NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CHỦ YẾU CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY LÀ GÌ? LÀ GIẢNG VIÊN, ANH/CHỊ CÓ CÁCH TÁC ĐỘNG NÀO ĐỂ GIÚP SINH VIÊN PHÁT HUY THUẬN LỢI, KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN NHẰM HỌC TẬP TỐT - Pdf 33

Bài tập nhóm môn: Tâm Lý Giáo Dục Đại Học

BÀI THẢO LUẬN
MÔN: TÂM LÝ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
Giảng viên: ThS.
Thành viên nhóm:
Hồ Huỳnh Phong (Nhóm trưởng)

Nguyễn Tiến Luật

Mai Thị Lâm (Thư ký)

Trần Quang Nhu

Nguyễn Bá Hợp

Bùi Phước Tài

Võ Văn Khoa

Nguyễn Quốc Trung

Nguyễn Gia Long

Chủ đề 3: NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CHỦ YẾU CỦA SINH
VIÊN HIỆN NAY LÀ GÌ? LÀ GIẢNG VIÊN, ANH/CHỊ CÓ CÁCH TÁC ĐỘNG
NÀO ĐỂ GIÚP SINH VIÊN PHÁT HUY THUẬN LỢI, KHẮC PHỤC KHÓ
KHĂN NHẰM HỌC TẬP TỐT?

1


2


Bài tập nhóm môn: Tâm Lý Giáo Dục Đại Học

Tạo cầu nối giữa sinh viên với các đơn vị tuyển dụng bằng cách đề nghị nhà
trường tổ chức các buổi tư vấn nghề nghiệp do các đơn vị kinh tế tổ chức để giới thiệu
doanh nghiệp đến với sinh viên.
Lắng nghe và chia sẻ các ý kiến trong việc băn khoăn chọn ngành nghề của
sinh viên.
• Năng động, sáng tạo
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, của khoa học công nghệ trên
toàn cầu không những đưa thế giới bước vào kỉ nguyên của công nghệ mà nó còn
tạo điều kiện dễ dàng trong việc tiếp cận thông tin khoa học, tri thức khoa học.
Sinh viên có điều kiện dễ dàng để tiếp nhận (chỉ cần một chiếc máy tính nối
mạng là có thể biết nhiều thông tin trên thế giới đang xảy ra; hoặc có thể thông
qua sách, báo, ấn phẩm, tạp chí, truyền hình…)
Bước vào Đại học cũng là thời kì sinh viên bước dần vào các quan hệ xã hội
và phát triển tâm sinh lí thích được thể hiện mình nhiều hơn, thích có chính kiến
của mình. Sinh viên tự mình tìm tòi những vấn đề liên quan đến ngành nghề của
mình hay các vấn đề khác của cuộc sống. Môi trường học Đại học với những kiến
thức mang tính khai mở cho sinh viên là điều kiện sinh viên phát triển sự năng
động, sáng tạo của mình trong học tập và trong các hoạt động xã hội
Được khuyến khích tham gia các nghiên cứu khoa học nhỏ để rèn luyện kĩ
năng sau này
Các tác động của giảng viên
Khuyến khích, hướng dẫn sinh viên tích cực nghiên cứu khoa học
Cung cấp cho sinh viên những nguồn tư liệu đáng tin cậy, hướng dẫn sinh viên
đi đúng với hướng nghiên cứu
1.5. Chủ động về thời gian

không mảy may nghĩ tới việc học, thậm chí không dành thời gian tối thiểu cần
thiết cho việc học.
Do học theo hệ tín chỉ nên giờ đây sinh viên còn có nhiều “thời gian rỗi” hơn
so với thời học theo chế độ niên chế. Học tín chỉ, thực chất là dành quyền chủ
động cho sinh viên tự sắp xếp thời gian để tự học và nghiên cứu. Lên lớp, giáo
viên chỉ có vai trò dẫn dắt và định hướng, còn lại sinh viên phải tự tìm hiểu và
nghiên cứu, mà sinh viên Việt Nam bây giờ ý thức tự học, tự nghiên cứu rất kém.

4


Bài tập nhóm môn: Tâm Lý Giáo Dục Đại Học

Theo cách tín chỉ, giờ lên lớp ít hơn thay vào đó là thời gian tự học tự nghiên
cứu. Nhưng ngoài giờ lên lớp, đa số sinh viên dành thời gian còn lại để online,
xem phim hay chơi game… với lý do là thầy không ra bài tập để làm. Họ không
hề có ý thức tự học, tự nghiên cứu. Thầy cô ra bài thì làm, không ra thì nghỉ cho
“khỏe”. Ngoài việc giết thời gian vào những việc trên thì một bộ phận không nhỏ
dành thời gian để ngủ, mà đa số là sinh viên nam.
Vì thế nên bây giờ việc bắt gặp sinh viên ngồi đọc sách, họp nhóm bàn bạc
việc học hay ngồi mày mò, nghiên cứu một vấn đề nào đó liên quan đến học hành
thì rất hiếm… Mà thay vào đó là thấy các bạn thường xuyên vào Facebook, blog,
bói toán online…gần như là chiếm trọn thời gian rỗi rảnh.
Hãy biết quý trọng thời gian, đừng để tuổi trẻ của mình trôi qua một cách phí
hoài như vậy các bạn nhé!
Vai trò của giảng viên:
Cùng với những thuận lợi và sự lãng phí ấy với một vai trò là giảng viên là
người cầm ngọn cờ đạo đức cho tuổi trẻ và mũi tên khoa học của tương lai của đất
nước, cần giúp sinh viên cân đối lại thời gian cho hợp lý và khoa học đồng thời có
ích cho xã hội nói chung và gia đình nói riêng cũng như chính bản thân ta.

như học nhóm, phân bổ công việc,..
2.2. Kỹ năng sống còn hạn chế
Ở trung học phổ thông các bạn chưa được trang bị các kỹ năng mềm: sống,
học tập, làm việc độc lập,…Ở đại học sv Phải tự lập, tự lo cho mình tất cả từ học
tập đến sinh hoạt; phải đối mặt với những mối quan hệ xã hội mới có thể là rất
phức tạp. Do vậy, sinh viên có nhiều bỡ ngỡ do chưa thích ứng với môi trường
sinh hoạt độc lập, phương pháp giảng dạy tích cực ở bậc đại học với những hoạt
động nhóm, thuyết trình trước công chúng và thiếu kỹ năng giải quyết vấn đề. Nên
các bạn không thu được kết quả tốt trong học tập và trong cuộc sống.
Vai trò của giảng viên
Tận tâm trong nghề nghiệp, thường xuyên quan tâm và giúp đỡ SV cả trong
học tập và cuộc sống. Là chỗ dựa tinh thần vững chắc của các SV trong môi
trường sống và học tập mới, tạo điều kiện cho SV phát huy năng lực tự học, thể
hiện hết khả năng của mình.
Tiếp tục tổ chức nhiều hoạt động các cấp hỗ trợ tân SV vào đầu năm học để
giúp trang bị cho các tân SV kiến thức cơ bản về cuộc sống, học tập của SV, giúp
SV ổn định tâm lý và cuộc sống để sẵn sàng cho nhiệm vụ học tập mới.
6


Bài tập nhóm môn: Tâm Lý Giáo Dục Đại Học

2.3. Thiếu thốn tình cảm, môi trường sống bị thay đổi
Hầu hết sinh viên sống xa nhà, bắt đầu cuộc sống mới, không gần cha mẹ, bắt
đầu tự lập, tự xoay xuể mọi việc từ học tập đến cuộc sống đời thường nên họ gặp
rất nhiều khó khăn, đặc biệt ở giai đoạn đầu vào đại học.
Không còn gần cha mẹ như trước kia nên nguồn chia sẻ, động viên chính bây
giờ là bạn bè cùng phòng, cùng lớp. Không có người lớn dõi theo nên họ rất dễ bị
xa ngã nếu thiếu bản lĩnh.
Vai trò của giảng viên:

2.6. Khó khăn trong vấn đề tìm việc làm
• Khách quan:
Các cơ quan lãnh đạo chưa có sự phân bổ hợp lý giữa số lượng, ngành đào tạo
cho sinh viên với nhu cầu xã hội khi sinh viên ra trường (tầm nhìn 4-5 năm) nên số
lượng sinh viên tốt nghiệp ở từng ngành không phù hợp với nhu cầu của xã hội,
dẫn đến là họ làm trái nghề.
Chương trình đào tạo mặc dù có cải cách nhưng luôn chậm hơn, lạc hậu hơn
so với sự phát triển không ngừng của thị trường và yêu cầu của công việc, nên
sinh viên ra trường thường không đáp ứng được các yêu cầu làm việc của các
doanh nghiệp, hậu quả là doanh nghiệp phải đào tạo lại.
Giảng viên vừa phải đảm bảo được chương trình giảng dạy, vừa phải hướng
được sinh viên đến với việc tự học, tự nghiên cứu và hình thành một phẩm chất
nghề đúng nghĩa, từ đó giảng viên dễ tập trung vào nhiệm vụ đầu mà sao lãng đi 2
nhiệm vụ còn lại dẫn đến sinh viên có kiến thức chuyên môn nhưng khi lao động
thực tế khó vận dụng và tự phát huy thêm (tự nghiên cứu đào sâu thêm), và họ chỉ
nói lý thuyết, thiếu thực tế. Sinh viên cũng không được hướng đến sự hoàn hảo về
nhân cách để trở thành một công dân tốt cho xã hội (có tài mà không có đức).
• Chủ quan:
Nhìn chung, đa phần (gần 2/3) sinh viên trong quá trình học ở đại học chưa
hình thành được sự tích cực hòa nhập vào đời sống xã hội (thiếu năng động, ít
tham gia vào các hoạt động chính trị-xã hội, sinh hoạt tập thể, văn hóa tinh thần,
…), chính vì thế khi ra trường gặp khó khăn trong việc hoà nhập vào môi trường
làm việc (cuộc đời không như mơ), dẫn đến nhảy việc, và đó là lý do doanh
nghiệp ngại khi nhận sinh viên mới tốt nghiệp vào làm.
• Hướng giải quyết:
8


Bài tập nhóm môn: Tâm Lý Giáo Dục Đại Học




Bài tập nhóm môn: Tâm Lý Giáo Dục Đại Học

nghiệp); chưa giữ được chuẩn của nhiều yếu tố đầu vào (giáo viên, chương trình,
giáo trình, cơ sở vật chất);
Chưa có cơ quan chuyên trách quản lý chất lượng; hàng năm chưa có đánh giá
thực tế và báo cáo về chất lượng đạo tạo của các trường và cả hệ thống giáo dục
đại học.
Thực hiện 3 công khai bao gồm: công khai cam kết chất lượng đào tạo và chất
lượng thực tế của cơ sở đào tạo; công khai nguồn lực phục vụ đào tạo (giảng viên,
giáo trình, chương trình đào tạo, cơ sở vật chất…); công khai thu chi tài chính theo
hướng dẫn của Bộ GD-ĐT. Các nội dung của 3 công khai phải được công bố ở
web của mỗi trường, ở các khoa, thư viện để mọi người dễ tiếp cận.
Trong quy chế đánh giá và cho phép mở ngành tuyển sinh đại học, cao đẳng
nên quy định việc kiểm tra tại cơ sở giáo dục trước khi mở ngành 3 tháng, 3 năm
sau đó mỗi năm kiểm tra lại 1 lần...
Triển khai sinh viên tham gia đánh giá giảng dạy của giảng viên, giảng viên
tham gia đánh giá hoạt động của lãnh đạo trường; các ĐH, CĐ tham gia đánh giá
chỉ đạo, quản lý của Bộ GD-ĐT, bộ chủ quản và UBND, thành phố nơi trường
đóng.
Các trường cần xây dựng kế hoạch dài hạn, sử dụng phần thu học phí tăng
thêm để đầu tư cho các khâu, các yếu tố đầu vào của quá trình đào tạo, nâng cao
năng lực quản lý và chăm lo cho giảng viên để có tác dụng rõ rệt nâng cao chất
lượng đào tạo...
• Vai trò của giảng viên:
Thực hiện tốt quy chế về kiểm tra, đánh giá do Bộ GD đưa ra.
Không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, công tác nghiệp vụ giảng dạy.
Hỗ trợ sinh viên tiếp cận với các doanh nghiệp trong thời gian còn ở trường để
sinh viên có điều kiện vừa học lý thuyết, vừa thực tập.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status