Đề bài: Bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam chính là đối tượng nghiên
cứu chủ đạo của bộ môn văn hóa Việt Nam.
LỜI MỞ ĐẦU
Văn hóa là sản phẩm của loài người và được tao ra, phát triển trong
quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Đây là thước đo trình độ phát triển
của con người và xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức
đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh
thần mà do con người tạo ra. Những đặc thù văn hóa có thể làm biến dạng,
thậm chí làm phá sản các chiến lược dài hạn của chính phủ. Mặt khác, trong
một thế giới đang bị toàn cầu hóa, nhu cầu tự khẳng định cá nhân là rât quan
trọng để không bị hòa tan nhưng vẫn hòa nhập. Bởi vậy, nhận thức được tầm
quan trọng của văn hóa cũng như nghiên cứu cách thức phát huy của nó
nhằm phục vụ cho sự phát triển của đất nước , của địa phương hiện đang là
vấn đề thời sự và thu hút nhiều sự quan tâm từ công chúng. Từ những điều
đó ta nhận thấy được tầm quan trọng và thú vị của bộ môn Đại cương về văn
hóa Việt Nam. Đại cương về văn hóa Việt Nam là một lĩnh vực ứng dụng
của văn hóa học. Và bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam chính là đối
tượng nghiên cứu chủ đạo của bộ môn Văn hóa Việt Nam.
NỘI DUNG
I- Giới thiệu vài nét về môn văn hóa Việt Nam
Đại cương văn hóa Việt Nam là một môn học nằm trong hệ thống các
môn học cho năm đầu bậc đại học dành cho sinh viên. Đây là môn học rất lý
thú và bổ ích hướng mỗi người trở về cội nguồn và tìm lại bản sắc văn hóa
dân tộc Việt Nam từ bao đời nay. Đó được hình thành từ xa xưa trong nếp
sống, phong tục tập quán của các dân tộc Việt Nam trên mọi nẻo đường đất
nước. Xuyên suốt chiều dài lịch sử thì văn hóa chiếm một phần rất quan
trọng góp phần làm nên văn minh của nhân loại. Và điều quan trọng hơn bao
1
giờ hết thì đó là nét rất riêng biệt mang đậm bản sắc Việt Nam để phân biệt
vẹn sự hiện diện của một bản sắc dân tộc trong giáo lưu với quốc tế.
2. Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
Bản sắc văn hóa Việt Nam là tố chất được hợp luyện cùng chiều dài
lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Bản sắc đó
không phải là một hằng số, là những giá trị bất biến, mà có những giá trị mới
được hình thành, bồi tụ trong quá trình hội nhập, tiếp biến giữa các nền văn
hóa.
Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam bao gồm những giá trị bền
vững, những tinh hoa vun đắp nên qua lịch sử hàn nghìn năm đấu tranh dựng
nước và giữ nước, trở thành những nét đặc sắc cảu cộng đồng dân tộc Việt
Nam, con người Việt Nam. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường
dân tộc, tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng gắn kết cá nhân, gia đình, làng
nước, lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đầu óc thực tế, tinh
thần cần cù, sang tạo trong lao động, tế nhị trong ứng xử, giản dị trong lối
sống (Nghị quyết Trung ương IV của Đảng).
III- Bản sắc văn hóa dân tộc của Việt Nam là đối tượng nghiên cứu chủ
đạo của bộ môn Văn hóa Việt Nam
1. Khái niệm đối tượng nghiên cứu
Đối tượng là cái mà người ta hướng tới, tập trung vào tìm hiểu, phân
tích cụ thể của một ngành hay một bộ môn nào đó. Một ngành hay một bộ
môn nào đó có thể có nhiều đối tượng nhưng cái mà người ta tập trung
hướng tới nhất được gọi là đối tượng nghiên cứu chủ đạo. Mỗi một ngành
hay một bộ môn nào đó lại có những đối tượng nghiên cứu riêng nhưng đối
với bộ môn văn hóa thì đối tượng nghiên cứu chủ đạo chính là bản sắc văn
hóa dân tộc Việt Nam. Xuyên suốt bộ môn Văn hóa Việt Nam là toàn bộ
những bản sắc văn hóa dân tộc người Việt từ bao đời nay với những nét đặc
3
trưng cơ bản trong nền văn hóa phong phú và đa dạng ấy. Bộ môn văn hóa
liên quan đến thời kỳ đấu tranh dựng nước, giữ nước của các Vua Hùng trải
dài từ Bắc tới Nam. Trong đó, các di tích thờ cúng Hùng Vương tập trung
chủ yếu trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (326 di tích), tâm điểm là Di tích lịch sử
Đền Hùng; tỉnh Hà Tây cũ (364 di tích), Thành phố Hà Nội (161 di tích),
tỉnh Bắc Ninh (168 di tích), tỉnh Vĩnh Phúc (62 di tích), Thành phố Hồ Chí
Minh (14 di tích)... Tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên đã ăn sâu vào tâm thức
người Việt, dù ở bất cứ đâu, phương trời nào, dù là già hay trẻ, dù là gái hay
trai, dù theo tôn giáo hay không theo tôn giáo người Việt không những luôn
nhớ về cội rễ, cùng hướng về cội nguồn dân tộc, mà còn khẳng định với bạn
bè quốc tế về nguồn cội - Tổ tiên của người Việt. Vì vậy, cộng đồng người
Việt Nam sinh sống ở một số nước đã về Đền Hùng xin đất, nước, chân
nhang thờ cúng Tổ tiên và lập đền thờ các Vua Hùng – những anh hùng dân
tộc.
5
Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, người Việt
Nam luôn tôn vinh các Vua Hùng là ông Tổ của mình và lấy đó làm điểm
tựa tinh thần, đức tin vào sự linh thiêng huyền diệu của Tổ tiên để chiến
thắng thiên tai, giặc ngoại xâm, bảo vệ giang sơn bờ cõi. Truyền thuyết tại
Đền Hùng đã ghi lại: Sau khi được Vua Hùng thứ 18 nhường ngôi, Thục
Phán đã dựng Cột đá thề trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh và thề nguyện sẽ trọn đời
bảo vệ giang sơn, gấm vóc mà Vua Hùng trao lại và đời đời hương khói
trông nom lăng miếu Tổ tiên. Những năm đầu công nguyên (40 - 43), Hai Bà
6
Trưng phát động cuộc khởi nghĩa chống quân Hán đã đọc lời thề trên cửa
sông Hát "Một xin rửa sạch nước thù- Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng",
các tài liệu sử sách sớm nhất ghi chép về thời đại Hùng Vương là " Đại Việt
dân tộc Việt Nam. Nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống có
ý nghĩa đặc biệt, tiêu biểu và đặc sắc của dân tộc Việt Nam trong việc tôn
vinh và thờ cúng các Vua Hùng - ông Tổ chung của cả dân tộc Việt, được sự
đồng ý của Thủ tướng Chính phủ, sự đồng thuận của các cấp, ngành Trung
ương, của tỉnh Phú Thọ và cộng đồng dân cư trên địa bàn tỉnh chúng ta tin
tưởng rằng "Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ" sẽ được Tổ chức
Khoa học, Văn hóa và Giáo dục của Liên Hiệp quốc (UNESCO) công nhận
là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
b. Áo dài – trang phục truyền thống của người phụ nữ Việt Nam
Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có những bản sắc dân tộc, phong tục
tập quán và trang phục truyền thống khác nhau. Phụ nữ Nhật tự hào với
chiếc kimono, phụ nữa Hàn nổi tiếng với hanbok,người Trung Quốc tự hào
với bộ xường xám từ bao đời nay
10
11
Kimono của Nhật Bản
Hanbok của Hàn Quốc
Xường xám của Trung Quốc
còn Việt Nam ta luôn tự hào với tà áo dài thướt tha được tôn lên hang quốc
phục.
12
lao động và gia tăng dáng dấp trang trọng khuê các. Thế là ra đời áo ngũ
thân với biến cải ở chỗ vạt nửa trước phải nay được thu bé lại trở thành vạt
con; thêm một vạt thứ năm be bé nằm ở dưới vạt trước. Áo ngũ thân che kín
thân hình không để hở áo lót. Mỗi vạt có hai thân nối sống (vị chi thành bốn)
tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, và vạt con nằm dưới vạt trước chính là
thân thứ năm tượng trưng cho người mặc áo. Vạt con nối với hai vạt cả nhờ
cổ áo có bâu đệm, và khép kín nhờ năm chiếc khuy tượng trưng cho quan
điểm về ngũ thường theo quan điểm Nho giáo và ngũ hành theo triết học
Đông phương.
Khác với kimono của Nhật Bản hay hanbok của Hàn Quốc, chiếc áo
dài Việt Nam vừa truyền thống lại cũng vừa hiện đại. Trang phục dành cho
nữ này không bị giới hạn chỉ mặc tại một số nơi hay dịp mà có thể mặc mọi
nơi, dùng làm trang phục công sở, đồng phục đi học, mặc đi chơi hay mặc để
tiếp khách một cách trang trọng ở nhà. Việc mặc loại trang phục này không
hề rườm rà hay cầu kỳ, những thứ mặc kèm đơn giản: mặc với một quần lụa
hay vải mềm, dưới chân đi hài, guốc, hay giày gì đều được; nếu cần trang
trọng (như trang phục cô dâu) thì thêm áo choàng và chiếc khăn đóng truyền
14
thống đội đầu, hoặc một chiếc miện Tây phương tùy thích. Đây chính là
điểm đặc biệt của thứ trang phục truyền thống này.
Chiếc áo dài hình như có cách riêng để tôn đẹp mọi thân hình. Phần
trên ôm sát thân nhưng hai vạt buông thật mềm mại trên đôi ống quần rộng.
Hai tà xẻ chí trên vòng eo khiến cho cử chỉ người mặc thật thoải mái, lại tạo
dáng thướt tha, tôn vẻ nữ tính, vừa kín kẽ vì toàn thân được bao bọc bởi lụa
mềm, lại cũng vừa khiêu gợi vì chiếc áo làm lộ ra sống eo.
Chúng ta đã không còn lạ lẫm gì với cái tên áo dài - trang phục truyền
thống của Việt Nam mình. Ngày nay, ở khắp mọi nơi, đâu đâu chúng ta cũng
thấy bóng dáng của tà áo dài thướt tha: trên sân trường với đồng phục nữ
18
Và có lẽ trong những vần thơ rất dung dị của Huy Cận cũng có hình bóng
của chiếc áo dài trắng nữ sinh:
“Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong
Hôm xưa em đến mắt như lòng
Nở bừng ánh sáng em đi đến
Gót ngọc dồn hương bước tỏa hồng”
(Áo trắng)
c. Món ăn cổ truyền của Việt Nam – Bánh trưng
Là loại bánh duy nhất có lịch sử lâu đời trong ẩm thực truyền thống Việt
Nam còn được sử sách nhắc lại, bánh chưng có vị trí đặc biệt trong tâm thức
của cộng đồng người Việt và nguồn gốc của nó có thể truy nguyên về truyền
thuyết liên quan đến hoàng tử Lang Liêu vào đời vua Hùng thứ 6. Sự tích
19
trên muốn nhắc nhở con cháu về truyền thống của dân tộc; là lời giải thích ý
nghĩa cũng như nguồn cội của của Bánh Chưng, Bánh Giầy trong văn hóa,
đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của cây lúa và thiên nhiên trong
nền nông nghiệp lúa nước.
Theo quan niệm phổ biến hiện nay, cùng với bánh giầy, bánh chưng
tượng trưng cho quan niệm về vũ trụ của người Việt xưa. Bánh có màu xanh
lá cây, hình vuông, được coi là đặc trưng cho đất trong tín ngưỡng của người
Việt cổ và các dân tộc khác trong khu vực châu Á. Tuy nhiên, theo Giáo
sư Trần Quốc Vượng, bánh chưng nguyên thủy có hình tròn và dài, giống
như bánh tét, đồng thời bánh chưng và bánh giầy tượng trưng
hoặc nuôi thả, thức ăn bằng cám rau tự nhiên không dùng thuốc tăng trọng
hoặc thức ăn gia súc). Thịt ba chỉ (ba dọi) với sự kết hợp của mỡ và nạc cho
nhân bánh vị béo đậm đà, không khô bã như các loại thịt mông, thịt nạc
thăn. Một số nơi, như tại Trường Sa, những người lính còn làm món bánh
chưng với nhân độc nhất vô nhị là dùng thịt chó hay thịt gà. Gia vị các
loại: hạt tiêu dùng để ướp thịt làm nhân. Muối dùng để trộn vào gạo, đỗ xanh
và ướp thịt. Đặc biệt thịt ướp không nên dùng nước mắm vì bánh sẽ chóng bị
ôi, thiu. Ngoài ra một số loại gia vị khác ít phổ biến hơn cũng được sử dụng
như thảo quả, tinh dầu cà cuống thường sử dụng tẩm ướp trong nhân bánh
tại Hà Nội xưa, tuy nay ít nơi còn cầu kỳ gia thêm loại gia vị này. Phụ gia
tạo màu: bánh chưng với màu xanh của nếp được tạo thành bằng cách quay
mặt trên của lá dong, lá chuối (mặt có màu xanh thẫm) vào trong, áp với bề
mặt của gạo nếp. Một số nơi còn sử dụng các phụ gia khác như lá dứa hay
lá giềng xay nhuyễn vắt lấy nước trộn gạo vừa tạo hương thơm vừa tạo cho
bánh có màu xanh ngọc. Một số nhà hàng bất chấp quy định về vệ sinh an
toàn thực phẩm còn làm bánh chưng thương mại hóa sử dụng pin đèn cho
vào nồi luộc bánh. Một số người nội trợ cho biết kinh nghiệm nấu bánh
chưng bằng nồi làm bằng chất liệu tôn (chứ không phải nhôm) giúp bánh
22
xanh mướt mà vẫn an toàn cho sức khỏe . Gói bánh chưng Tết để không phải
ăn...
Chuẩn bị gồm có: Lá dong rửa từng lá thật sạch hai mặt và lau thật khô.
Rửa càng sạch bánh càng đỡ bị mốc về sau. Trước khi gói, lá dong được
người gói bánh dùng dao bài mài thật sắc (loại dao nhỏ chuyên dùng để gọt)
cắt lột bỏ bớt cuộng dọc sống lưng lá để lá bớt cứng, để ráo nước (nếu lá quá
giòn có thể hấp một chút để lá mềm dễ gói). Một số vùng vẫn hay dùng
lá chuối, trước khi gói nhúng nước sôi để dẻo. Lau thật khô trên lá, cắt cạnh
thập, dùng tay gạt đều, tạo hình vuông mỗi cạnh 20 cm. Lấy 1 nắm đỗ xanh
24
bóp nhẹ và rải đều vào giữa vuông gạo đến gần hết bìa gạo. Thịt lợn lấy 1, 2
miếng tùy cỡ đã thái rải đều vào giữa bánh. Lấy tiếp 1 nắm đỗ xanh nữa bóp
nhẹ rải đều phủ lên trên thịt. Xúc 1 bát gạo nếp đổ lên trên và phủ khỏa đều,
che kín hết thịt và đỗ. Gấp đồng thời 2 lá dong lớp trên vào, vừa gấp vừa vỗ
nhẹ để tạo hình khối vuông. Gấp tiếp đồng thời 2 lá dong lớp dưới vào như
lớp trên, vừa gấp vừa lèn chặt nhẹ tay. Dùng lạt buộc xoắn lại tạo thành hình
chữ thập, rồi buộc 2 bánh chưng úp vào nhau thành một cặp
Một số công đoạn cơ bản trong quy trình gói bánh chưng vuông dùng khuôn
Với cách gói có khuôn các giai đoạn cũng được tiến hành như trên. Tuy
nhiên, người ta cắt tỉa bớt lá dong cho gọn (vừa kích thước khuôn) và đặt
trước các lớp lá xen kẽ nhau vào trong khuôn (3 hoặc 4 lá, nếu gói 4 lá bánh
sẽ vuông đẹp hơn. Khi đó thường thì 2 lá xanh quay ra ngoài xếp tại 2 góc
25