thật, chỉ có 10% là không đúng hoàn toàn. Những con số thống
Bài tập lớn học kỳ môn xã hội học đại cương
9
Trường Đại học Luật Hà Nội
kê đã cho thấy vai trò to lớn của dư luận xã hội trong công cuộc đấu tranh chống
các hành vi tiêu cực trong bộ máy nhà nước.
Tóm lại, dư luận xã hội có vai trò như là một trong những công cụ thẩm
định nội dung của pháp luật và các hoạt động pháp luật, đó là một trong những
phương diện để phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong lĩnh vực hoạt động
pháp luật. Dư luận xã hội còn góp phần cho văn hóa pháp lý ứng xử giữa con
người với con người ngày một tốt hơn, tạo ra sự hiểu biết, thông cảm lẫn nhau
giữa nhân dân với những người thực thi pháp luật, tạo ra không khí hòa thuận
trong các hoạt động xã hội, sự gắn bó của nhân dân đối với công việc nhà nước.
III, Kết luận:
Như vậy dư luận xã hội là một sức mạnh tinh thần trong xã hội và có tác
động mạnh mẽ lên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, sự ruồng bỏ của dư luận
xã hội đôi khi có thể hủy diệt uy tín, danh dự thậm chí là sức khỏe và tính mạng
của con người. Mặt khác, dư luận xã hội cũng tạo ra cho mọi người cơ hội, khả
năng thổ lộ và bảo vệ quan điểm, ý kiến của mình một cách công khai đối với
các vấn đề, hiện tượng có liên quan đến lợi ích và đời sống cộng đồng xã hội.
Ngày nay khi mà vai trò của quần chúng nhân dân được coi trọng, nền dân chủ
xã hội được mở rộng thì vai trò và hiệu lực của xã hội ngày càng được nâng cao.