1
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Tập giáo trình xã hội học đại cương – K52 XHH.
2. Cơ cấu xã hội và sự phân tầng xã hội – PTS. Nguyễn
Đình Tấn.
3. Tập bài giảng xã hội học đại cương – TS. Hoàng Thu
Hương.
4. Trang tìm kiếm : www.google.com.
5. Xã hội học – John J. Macionis – NXB thống kê – năm
2004. CHƯƠNG VI :
THIẾT CHẾ XÃ HỘI
I. Khái niệm :
Theo Robertsons : thiết chế là một tập hợp bền vững các giá trị,
chuẩn mực, vị thế, vai trò và nhóm vận động xung quanh một nhu cầu cơ bản
của xã hội. Ông cho rằng, một xã hội muốn tồn tại và phát triển bình thường,
phải được hình thành trên những mô hình hành vi, những khuôn mẫu, khuôn
phép chung để từ đó mỗi thành viên trong xã hội có thể soi vào đó mà hành động
cho phù hợp. Không thể nói sự tồn tại và phát triển của một xã hội mà lại không
có thiết chế, tức là một xã hội không có kỷ cương, quy tắc hành động, không có
hệ thống chuẩn mực, giá trị và sự duy trì, kiểm soát việc thực hiện các kỷ cương
, quy tắc đó. Ông còn cho rằng, thiết chế xã hội, hay những mô hình hành vi của
con người được “ thiết chế hóa” do những nhu cầu khách quan của các lĩnh vực
đoàn xã hội gán cho nó Những giá trị xã hội là những yếu tố điều hòa hành vi,
lợi ích và quan hệ của cá nhân. Đó là những tố chất quan trọng trong cơ cấu của
tập đoàn xã hội, tạo ra ở cá nhân và tập đoàn những tố chất cho các hành vi nhất
định và những cơ sở để đánh giá những hành vi đó. Giá trị luôn gắn với những
tiêu chuẩn chung cảu hành vi như : tính trung thực, lòng tự trọng, tình yêu chung
thủy, tính kỷ luật
- Chuẩn mực là những khuôn mẫu chung của hành vi, được mọi người trong
xã hội cho là đúng, là cần thiết để điều hòa hành vi của con người.
TheoCruglicop, chuẩn mực là những “vật” điều hòa hoạt động của xã hội nói
chung, của tập đoàn xã hội và cá nhân. Chuẩn mực xã hội do xã hội thiết lập và
thay đổi, xã hội cũng tạo ra những phương tiện kiểm soát xã hội khác nhau để
bảo đảm việc thực hiện những chuẩn mực ấy.
Thiết chế xã hội có thể được xem xét theo cơ cấu bên ngoài ( hình
thức vật chất của thiết chế), cũng như cơ cấu bên trong ( nội dung hành động của
thiết chế).
+, Về cơ cấu bên ngoài : biểu hiện nhu một tổng thể những người,
những cơ quan chức năng được trang bị những phương tiện vật chất
nhất định và thực hiện những chức năng xã hội nhất định.
+, Về cơ cấu bên trong : bao gồm tập hợp nhất định những tiêu chuẩn
được định hướng theo mục tiêu về hành vi của những người nhất
định, trong hoàn cảnh nhất định.
VD : trong ngành tư pháp : nếu xét nó với tính cách là một thiết chế xã hội, về
mặt bên ngoài thì đó là một tổng thể những người, những cơ quan và những
phương tiện vật chất để thực hiện công tác xét xử. Còn theo quan điểm cơ cấu
bên trong thì đó là nội dung hoạt động của những khuôn mẫu tiêu chuẩn hóa của
3
hành vi ở những người có thẩm quyền nhất định. Những tiêu chuẩn đó của hành
vi được thể hiện thông qua các vai trò xã hội đặc trưng cho hệ thống tư pháp (
vai trò của chánh án, thẩm phán, ủy viên công tố, luật sư).
độ tiếp cận xã hội học, thiết chế là một khái niệm rộng hơn. Ngoài những thiết
chế hình thức ( như thiết chế chính trị, thiết chế kinh tế, thiết chế pháp luật )
còn có sự hiện diện của cả những thiết chế phi hình thức (như thiết chế đạo đức,
thiết chế dư luận xã hội). Ở những thiết chế này, cơ sở nội dung của nó không
phải là những điều luật chính thức mà lại là những chuẩn mực, giá trị có sẵn lưu
truyền trong văn hóa, truyền thống. Lịch sử đã từng biết đến sức mạnh to lớn của
những phong tục tập quán, những thiết chế xã hội phi hình thức trong việc điều
chỉnh và kiểm soát hành vi của con người trong các xã hội tiền đề pháp luật cũng
như trong xã hội có sự đan xen giữa xã hội truyền thống và xã hội hiện đại.
4
II. Các đặc điểm cơ bản của thiết chế
:
1. Đối tượng nghiên cứu để thoả mãn nhu cầu của thiết chế.
Khi các thiết chế được hình thành thì có nghĩa nó được đại đa số các
cá nhân trong xã hội thừa nhận, cho dù mức độ của cá nhân đó tham gia đến mức
độ nào. Tuy nhiên, những cá nhân đó không thể không thừa nhận sự cần thiết
của thiết chế nhà nước trong xã hội. Thiết chế liên quan đến khuôn mẫu,tác
phong, hệ vai trò của các cá nhân.Từ đó ta có thể thấy đối tượng nghiên cứu thoả
mãn nhu cầu của thiết chế là tập hợp những khuôn mẫu, những chuẩn mực được
đại đa số mọi người thừa nhận và coi đó như một khuôn mẫu định hướng cho
hành động. Hay nói một cách khác, đối tượng để thoả mãn nhu cầu của thể chế là
các vị thế vai trò có chủ đích nhằm thoả mãn nhu cầu của xã hội.
Nhìn chung chúng ta đều thấy, thiết chế nảy sinh và tồn tại là do nó
đáp ứng nhu cầu của xã hội. Nhu cầu của xã hội chính là lý do hình thành và
cũng chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của nó. Theo Lenski trong xã hội
Hệ thống những giá trị chung trong thiết chế gồm có:
- Giá trị của toàn xã hội
- Giá trị của hệ thống xã hội nhỏ như: nhóm, tổ chức
- Giá trị của từng địa vị xã hội.
3.Mô hình văn hoá và sự ổn định của các quan hệ xã hội
Các quan hệ được thiết lập trong thiết chế đó tỏ ra khá bền vững,
các khuôn mẫu hành vi được hình thành trong thiết chế trở thành một phần
truyền thống văn hoá của một cộng đồng xã hội.
VD: dấu ấn của gia đình truyền thống ảnh hưởng sâu sắc đến gia đình hiện đại ở
các xã hội phương Đông
Mỗi một thiết chế đều sử dụng biểu tượng như một dấu hiệu để
nhắc nhở về sự hiện hữu của mình.Các biểu tượng đó có thể là vật chất hoặc tinh
thần nhu : quốc kỳ, quốc ca, nhà thờ
Ta cũng có thể thấy tính vĩnh cửu của các thiết chế qua vai trò
tương quan mà con người thể hiện trong nền văn hoá, qua các truyền thống. Tuy
nhiên khi xã hội phát triển hay khi trong xã hội có những cải cách thì tất nhiên
thiết chế cũng sẽ phải thay đổi để phù hợp cùng sự phát triển đó nhưng nó sẽ
diễn ra chậm chạp hơn so với các yếu tố khác.
Mỗi một thiết chế khi hình thành và phát triển thì đều mang một
mục đích là nhằm thoả mãn những nhu cầu của xã hội. Bản thân thiết chế có sự
độc lập tương đối và có tác động trở lại với cơ sở kinh tế-xã hội, các thiết chế
vẫn ổn định và mang tính bền vững.
Mỗi thiết chế lại có một đối tượng nghiên cứu riêng để hướng đến
phục vụ nhằm đáp ứng những nhu cầu xã hội chuyên biệt liên quan đến đối
tượng. Để làm được điều đó mỗi thiết chế lại có một loại chức năng riêng biệt.
4.Loại hình chủ đạo của thiết chế.
Thiết chế xã hội bao gồm nhiều loại thiết chế khác như thiết chế
và các quan hệ xã hội mà nó đã tạo ra các tác phong và một loạt những chuẩn
mực mà mọi người hướng theo nó để hoạt động. Mỗi một thiết chế ra đời là
nhằm thoả mãn nhu cầu của xã hội, và trong một điều kiện nhất định con người
tuân theo nó mà hành động - những hành động được xã hội chấp nhận.
6.Hệ tư tưởng của thiết chế.
Mỗi thiết chế đều có chuẩn mực để quy định các thành viên trong
thiết chế phải ứng xử như thế nào. Mặt khác, thiết chế có hệ tư tưởng riêng để
giải thích tại sao phải hành động như thế.
Hệ tư tưởng là hệ thống các tư tưởng liên kết lại với nhau để giải
thích cho sự tồn tại hợp lý của đạo đức, quyền lợi kinh tế, chính trị của một
nhóm xã hội đặc thù như hệ tư tưởng chính trị bao giờ cũng bênh vực cho giai
cấp cầm quyền, hệ tư tưởng tôn giáo luôn ủng hộ cho niềm tin vào thần linh, tôn
giáo…
Hệ tư tưởng của các thiết chế xã hội luôn luôn chi phối, liên kết với
nhau và đảm bảo tốt cho sự phát triển của cả hệ thống xã hội. Thông qua tư
tưởng thiết chế mà mỗi cá nhân có thể tham gia vào các nhóm, các tổ chức, thích
nghi với sự phát triển của xã hội một cách nhanh chóng.
Trong xã hội tuỳ thuộc vào địa vị xã hội hay giai cấp mà mỗi cá
nhân có thể tin vào một hay nhiều hệ thống tư tưởng, tôn giáo, hoặc tuỳ thuộc
vào từng hoàn cảnh mà có thể hành xử theo một tác động của một học thuyết tư
tưởng, tôn giáo nào đó. Khi một quan niệm, một niềm tin được duy trì và trở
thành thói quen, thành tập tục thì nó có sức sống riêng khó thay đổi. Các học
thuyết tư tưởng tôn giáo có một sức sống dai dẳng bền bỉ cũng chính là vì lý do
đó. Một khi các hệ thống quan niệm, tư tưởng đã ăn sâu vào tiềm thức của con
7
người thì nó sẽ quay lại tác động vào môi trường. Qua đó, nó là cơ sở cho hành
động, nhận thức, tác động vào thế giới xung quanh, đồng thời nó cũng là cơ sở
để mỗi cá nhân yêu cầu người khác biểu hiện hành động theo cách suy nghĩ của
kiểm soát xã hội. Trong quá trình này, các cá nhân, một mặt tiếp nhận cách hành
động, cách nhận thức như thế nào là chuẩn, là đúng, mặt khác các cá nhân có thể
thực hiện sự tự kiểm soát xã hội (điều chỉnh hành vi của mình bằng cách so sánh,
đối chiếu hành vi của mình với các giá trị chuẩn mực đã tiếp nhận). Nhờ đó, các
cá nhân có thể thực hiện tốt những yêu cầu của xã hội với các vai trò mà họ đảm
nhận.
Kiểm soát xã hội biểu hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
để các cá nhân tiếp nhận cơ chế kiểm soát xã hội dưới dạng kiểm soát chính thức
và kiểm soát không chính thức. Trong đó:
8
- Kiểm soát chính thức gắn với hoạt động của một số tổ chức chính thức, với
các quy định và luật lệ để ép buộc các tổ chức phải tuân theo. Những tổ chức này
là những tổ chức thi hành pháp luật như công an, tòa án, viện kiểm sát, trại
giam…
- Kiểm soát phi chính thức thường gắn liền với các tổ chức xã hội không
chính thức và các nhóm sơ cấp, gắn liền với phản ứng xã hội (thái độ tán thành,
ủng hộ hay chê trách, phản đối) không công khai và chỉ phổ biến trong các nhóm
nhỏ.
Trường hợp thiết chế xã hội thực hiện các chức năng điều hòa và
kiểm soát xã hội không đúng cách thức có thể dẫn đến các tác động tiêu cực đối
với xã hội. Khi sự điều hòa và kiểm soát quá mạnh sẽ triệt tiêu mọi sáng tạo của
cá nhân, đồng thời thiết chế sẽ mang tính bảo thủ. Tính bảo thủ này thể hiện ở
chỗ nó cố gắng duy trì những khuôn mẫu tác phong đã lạc hậu, lỗi thời. Những
thiết chế này sẽ cản trở sự tiến bộ của xã hội.[1;160]
Sự kiểm soát và điều chỉnh quá mạnh của thiết chế xã hội khiến cho
cá nhân đôi khi cảm thấy mất đi bản tính của mình. Những người chống lại sự
kiểm soát của thiết chế đều bị coi là lệch lạc.
Tuy nhiên khi thiết chế biến đổi thì những con người này có thể
không còn là lệch lạc nữa. Đơn cử ở trong xã hội phong kiến việc tái giá của phụ
hóa) điều đó có
VD : thiết chế gia đình tạo ra cho các cá nhân, các thành viên trong gia đình các
vai trò như bố, mẹ, anh, chị. Mỗi thành viên trong gia đình lại có những chức
năng, những vai trò khác nhau.
Hay như thiết chế giáo dục tạo cho các cá nhân vai trò là người thầy,
người trò. Các vai trò này có được là do các thiết chế xã hội cung cấp chứ không
phải tự các cá nhân sáng tạo ra.
d. Thiết chế áp đặt và duy trì mô hình văn hoá
Để các cá nhân hướng nhận thức của mình tới các thiết chế xã hội
như là một sự chấp nhận các giá trị, chuẩn mực xã hội và khuôn mẫu hành vi,
nhằm củng cố nhận thức và thống nhất hành động của mọi thành viên trong xã
hội
Thiết chế xã hội là yếu tố phối hợp và ổn định cho toàn hệ thống xã
hội. Nhìn chung các cá nhân ít khi hành động ngược lại các thiết chế. Vì cách
thức tư duy và phong cách hành động đã được thiết chế hóa có ý nghĩa quan
trọng đối với con người. Thiết chế mang lại cảm giác yên tâm và an toàn cho các
cá nhân tuân thủ nó, và nó chính là cái mà xã hội cho là đúng, là chuẩn[1;162].
Khi thực hiện theo nó là thực hiện theo số đông. Ví dụ như đại đa số mọi người
đều cho rằng “trai lớn dụng vợ, gái lớn gả chồng” đó là lẽ thường tình, điều này
được cả xã hội đồng tình chấp nhận. Và khi đó cũng có một số cá nhân không
tuân theo điều này, vì vậy họ cảm thấy mất an toàn, bất an và xã hội sẽ lên tiếng
đánh giá…
e. Các chức năng khác
Ngoài các chức năng chung nêu trên, còn có các chức năng riêng
biệt cho các loại thiết chế cụ thể.
Các nhà xã hội học phân biệt hai loại chức năng riêng biệt của thiết
chế (xét theo hình thức niểu hiện) là chức năng công khai của thiết chế là những
phần bộc lộ ra bên ngoài để cho các thành viên trong nhóm hoặc xã hội nhận biết
của nó là chế độ một vợ một chồng sống với con cái trong gia đình. Nằm trong
thiết chế này là các thiết chế phụ thuộc như đính hôn, hôn nhân, nuôi dưởng trẻ
em, quan hệ thân tộc…
2.Chức năng của thiết chế gia đình
a.Xã hội hóa
Gia đình là tác nhân đầu tiên và quan trọng nhất trong quá trình xã
hội hóa cá nhân. Nhân cách trong mỗi thế hệ mới được hình thành trong gia đình
sao cho lý tưởng của con cái khi lớn lên sẽ hội nhập tốt vai trò thành viên trong
xã hội rộng lớn ( Parson, Bales ,1955 ). Dĩ nhiên trong xã hội công nghiệp,
nhóm bạn cùng tuổi , trường học, giáo hội , phương tiện truyền thông đại chúng
cũng quan trọng trong sự xã hội hóa trẻ em. Nhưng điều này vẫn là chức năng
chính của gia đình.
Gia đình cũng đóng góp cho sự tiếp tục xã hội hóa con người qua
chu kỳ sống. Người lớn nhìn vào bất kỳ người nào mà con cái mình quen biết, bố
mẹ sẽ hiểu nhiều hơn về con mình
b.Sự điều tiết của hoạt động tình dục
Mọi nền văn hóa đều đặt ra một số hạn chế đối với hành vi tình dục. Quan
hệ tình dục là vấn đề cá nhân đôí với những ai liên quan, nhưng như là nền tảng
của sự sinh sản và kế tự của con người, quan hệ tình dục cũng là vấn đề mang
tầm quan trọng xã hội đáng kể.
Tất cả xã hội đều củng cố một số loại cấm kị loạn luân , cấm quan hệ tình dục
hay hôn nhân giữa một số bà con. Đúng ra là bà con nào là đói tượng của cấm kị
loạn luân đều có thể thay đỏi theo văn hóa .
11
VD: Hầu hết người Mỹ đều xem quan hệ tình dục với ông bà , anh chị em ruột ,
bố mẹ là trái đạo đức và trái tự nhiên. Nhưng những quan hệ tình dục như thế lại
được tha thứ ở một số nền văn hóa . Hôn nhân giữa anh chị em phổ biến ở Ai
Cập , Inca cổ đại .Điều này cho thấy cấm kị loạn luân có thể phổ biến cũng hoàn
- Chức năng tính dục
B. Thiết chế giáo dục :
a.Định nghĩa:
Thiết chế giáo dục là quá trình xã hội hóa phát triển một cách không
chính thức ngay trong gia đình và môi trường văn hóa chung, và một cách chính
thức trong một tổ chức giáo dục phức tạp của xã hội. Những thiết chế phụ thuộc
như thi cử, bằng cấp, học vị…
Giáo dục là thể chế hóa xã hội chính trong việc truyền dẫn kiến thức
và kỹ năng cũng như tiêu chuẩn và giá trị văn hóa cho thanh niên. Giáo dục xã
12
hội tiền công nghiệp diễn ra không chính thúc trong gia đình, xã hội công nghiệp
phát triển ở hệ thống trường chính quy.[1, 164]
b.Chức năng của thiết chế giáo dục.
* Xã hội hóa.
Tất cả xã hội đều truyền đạt cách sống của mình từ thế hệ này sang
thế hệ khác. Trong các xã hội công nghệ thô sơ , chức năng truyền đạt được gia
đình đảm nhận. Khi xã hội ngày càng tiến bộ hơn về công nghệ, vô số thiết chế
xã hội xuât hiện để đóng một phần vào vai trò xã hội hóa cá nhân. Nhất là trong
các xã hội công nghiệp, gia đình không còn cung cấp tất cả những tri thức cho cá
nhân nữa.
Bắt đầu ở trường tiểu học trẻ học ngôn ngữ cơ bản và kĩ năng toán
học không thể thiếu được với xã hội công nghiệp. Hiểu biết này dần dần mở rộng
trong trường trung học và một số trường đại học. Vì xã hội công nghiệp thay đổi
nhanh chóng, giáp dục chính quy dạy cho học sinh không những thực tế mà còn
dạy cách học như thế nào để học sinh có khả năng thích ngi với thay đổi không
lường trước được của tương lai.
Trường học chuyển tải giá trị và tình cảm văn hóa. Những bài học
Hệ thống giáo dục hình thành cũng như truyền dẫn văn hóa.
Trường học khuyến khích học phải hỏi và tư duy có phê phán cũng như tạo môi
trường ổn định và phát triển lý tưởng mới. Giáo dục chính quy nuôi dưỡng sự
cách tân văn hóa và duy trì những truyền thống quan trọng.
* Chức năng tiềm ẩn của giáo dục chính thức ( thường không được
thừa nhận)
Một chức năng nhu thế là nuôi con. Vì số lượng gia đình chỉ có một
bố hay một mẹ và hôn nhân hai nghề nghiệp đang phát triển. Giáo dục ở trường
có chức năng an ủi bố mẹ có bổn phận nuôi con. Vả lại vì nền văn hóa của chúng
ta thừa nhận một giai đoạn thanh niên kéo dài. Sinh viên vào đại học ở độ tuổi
hai mươi, phản ánh kết quả của việc ngăn cản nhiều thanh niên không cạnh
tranh để tìm vị trí của mình trong lực lượng lao động.
Chức năng tiềm ẩn khác của trường học là hình thành mối quan hệ
xã hội có tầm quan trọng kéo dài từ trung cấp, cao đẳng, đại học cùng kết hợp
con người ở độ tuổi có thể kết hôn lại với nhau. Chúng ta hầu như không phải
ngạc nhiên khi gặp người vợ, người chồng trong tương lai của mình ngay trong
trường.
Phổ biến hơn , quan hệ xã hội hình thành trong quá trình giáo dục ở
trường có thể có giá trị đáng kể hơn về sau này. Mối quan hệ hình thành trong
trường học có thể có trở thành cơ sở cho hệ thống xã hội kéo dài. Trong khi cơ
hội và lợi thế của những hệ thống như thế thay đổi theo vị trí xã hội của những
người có liên quan thì ở mức độ ít nhất, tình bạn hình thành trong trường học có
tầm quan trọng lâu dài sau khi trường.
*. Cách chia khác:
- Chức năng kinh tế
- Phát triển cơ cấu xã hội của xã hội
- Chức năng chính trị
- Chức năng văn hóa tinh thần
số biến đổi trong thiết chế giáo dục sẽ chỉ ra được ảnh hưởng của nó tới những
người có liên quan trực tiếp tới ngành giáo dục nói riêng và toàn bộ xã hội nói
chung.
Biến đổi xã hội hiểu theo một cách rộng nhất là một sự thay đổi so
sánh với một tình trạng xã hội hoặc một nếp sống có trước. Trong một phạm vi
hẹp hơn, người ta cho rằng sự biến đổi xã hội được đề cập đến sự biến đổi về cấu
trúc của xã hội (hay tổ chức xã hội đó) mà sự biến đổi này ảnh hưởng sâu sắc
đến phần lớn các thành biên của một xã hội. Theo A.Comte, thông qua biến đổi
xã hội nhân loại từ người nguyên thuỷ dốt nát đến con người được giáo dục, và
những cái mà chúng ra đươic học hoặc được phát triển tiến về con đường tách
khỏi sự sắp đặt của Thượng đế vì sự tiến bộ của nhân loại. Tất cả xã hội đều ở
trong một thực trạng “đứng yên trong sự vận động liên tục”. Áp dụng điều này
vào phân tích biến đổi thiết chế giáo dục ở nước ta thì thấy rằng:
Biến đổi thiết chế giáo dục Việt Nam là quá trình mang tính hoạch định.
Đây là tính hai mặt của sự biến đổi. Nói cách khác, những biến đổi xã hội do con
người tạo nên đều xuất phát từ tính tự giác, chủ động của con người, do đó có thể
kiểm soát được. Song, đồng thời cũng khó kiểm soát ngay chính những biến đổi
xã họi do con người tạo ra. Ví dụ như Nhà nước ta đã đặt ra những chiến lược,
những mục tiêu cụ thể như việc xây dựng các kế hoạch: kế hoạch 5 năm, xây
dựng luật giáo dục (đưa ra nội dung, phương pháp giáo dục, quản lí các
trường…) dựa trên thực tế của nền giáo dục. Tuy nhiên, trên thực tế triển khai kế
hoạch có nhiều phát sinh mà những người hoạch định chính sách không lường
15
trước được, cần sự tham gia góp ý của người dân, ví dụ việc cải cách sách giáo
khoa, phân ban hiện nay… có nhiều bất cập, chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa
các địa phương (miền núi và đồng bằng, nông thôn và đô thị) và giữa các ban
ngành liên quan.
Căn cứ vào phạm vi ảnh hưởng của biến đổi xã hội, người ta chia nó ra
làm hai cấp độ biến đổi vĩ mô và biến đổi vi mô. Sự biến đổi thiết chế giáo dục ở
dựng nhiều theo chương trình phổ cập giáo dục của Nhà nước, song không phải
tất cả các trường đều có đủ giáo viên và đủ chất lượng đảm bảo việc truyền đạt
kiến thức cho học sinh các cấp.
16
C.Thiết chế kinh tế.
a.Định nghĩa.
Nhìn theo góc độ xã hội học,kinh tế là hiện tượng xã hội đóng vai
trò là cơ sở, nền tảng, con đường, cơ chế điều kiện để thông qua đó mối quan hệ
giữa con người hình thành và biến đổi.
“Kinh tế là một thể chế xã hội quan trọng qua đó hàng hóa dịch vụ
được sản xuất, phân phối và tiêu thụ. Mặc dù là mọi bộ phận trong xã hội, kinh
tế có thể hoạt động theo nhiều cách khác nhau.”
Theo H.Spencer: “Thiết chế kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu thích
nghi của tổ chức xã hội đối với môi trường và thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao
của con người về các sản phẩm và dịch vụ.”
Thiết chế kinh tế là thiết chế mà nhờ đó xã hội được cung cấp đầy
đủ về vật chất và dịch vụ. Nó bao gồm chủ yếu là sự sản xuất phân phối, trao đổi
và tiêu thụ sản phẩm. Nó còn nhiều thiết chế phụ thuộc như tín dụng, ngân hàng,
quảng cáo…
b.Chức năng của thiết chế kinh tế.
Nhìn chung, thiết chế kinh tế đều có chung chức năng là điều chỉnh
cung cầu trong xã hội và kiểm soát chất lượng của hàng hóa, dịch vụ, kiểm soát
lợi ích của người tiêu dùng.
+, Sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ.
Thực thi các điều luật đã được thông qua.
Giải quyết các xung đột xã hội về quyền lực chính trị giữa các nhóm
thành viên trong xã hội.
Thiết lập các bộ phận an sinh xã hội như chăm sóc sức khỏe cộng
đồng, giáo dục, phúc lợi. E. Thiết chế tôn giáo.
a .Định nghĩa.
Theo E.Durkheim: “Tồn giáo là hệ thống cấu kết những tín ngưỡng
và thực hành có liên quan đến các sự vật linh thiêng, tức là những sự vật được
tách ra riêng, bị cấm đoán, đó là những tín ngưỡng và thực hành nối kết tất cả
những ai tin theo thành một cộng đồng giáo hội”. Cũng theo ông cho rằng tôn
giáo là sự thể hiện quyền lực xã hội dối với cá nhân.
“Thiết chế tôn giáo có yếu tố cơ bản là tạo dựng niềm tin vào lực
lượng siêu tự nhiên, siêu nhân. Biểu hiện của thiết ché tôn giáo là việc tập hợp
các cá nhân cùng chia sẻ niềm tin và cùng tham gia các hoạt động nghi lễ đặc thù
của tôn giáo”.Quan niệm của H.Spencer.
Tôn giáo là thể chế xã hội quan trọng dựa trên sự khác nhau giữa
thiêng liêng và trần tục. Không phải là vấn đề đánh giá khoa học tôn giáo là vấn
đề đức tin bao gồm nhiều hình thức hành vi nghi lễ khác nhau.
Thiết chế tôn giáo được biểu lộ qua những tín ngưỡng và hình thức
thờ phụng mà con người thực hiện với nhau. Bao giờ nó cũng bao gồm những hệ
thống luận lý và đạo đức chỉ rõ điều phải trái trong những khuôn mẫu tác phong,
các thiết chế phụ thuộc là những thể thức cầu nguyện, cách thức tổ chức thánh
lễ… có nơi ta thấy hành ma thuật và những mê tín dị đoan được các tổ chức tôn
giáo biến thành các thiết chế.
b.Chức năng của các thiết chế tôn giáo.
* Chức năng liên kết xã hội
* Chức năng giao tiếp
Chức năng này thể hiện khả năng liên hệ giữa những người có cùng
tín ngưỡng với nhau. Sự liên hệ được thực hiện chủ yếu trong hoạt động thờ
cúng, và sự giao tiếp với thánh thần được xem là giao tiếp tối cao.
Ngoài mối liên hệ, giao tiếp trong quá trình thờ cúng, ở giáo dân
còn có mối liên hệ ngoài tôn giáo : liên hệ trong gia đình, liên hệ kinh tế, liên hệ
trong sinh hoạt hàng ngày Những mối liên hệ này có thể củng cố và tăng cường
các mối liên hệ tôn giáo của họ.
* Chức năng thế giới quan
Khi phản ánh một cách tưởng tượng, hư ảo về thế giới hiện thực,
tôn giáo tham vọng tạo ra một bức tranh của mình về thế giới nhằm thỏa mãn
nhu cầu nhận thức của con người. Bức tranh chung của tôn giáo về thế giưois
bao gồm 2 bộ phận : thế giới thánh thần và thế giới trần tục, trong đó tôn giáo
giải quyết những vấn đề tự nhiên, về con người, về xã hội. Sự lý giải của tôn
giáo về thế giới nhằm hướng con người tới cái siêu nhiên thần thánh do đó đã
xem nhẹ đời sống hiện thực.
F. Mối quan hệ giữa các thiết chế chủ yếu trong xã hội .
Các thiết chế chủ yếu đã nêu trên đây có mối quan hệ qua lại ở mức
độ cao. Trong qua trình vận động và phát triển, hệ thống xã hội cần thiết phải
duy trì sự cân bằng và ổn định của các thiết chế chủ yếu. Bởi vì nhiều chức năng
của các thiết chế chủ yếu có thể có một phần hay toàn bộ trùng nhau, cho nên
19
việc duy trì sự cân bằng của các thiết chế trong cùng một thời gian, cùng một vị
trí là hết sức khó khăn.
Các thiết chế xã hội được hình thành tồn tại và phát triển để phục vụ
cho một xã hội nhất định, bởi vậy giữa chúng phải có sự hỗ trợ và bảo vệ lẫn
nhau. Thiết chế giáo dục và thiết chế chính trị bao giờ cũng gắn bó chặt chẽ với
nhau từ trung ương tới địa phương. Hơn thế nữa sự thay đổi của một thiết chế
Yêu cầu của hệ thống xã hội:
+ Hệ thống xã hội phải có sự hỗ trợ cần thiết từ các hệ thống khác.
+ Hệ thống xã hội phải có sự tham gia của các thành tố trong hệ thống
+ Hệ thống xã hội đòi hỏi một ngôn ngữ để tồn tại.
+ Hệ thống xã hội phải có sự kiểm soát đối với các hành vi phá huỷ.
Cách thức điều tiết cân bằng của hệ thống xã hội chính là cách thúc
hoà hợp các khuôn mẫu giá trị và các xu hướng nhu cầu. Mối quan tâm mà ông
chỉ ra là các quá trình chủ quan hoá và xã hội hoá. Parson xem sự xã hội hoá là
20
một kinh nghiệm suốt đời. Bởi vì các tiêu chí và các giá trị in sâu trong thời thơ
ấu có xu hướng trở nên rất phổ biến nó được bổ sung trong suốt vòng đời với
một loạt kinh nghiệm xã hội hoá cụ thể.
Xã hội hoá và kiểm soát xã hội là các cơ cấu chủ yếu cho phép hệ
thống xã hội duy trì sự cân bằng của nó.
Một mặt, một số cơ cấu kiểm soát xã hội co thể được sử dụng để
kếo dài sự tuân thủ trật tự. Nhưng mặt khác, một hệ thống xã hội vận hành và
quan trọng hơn tốt nhất là khi kiểm soát xã hội chỉ được sử dụng ít nhất một hệ
thống xã hội phải có khả năng chịu một số dao động biến đổi, một số lệch lạc,
một hệ thống xã hội phải linh hoạt, ứng phó hiệu quả trước một số dao động,
biến đổi. Trật tự xã hội được xây dựng nên trong hệ thống xã hội của parson:
“Có khả năng dự báo và tái lập các su hướng lệch lạc nằm khuất sâu
để đi vào chu kì khắc nghiệt đã đặt nó ra ngoài sự kiểm soát của sự chấp nhận –
không chấp nhận bình thường và các khen thưởng - trừng phạt’’.
Là một nhà chức năng cấu trúc, Parson đã phân biệt 4 tiểu hệ thống
trong hệ thống xã hội :
+ Kinh tế là tiểu hệ thống thực hiện chức năng đối với xã hội về việc
thích nghi với môi trường thông qua lao động, sự sản xuất và phân phối. Qua các
công việc này, nền kinh tế thich nghi với môi trường, với các nhu cầu của xã hội
và nó giúp xã hội thích nghi vối thự tại ngoại vi này.
được tổ chức xung quanh hệ thống các gia trị, chuẩn mực, quy tắc, các khuôn
mẫu đã được xã hội thừa nhận [ 1;170] .
Có một ví dụ rất sinh động để minh hoạ cho sự cạnh tranh giữa các
thiết chế xã hội, đó là giữa thiết chế văn hoá - thiết chế gia đình.
“Xã hội truyền thống quan niệm người đàn ông là người mạnh mẽ ,
quyết đoán, năng động, chỉ huy, có thần kinh vững hơn phụ nữ. Quan niệm bất
thành văn được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và được củng cố liên tục
bằng các khuôn mẫu về vai trò giới tính đã đưa ngươi đàn ông đến vai trò là
người chiu trách nhiệm chính trong gia đình.
Các khuôn mẫu về vai trò giới tính hướng nam giới đạt tới những
hình ảnh được lý tưởng hoá, tương ứng với mỗi vai trò xã hội mà họ đang đảm
nhiệm. Về phía mình có thể người đàn ông cũng có nhu cầu thể hiện bản thân.
Nam giới cũng là người phải chịu tác động rất lớn từ phía xã hội với những
khuôn mẫu có sẵn dành cho họ.
Quan niệm phải có người chịu trách nhiệm chính trong gia đình
xuất phát từ ý tưởng bảo tồn trật tự để gia đình trở nên ổn định hơn, thống nhất
hơn…Có thể hoạt động một cách có trật tự.
Nếu chỉ gán cho nam giới vai trò luôn là người gánh lấy trách nhiệm
này (đặc biệt là trách nhiệm kinh tế) thi đó xẽ là một gánh nặng đối với nam
giới.Bởi vì không phải trong thời điểm nào, không phải người nam giới nào cũng
có đầy đủ phẩm chất và năng lực để đảm đương được những trách nhiệm đó.
Nhất là hiện nay, khi người phụ nữ đang dần trở thành một lực lượng cạnh tranh
với nam giới trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.
Thực tế cho thấy, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
đang tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào các hoạt động xã hội và đòi hỏi nam
giới cùng chia sẻ gánh nặng công việc trong gia đình. Tuy nhiên đối với nam
giới, vấn đề xoá bỏ những quan niệm về vai trò trụ cột của họ lại chưa được xã
hội và phụ nữ nhìn nhận.
Chúng ta đều biết nguồn gốc của áp lực giới tính chính là các khuôn
mẫu về vai trò giới tính. Sẽ là một han chế đối với nam giới nếu họ vẫn giữ lấy
chế kinh tế xảy ra sự biến động dữ dội như lạm phát, khủng hoảng, suy thoái thì
điều đó không chỉ đơn thuần ảnh hưởng tới việc làm,thu nhập mà còn ảnh hương
tới sự tồn tại của gia đình,chất lượng giáo dục,khnăng phục vụ người dân của
chính phủ.[1;171].
Sự xuất hiện của các phương tiện truyền thông đại chúng dẫn đến
việc hình thành nền văn hóa đại chúng.Nhờ đó văn hóa vốn có nguồn gốc từ
nông nghiệp, trở nên phổ biến thông dụng trong xã hội hiện đại, gắn với văn
minh công nghiệp và ngày càng mở rộng ảnh hưởng. Văn hóa đại chúng kinh tế
với nền kinh tế thị trường, văn hóa trong tôn giáo với sự chi phối của hệ thống
giáo lí và thiết chế xếp thành chương trìn, văn hóa gia đình với tư cách là văn
hóa nhóm nhỏ hay tiểu vănn hóa. Văn hóa gia đình phản ánh các quan hệ gia
đình.(ví dụ ở nhà chủ nhật). Nó chịu sự chi phối từ các giá trị, các chuẩn mực
được hình thành trong việc tiếp thu và sử dụng các thông điệp từ hệ thống truỳen
thông tin đại chúng.
Họ có thái độ phê phán nhiều khi gay gắt đối với việc quảng bá bạo
lực và lạm dụng hình ảnh phụ nữ, trẻ em trong các chương trình phim, quảng
cáo vi mục đích thương mại.Điều ấy có nghĩa rằng gia đình có sự tác động đến
kinh tế, đến văn hóa đại chúng nói chung.
Sự tác động giữa các thiết kế chế còn được thể hiện trong các "chiến
lược sống của hộ gia đình" trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế thị trường,
tạo ra sự linh hoạt và khả năng lờn hơn trong sử dụng nguồn lực của hộ gia đình.
Những hộ gia đình có nhiều rượng và nhiều lao động sẽ có điều kiện hơn đẻ phát
triển kinh tế. Trong điều kiện còn nhiều đất hoang hóa, hộ gia đình nhiều lao
động cũng có lợi thế hơn trong việc mở rộng đất đai. Tuy nhiên, hiện nay tăng
23
mức sinh để tăng số lao động trong gia đình không phải là một chiến lược mà gia
đình chọn.
Nguồn lực của hộ gia đình( đất đai, nhân công, vốn) quyết định khả
năng mở rộng sản xuất, địa vị, giai cấp xã hội và việc đảm đương các vai trò
giáo dục lí trí và tinh cảm.
Các nhà xã hội học Mác xít đã nghiên cứu về vấn đề này trên một
cơ sở rộng lớn hơn gắn liền với sự biến đổi của gia đình với sự biến đổi về quan
hệ xã hội, do đó đã xác định với sự biến đổi về quan hệ xã hội,do đó đã xác định
đầy đủ tác động biện chứng qua lại giữa gia đình và xã hội. Trước hết, các nhà
xã hội học mác xít đã nêu bật những biến đổi xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến
những biến đổi về chức năng gia đình. Đó là những biến đổi xã hội dần tới sự tự
do tương đối và tính độc lập của các thành viên trong gia đình. Sự tham gia ngày
càng nhiều của các phụ nữ về lao động xã hội, việc pháy triển mạng lưới nuôi
24
dạy trẻ, mở rộng các hình thức thời gian nghỉ ngơi, sự phát triển với tốc độ
nhanh của trẻ về mặt tâm lí và thể lực kèm theo việc kéo dài thời gian phụ thuộc
của con cái vào cha mẹ về mặt kinh tế. Cùng với sự thắng lợi của chủ nghĩa xã
hội,gia đình phát triển theo xu thế mới, gia đính trở thành một trong những kiểu
hệ thống của xã hội, sự hoạt động, sinh sống của nó là do các quy luật phát triển
chung của hệ thống xã hội quyết định.tuy nhiên, nó vẫn là một bộ phận tự phat
triển tương đối độc lập của xã hội, có nhiều xu hướng phát triển riêng của mình.
Trong những điều kiện như vậy, các chức năng của gia đìnhcó
những biến đỏi căn bản. Một số chức năng (kinh tế, giáo dục) bắt đầu được thưc
hiện với sự hợp tác của gia đình với các đoàn thể và các thể chế xã hội khác.
Việc sinh đẻ và nuôi dạy con cái đã trở thành nhưng chức năng tình
cảm vì trong phần lớn trương hợp, con cái không còn là hình thức đầu tư có tính
chất vụ lợi đối với tương lai nữa. Tất nhiên, chức năng kinh tế và quản lí gia
đìnhvề mặt đời sống vẫn là chức năng quan trọng.Trong mọi trường hợp, gia
đình vẫn phải tạo ra những quan hệ đáp ứng nhu cầu nhất địnhcó tính chất chung
cho những thành viên trong gia đình. Đó là vì nhu cầu đời sống (ăn, ở, tiện nghi)
cộng đồng kinh tế giữa vợ và chồng với tính chất là sự hợp tác, là mối quan hệ
qua lại giữa vợ và chồng nhằm thỏa mãn nhu cầu ấy. Thế nhưng điều đó không
có nghĩa là những chức năng ấy đóng vai trò chủ yếu trong hệ thống gia đình.
ngày của nó.
Chính là thông qua việc thực hiện chức năng này mà gia đình thực
sự trở thành một cầu nối không thể thay thế được giữa xã hội và cá nhân.
Một kết luận được rút ra là, tất cả các thiết chế, xét đến cùng điều
bao hàm các giá trị xã hội, vị trí tác dụng của thiết chế này tùy thuộc phần lớn
vào các giá trị (hệ giá trị) mà xã hội ấy đang theo đuổi. Dù sao thiết chế cũng là
sự biểu hiện trình độ văn hóa của con người, do con người sáng tạo và tuân thủ,
và áp dụng thực hiện. Vì vậy, rất nhiều trường hợp sự chế tài của phát luật có
khả năng điều tiết hoặc làm biến đối các thiết chế một cách có chủ định rõ ràng.
Từ đó có thể kết luận: con người xây dựng nên thiết chế, thiết chế tồn tại là nhờ
vào cuộc sống hiện thực của chúng ta và chúng ta không thể sống mà không có
thiết chế rõ ràng.