MỤC LỤC
I.ĐẶT VẤN ĐỀ........................................................................................................2
II.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ......................................................................................2
1.Tranh chấp thương mại và trọng tài thương mại..........................................2
1.1.Tranh chấp thương mại.................................................................................................................2
1.2.Trọng tài thương mại.....................................................................................................................3
2.Phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTTM......................5
2.1.Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTTM......................................................5
2.2.Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài...........................................................................8
2.3.Thủ tục giải quyết tranh chấp......................................................................................................10
III.KẾT THÚC VẤN ĐỀ......................................................................................16
1
I.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay thì các hợp đồng thương
mại giữa các thương nhân trong nước với nhau hoặc giữa các thương nhân trong
nước với các thương nhân nước ngoài với nhau diễn ra rất phổ biến. Do vậy việc
phát sinh các tranh chấp thương mại là điều dễ hiểu, chính vì vậy mà pháp luật
quốc tế nói chung và Việt Nam nói riêng đã đưa ra các phương thức để giải quyết
tranh chấp đó là: Thương lượng, Hòa giải; Trọng tài thương mại; Tòa án. Ở Việt
Nam thì Thương lượng, Hòa giải và Tòa án là các phương thức đã có từ khá sớm,
còn Trọng tài thương mại thì mới chỉ áp dụng thường xuyên trong những năm gần
đây. Để hiễu rõ hơn về phương thức giải quyết tranh chấp này thì sau đâu chúng ta
cùng nghiên cứu qua các vấn đề sau.
Trọng tài thương mại
Trọng tài thương mại được hiểu là phương thức giải quyết tranh chấp do các
bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này (khoản 1 Điều 3 Luật
TTTM 2010)
Theo như quy định tại khoản 6 và khoản 7 Điều 3 Luật TTTM 2010 Trọng
tài thương mại tồn tại dưới hai hình thức là: Trọng tài quy chế và Trọng tài vụ việc.
Trọng tài quy chế là hình thức giải quyết tranh chấp tại một TTTT theo quy
định của Luật này và quy tắc tố tụng của TTTT đó.
Trọng tài vụ việc là hình thức giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật
này và trình tự, thủ tục do các bên thoả thuận.
1.2.1. Ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp bằng TTTM
Việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài sẽ nhanh chóng hơn việc giải
quyết tranh chấp tại Tòa án. Với việc Luật TTTM ra đời đã giúp cho HĐTT có
nhiều quyền năng hơn trong quá trình giải quyết tranh chấp, trong đó, thẩm quyền
về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. về việc triệu tập người làm chứng, về
thu thập chứng cứ đã góp phần đáng kể vào việc đẩy nhanh tiến trình giải quyết
tranh chấp, tiết kiệm chi phí và thời gian cho các bên.
Đồng thời luật cũng quy định việc giải quyết tranh chấp sẽ không bị dừng lại
bởi những sự việc lien quan đến Tòa án, vì nay luật cho phép các bên được yêu cầu
áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không coi như là từ bỏ quyền khởi
kiện ra trọng tài, cho phép HĐTT tiếp tục giải quyết vụ việc dù có một bên gửi đơn
3
yêu cầu ra Tòa án khi không đồng ý với quyết định của Trọng tài trước phiên họp
(Điều 44 Luật TTTM 2010)
Chất lượng của việc giải quyết tranh chấp sẽ cao hơn, Bằng việc quy định
về việc Tòa án là cơ quan cưỡng chế thu thập chứng cứ, áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời, triệu tập người làm chứng, quá trình giải quyết tranh chấp sẽ nhanh
chính đáng cho mình, chính vì lý do đó nên luật quy định tiêu chuẩn TTV là thừa
và đã hạn chế một số lượng các TTV mà các bên có thể lựa chọn.
Về sự hỗ trợ của Tòa án cho trọng tài trong quá trình giải quyết tranh chấp,
tuy việc đã quy định việc hỗ trợ của Tòa án cho các HĐTT nhưng vẫn còn một số
vấn đề tồn đọng cần được khắc phục như: Luật chưa quy định cụ thể các chế tài áp
dụng nếu như các cá nhân không thực hiện quyết định của Tòa án về việc thu thập
chứng cứ và triệu tập người làm chứng. Việc hỗ trợ của Tòa án chỉ dừng lại ở mức
độ có văn bản gửi các cá nhân, tổ chức liên quan mà chưa quy định chế tài đối với
các cá nhân, tổ chức này nếu không thực hiện yêu cầu của Tòa án. Đây là một
mảng bỏ ngỏ mà ngay cả Bộ Luật TTDS cũng không hề đề cập đến.
Về việc ban hành văn bản hướng dẫn Luật TTTM 2010, hiện nay mới chỉ có
Nghị định 63/2011/NĐ – CP của chính phủ hướng dẫn về Luật TTTM 2010.
Nhưng nội dung nghị định thì mới chỉ hướng dẫn về phần “đăng ký, chấp dứt hoạt
động, thu hồi giấy phép thành lập, giây đăng ký hoạt động của TTTT, chi nhành
của TTTT và thành lập đăng ký, chấm dứt hoạt động, thu hồi giấy phép, thành lập,
giấy đăng ký hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện của tổ chức trọng tài
nước ngoài tại Việt Nam” còn các vấn đề khác thì vẫn chưa có văn bản hướng dẫn
thi hành
2. Phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTTM
2.1.
Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTTM
2.1.1. TTV phải tôn trọng thoả thuận của các bên nếu thỏa thuận đó không
vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội.
5
Đây là một trong những nguyên tắc nổi bật nhất khi giải quyết tranh chấp
bằng trọng tài mà các nước trên thế giới cũng như Việt Nam đều thừa nhận. Nếu
bên không nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ của mình, do đó việc phán quyết của
trọng tài hợp pháp là điều kiện thiết yếu. Muốn vậy, việc TTV tuân thủ pháp luật
khi giải quyết tranh chấp là cần thiết.
2.1.3. Các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Hội đồng
trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và
nghĩa vụ của mình.
Những tranh chấp được đưa ra giải quyết tại TTTM thì thường không mang
tính chất công, do đó các bên tranh chấp đều bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa
vụ. Trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp, cả hai bên đều được lựa chọn thay
đổi TTV của riêng mình hoặc cũng nhau thống nhất chọn ra 1 TTV duy nhất, thậm
chí, bị đơn còn có quyền kiện lại bởi nguyên đơn là người có quyền khởi kiện và
đưa ra bản tự bảo vệ. Như vậy, mỗi bên trong tranh chấp đều có những quyền và
nghĩa vụ như nhau. Tuy nhiên, không phải bất cứ khi nào sử dụng quyền của mình
các bên cũng đều được đáp ứng. Ví dụ như nếu như việc khởi kiện lại của bị đơn
không phù hợp với quy định của luật, TTTT có thể từ chối đơn kiện lại đó.
2.1.4. Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công
khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng bậc nhất của tố tụng trọng
tài, do đó đây trở thành một ưu điểm của phương thức giải quyết trọng tài so với
giải quyết tranh chấp tại Tòa án. Quy tắc tố tụng tại AAA yêu cầu “Trọng tài phải
giữ bí mật tất cả các vấn đề liên quan đến quá trình tố tụng và kết quả vụ kiện”.
Đối với Việt Nam, Luật TTTM 2010 đã chặt chẽ hơn trước đây khi đòi hỏi toàn bộ
quá trình giải quyết tranh chấp phải được giữ bí mật, trừ khi các bên có thỏa thuận
khác. Nhờ thế mà uy tín của các bên được giữ gìn tốt hơn, việc giải quyết tranh
chấp được thuận lợi và dễ dàng hơn.
7
2.1.5. Phán quyết trọng tài là chung thẩm.
Nguyên tắc này đã nâng cao vị thế và vai trò của Trọng tài vì việc xét xử chỉ
Thương mại 2005 như sau: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích
sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương
mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.”. Như vậy những tranh chấp
phát sinh từ hoạt động trên nếu như thỏa thuận trọng tài có hiệu lực thì sẽ thuộc
thẩm quyền giải quyết của trọng tài
2.2.2 Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt
động thương mại.
Theo như pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 thì quy định các bên tranh
chấp phải có hoạt động thương mại, nay chỉ cần 1 bên có một bên tranh chấp có
hoạt động thương mại là trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đó. Vì thế
mà thẩm quyền của trọng tài đã được mở rộng hơn so với trước đây. Việc mở rộng
như vậy là rất hợp lý vì hoạt động thương mại giữa cá nhân hoặc tổ chức có hoạt
động thương mại với cá nhân, tổ chức không có hoạt động thương mại là rất phổ
biến.
2.2.3 Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết
bằng Trọng tài.
Đây là quy định của pháp luật để phù hợp với các luật chuyên ngành, ví dụ
như Điều 173 Luật hàng không dân dụng 2006 cho phép: “Các bên của hợp đồng
vận chuyển hàng hóa có thể thỏa thuận giải quyết tranh chấp phát sinh bằng trọng
tài. Thỏa thuận trọng tài phải được lập thành văn bản”; Điều 12 Luật đầu tư 2005
cho phép các tranh chấp giữa cơ quan nhà nước Việt Nam và nhà đầu tư cũng có
thể được giải quyết bằng trọng tài trong và ngoài nước;… ngoài ra đối với một số
luật chuyên ngành khác như Luật Chứng khoán 2006, Luật xây dựng đều có quy
định những trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài. Trong khuôn
khổ Tổ chức thương mại thế giới mà Việt Nam đã tham gia, các tranh chấp giữa
các quốc gia về chính sách thương mại cũng có thể được giải quyết bằng trọng tài.
Nhiều điều ước quốc tế về thương mại, tránh đánh thuế hai lần, khuyến khích và
9
tranh chấp sẽ chọn 1 TTV và 2 TTV đó sẽ cùng chọn một trọng tài thứ ba là chủ
10
tịch HĐTT. Việc tiến hành lựa chọn đã được tiến hành cùng lúc với thời điểm nộp
đơn khởi kiện của nguyên đơn và việc gửi bản tự bảo về của bị đơn. Nếu bị đơn
không tự chọn TTV cho mình thì chủ tịch TTTT sẽ chỉ định TTV cho bị đơn. Điều
này đồng nghĩa với việc nguyên đơn bắt buộc phải chọn TTV cho mình khi nộp
đơn khởi kiện.
Nếu vụ việc được giải quyết bằng trọng tài vụ việc, ngay từ khi nguyên đơn
gửi đơn khởi kiện thì họ đã chọn TTV cho mình và bị đơn khi gửi bản tự bảo vệ
cũng đã chọn ra 1 TTV và 2 TTV này sẽ bầu ra một TTV khác làm chủ tịch
HĐTT. Nếu bị đơn không lựa chọn TTV thì 1 hoặc các bên tranh chấp có quyền
yêu cầu tòa án có thẩm quyền chỉ định TTV cho các bị đơn (điểm a khoản 2 Điều
71 Luật TTTM 2010)
2.3.3. Chuẩn bị giải quyết vụ việc
Đây là giai đoạn tiếp theo của gia đoạn thành lập HĐTT. Quá trình này thì
gồm các công việc: Nghiên cứu hồ sơ, xác minh sự việc; Thu thập chứng cứ; Áp
dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời và hòa giải;
Nghiên cứu hồ sơ, xác minh sự thật
Theo như quy định tại Điều 43 LTTTM 2010 thì trước khi xem xét nội dung
vụ tranh chấp, Hội đồng trọng tài phải xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài;
thỏa thuận trọng tài có thể thực hiện được hay không và xem xét thẩm quyền của
mình. Trong trường hợp vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì Hội
đồng trọng tài tiến hành giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật này. Trường
hợp không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, thỏa thuận trọng tài vô hiệu
hoặc xác định rõ thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được thì Hội đồng trọng
tài quyết định đình chỉ việc giải quyết và thông báo ngay cho các bên biết.
Nếu các bên tranh chấp không đồng ý với quyết định đình chỉ của Hội đồng
trọng tài quy định tại Điều 43 của Luật này, thì có thể gửi đơn yêu cầu Tòa án có
trọng tài được lập theo ý kiến của Chủ tịch HĐTT (Điều 60 LTTTM 2010).
12
2.3.5. Thi hành, sửa chữa, đăng ký, hủy phán quyết trọng tài
Thi hành phán quyết trọng tài, theo như quy định tại khoản 5 Điều 61
LTTTM 2010 thì phán quyết trọng tài có hiệu lực từ thời điểm ban hành pháp
quyết trọng tài. Như vậy, chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày diễn ra phiên họp các
bên có nghĩa vụ thi hành. Nếu một bên cố tính không thi hành phán quyết của
trọng tài thì bên còn lại có thể yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền
thi hành phán quyết trọng tài (theo thủ tục cưỡng chế thi hành án dân sự).
Sửa phán quyết trọng tài, theo như tinh thần tại Điều 63 LTTTM 2010 thì
một bên có thể yêu cầu HĐTT sửa chữa những lỗi do nhầm lẫn và phải thông báo
ngay cho bên kia biết. Đồng thời luật cũng cho phép một bên yêu cầu HĐTT giải
thích cụ thể hơn phán quyết của mình, yêu cầu bổ sung phán quyết đối với những
yêu cầu được trình bày trong quá trình tố tụng hay ban hành bổ sung phán quyết
đối với những yêu cầu đã được trình bày trong quá trình tố tụng nhưng không được
ghi nhận trong phán quyết hoặc HĐTT chủ động sửa lỗi nếu như HĐTT phát hiện
ra, điều này giúp cho việc thực hiện các phán quyết được dễ dàng và hiệu quả hơn.
Về việc đăng ký phán quyết trọng tài thì theo quy định tại Điều 62 LTTTM
2010 thì chỉ áp dụng đối với phán quyết của trọng tài vụ việc và việc đăng ký hay
không đăng ký phán quyết của trọng tài không ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của
phán quyết. Do đó việc đăng ký phán quyết trọng tài chỉ mang tính chất khuyến
khích.
Hủy phán quyết trọng tài, bên cạnh việc pháp luật quy định phán quyết trọng
tài là chung thẩm thì vẫn quy định cơ chế hủy phán quyết trọng tài. Theo quy định
tại khoản 2 Điều 68 LTTTM 2010 thì hủy phán quyết trọng tài được thực hiện
trong 5 trường hợp: Một là, Không có thoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài
vô hiệu; Hai là, Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù
hợp với thoả thuận của các bên hoặc trái với các quy định của Luật này; Ba là, Vụ
triệu USD, vượt xa con số vài chục nghìn hoặc vài trăm nghìn USD/vụ như trước
14
đây. Còn các TTTT thương mại còn lại thì số lượng các vụ án thụ lý và giải quyết
rất khiêm tốn chỉ đếm trên đầu ngón tay thậm chí nhàn rỗi không có việc gì để làm.
Như vậy, thực trạng giải quyết TCTM bằng trọng tài ở Việt Nam hiện nay
rất ảm đạm, hạn chế. Thực tế các TCTM chủ yếu được giải quyết tại VIAC. Ngoài
VIAC hoạt động ngày càng hiệu quả và khẳng định được vị thế của mình với số
lượng vụ việc giải quyết ngày càng tăng, các TTTT còn lại hoạt động rất mờ nhạt,
gần như không có việc để làm, đây là một thực tế đang buồn và đáng lo ngại cho
sự phát triển cho sự phát triển của trọng tài thương mại ở Việt Nam.
Hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa coi trọng phương thức giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài. Số lượng các vụ tranh chấp thương mại được giải
quyết bằng phương thức này dừng lại ở con số rất khiêm tốn. Mặt khác các thương
nhân Việt Nam khi ký kết hợp đồng kinh doanh với nhau hoặc với đối tác nước
ngoài thường chưa coi trọng việc giải quyết tranh chấp, không nghĩ tới việc xảy ra
tranh chấp nên không thỏa thuận ngay hình thức, cơ quan giải quyết khi có tranh
chấp phát sinh. Điều đó thể hiện sự thiếu hiểu biết về phương thức giải quyết bằng
trọng tài, phương thức giải quyết bằng Tòa án đã ăn sâu vào tiềm thức của các
doanh nghiệp.
Một nguyên nhân không thể không nhắc đến thực trạng đáng buồn trên đó là
mạng lưới TTTT ở nước ta hiện nay quá thưa thớt, các TTTT hoạt động thực sự
hiệu quả chỉ đếm trên đầu ngón tay. Hoạt động của các TTTT chủ yếu dựa vào
nguồn vốn của nhà sang lập, nguồn vốn từ việc giải quyết tranh chấp quá ít và
nguồn thu lại rất hạn hẹp làm hạn chế khả năng phát triển của các trung tâm. Để
khắc phục nguyên nhân này thì nhà nước nên trực tiếp thành lập hoặc khuyến
khích thành lập ở mỗi tỉnh thành một TTTT để giải quyết các tranh chấp, tùy vào
số lượng các tranh chấp trên các địa bàn khác nhau mà quy mô của TTTT cũng
khác nhau để phù hợp với tình hình thực tế của các tỉnh.
16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Trọng tài thương mại 2010
2. Luật Thương mại 2005
3. Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, sửa đổi, bổ sung 2010
4. Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003
5. Nghị định 63/2011/NĐ – CP của Chính phủ về hướng dẫn Luật Trọng tài
thương mại 2010
6. Luật Hàng không dân dụng 2006
7. Luật Đầu tư 2005
8. Luật Chứng khoán 2006, sửa đổi bổ sung 2010
9. Khoán luận tốt nghiệp, Bùi Thị Thương, Các phương thức giải quyết
tranh chấp thương mại – Những vẫn đề lý luận và thực tiễn, 2010
10. Khóa luận tốt nghiệp, Vũ Thị Minh Lan, Pháp luật hiện hành về thủ tục
giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại, 2011
17