Báo cáo " Tội phạm học - khái niệm và đối tượng nghiên cứu " - Pdf 11



nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 2/2011 27

PGS.TS. Lê Thị Sơn *
rong cỏc ti liu nghiờn cu vit v ti
phm hc ca nc ngoi cng nh ca
Vit Nam cú nhiu nh ngha khỏc nhau v
ti phm hc. Cỏc nh ngha ny ó phn
ỏnh mc nht nh s hỡnh thnh v quỏ
trỡnh phỏt trin ca ti phm hc, phn ỏnh
quan nim cỏ nhõn hoc quan nim ca mt
trng phỏi v ti phm hc.
Theo mt s sỏch v ti phm hc thỡ
thut ng ti phm hc xut hin vo cui
th k XIX. Nhng ngi u tiờn s dng
thut ng ny c k n l Paul Topinard
- thy thuc ng thi l nh nhõn chng hc
ngi Phỏp v Rafaele Garofalo - lut gia
ngi í. Paul Topinard ln u tiờn dựng
thut ng ny phõn bit vic nghiờn cu
cỏc dng c th ngi phm ti trong lnh
vc nhõn chng hc vi cỏc cụng vic khỏc
v trc nghim sinh hc.
(1)
Rafaele Garofalo
ó lm cho thut ng ti phm hc c ph

hc trong giỏo trỡnh ti phm hc ca mỡnh
(c xut bn ln u tiờn vo nm 1924)
nh sau: Ti phm hc l lnh vc kin thc
v vn xó hi ca ti phm.
(4)
Theo ú
ti phm hc ch c xem l ngnh hoc
lnh vc nghiờn cu vn xó hi ca ti
phm, tc l nghiờn cu ti phm v hnh vi
phm ti nh l hin tng xó hi.
Mt nh ngha khỏc v ti phm hc
c a ra th hin quan im nhn mnh
i tng nghiờn cu l nguyờn nhõn ca ti
phm v vai trũ ca ti phm hc trong vic
tỡm ra nguyờn nhõn ca ti phm. ú l nh
ngha: Ti phm hc l s nghiờn cu v
nguyờn nhõn ca ti phm.
(5)T
* Ging viờn chớnh Khoa lut hỡnh s
Trng i hc Lut H Ni nghiên cứu - trao đổi
28 Tạp chí luật học số 2/2011
Cng trong th k XX xut hin mt loi
nh ngha khỏc v ti phm hc, trong ú
th hin quan im nhn mnh c tớnh

Trong nh ngha ny, tỏc gi ó c
bit nhn mnh n hai vn l phm vi
i tng nghiờn cu v c tớnh liờn ngnh
ca ti phm hc. ễng cho rng nh ngha
trờn ó gi ỳng quan im th hin trong
tỏc phm ca Jack P. Gibbs - nh ti phm
hc xut sc trong th k XX: Mc ớch ca
ti phm hc l cung cp nhng tr li khỏch
quan trờn c s nghiờn cu cho 4 cõu hi c
bn sau: 1) Ti sao t l ti phm li khỏc
nhau; 2) Ti sao cỏc cỏ nhõn phm ti khỏc
nhau; 3) Ti sao li cú s khỏc nhau trong
phn ng i vi ti phm; 4) Cỏi gỡ l
nhng bin phỏp hp lớ ca kim soỏt s
phm ti.
(8)
Cng theo ụng, ti phm hc l
khoa hc mang tớnh liờn ngnh vỡ nú phi
nh n cỏc ngnh khoa hc khỏc cú
c s tip cn tng hp hiu c vn
ca ti phm trong xó hi ng thi v
a ra cỏc gii phỏp i vi cỏc vn do
ti phm gõy ra; ú l cỏc ngnh khoa hc
nh nhõn chng hc, sinh hc, xó hi hc,
tõm lớ hc, tõm thn hc
(9)

Theo Bernd-Dieter Meier - giỏo s ngi
c thỡ ti phm hc l khoa hc nghiờn cu
ti phm nh hin tng xó hi, cỏc nguyờn

(11)

Ngoi ra, quan nim v ti phm hc
hin i cng cú th c tỡm thy trong tỏc
phm xut bn gn õy nht (nm 2008) ca
giỏo s ni ting khỏc ngi c - Hans
Gửppinger. Theo ụng, ti phm hc l ngnh
khoa hc thc nghim c lp nghiờn cu
cỏc s vic thuc cỏc lnh vc ca con ngi
v xó hi m chỳng liờn quan n s hỡnh
thnh ti phm, vic phm ti, hu qu ca
ti phm v vic ngn chn ti phm cng
nh vic x lớ nhng ngi phm ti.
(12)

Vit Nam, trong cỏc giỏo trỡnh hoc
sỏch v ti phm hc, nh ngha v ti
phm hc c a ra tng i thng nht,
trong ú nhn mnh n i tng nghiờn
cu ca ti phm hc l ti phm v ngi
phm ti; nguyờn nhõn ca ti phm v bin
phỏp phũng chng ti phm.
Trong giỏo trỡnh xut bn t nm 1995,
GS.TS. Ngc Quang cho rng: Ti phm
hc l ngnh khoa hc nghiờn cu nhng
vn liờn quan n tỡnh trng phm ti v
ti phm ; nghiờn cu v nhõn thõn ngi
phm ti, nguyờn nhõn, iu kin phm ti
v nhng bin phỏp phũng nga ti phm
nhm tng bc ngn chn, hn ch ti

tỡm cỏch thay i theo hng tớch cc.
Nguyờn nhõn ca ti phm cng ó c
khng nh l i tng nghiờn cu ca ti
phm trong hu ht cỏc nh ngha v ti
phm hc nờu trờn. Lch s phỏt trin ca ti
phm hc cho thy nguyờn nhõn ca ti
phm c nghiờn cu t phớa xó hi v t
phớa ngi phm ti v t mi phớa li c
nghiờn cu t nhiu gúc khỏc nhau, nh
t phớa ngi phm ti c nghiờn cu t
gúc sinh lớ v tõm lớ Cỏc kt qu nghiờn
cu v nguyờn nhõn u c nghim chng
trong thc tin v to c s cho vic hỡnh
thnh nhng h thng tri thc, quan im
khỏc nhau v nguyờn nhõn ca ti phm m
thng c gi l cỏc hc thuyt trong ti
phm hc. Lch s hỡnh thnh v phỏt trin
ti phm hc trờn th gii cng cú th c
coi l lch s hỡnh thnh v phỏt trin cỏc nghiªn cøu - trao ®æi
30 T¹p chÝ luËt häc sè 2/2011
học thuyết về nguyên nhân của tội phạm.
Kiểm soát tội phạm cũng được coi là đối
tượng nghiên cứu của tội phạm học. Điều
này được khẳng định rất sớm trong lịch sử
phát triển tội phạm học
(16)
cũng như thể hiện

Các nội dung được đề cập sau đây đều thuộc
nội dung của kiểm soát tội phạm: “ các
khía cạnh pháp lí và sự kiểm soát ”; “ các
biện pháp và cách thức mà các cơ quan nhà
nước phản ứng trước sự xảy ra của các hành
vi phạm tội ”; “ sự kiểm soát của các tác
động xã hội bao gồm cả các khả năng xử lí
đối với người phạm tội và tác dụng của hình
phạt ”;“ việc ngăn chặn hành vi phạm tội
cũng như việc xử lí những người phạm
tội ”. Trong các tài liệu ở Việt Nam, “Biện
pháp đấu tranh phòng chống tội phạm”
được đề cập nhiều như là đối tượng nghiên
cứu của tội phạm học. Trong đó có một số
nội dung gần với một số nội dung của kiểm
soát tội phạm, vì chúng cũng bao gồm những
biện pháp phản ứng của Nhà nước đối với tội
phạm hiện thực. Đó là những biện pháp đấu
tranh chống tội phạm mang tính phòng ngừa,
như biện pháp đấu tranh phòng chống tội
phạm bằng pháp luật hình sự và thông qua
các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố
tụng hình sự và cơ quan thi hành án (gọi
chung là các cơ quan kiểm soát tội phạm).
Những phân tích ở trên cho thấy đã có
đủ cơ sở thực tiễn khoa học để khẳng định
tội phạm học có đối tượng nghiên cứu độc
lập, đó là tội phạm hiện thực với ý nghĩa là
hiện tượng xã hội số lớn và các hiện tượng,
quá trình liên quan trực tiếp đến tội phạm

hiện nay về tội phạm học, có thể đưa ra định
nghĩa về tội phạm học như sau: Tội phạm
học là khoa học liên ngành, thực nghiệm
nghiên cứu về tội phạm (hiện thực), nguyên
nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm.
Các đối tượng nghiên cứu đã nêu của tội
phạm học đồng thời cũng là những nội dung
khái quát của tội phạm học. Mỗi nội dung
này lại bao gồm các nội dung cụ thể liên
quan. Khi nghiên cứu về tội phạm hiện thực
đòi hỏi phải nghiên cứu cả về người phạm
tội với ý nghĩa là chủ thể gây ra tội phạm, về
nạn nhân của tội phạm và hậu quả gây ra cho
nạn nhân của tội phạm Hoặc khi nghiên
cứu về nguyên nhân của tội phạm cũng đòi
hỏi nghiên cứu cả người phạm tội và nạn
nhân của tội phạm để tìm hiểu về nguyên
nhân từ phía người phạm tội và nạn nhân của
tội phạm Nghiên cứu về kiểm soát tội
phạm bao gồm cả nghiên cứu về hiệu quả
của pháp luật hình sự, hiệu quả của hình
phạt, hiệu quả của hoạt động đấu tranh
chống tội phạm của các cơ quan tiến hành tố
tụng từ góc độ phòng ngừa tội phạm và
nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm. Điều
này lí giải tại sao trong các tài liệu nghiên
cứu về tội phạm học, bên cạnh những nội
dung trực tiếp thuộc đối tượng nghiên cứu
của tội phạm học còn có nhiều nội dung cụ
thể khác được nêu thuộc về nội dung của tội

Criminology Today, Prentice Hall 2002, tr. 14.
(5).Xem: Gennaro F. Vito and Rolald M. Holmes,
Criminology: Theory, Research, and Policy (Belmont,
CA: Wadsworth, 1994), tr. 3; Frank Schmalleger
(PH.D. Professor Emeritus, The University of North
Carolina at Pembroke), Criminology Today, Prentice
Hall 2002, tr. 14.
(6). Clement Bartolla and Simon Dinitz, Introduction
to Criminology: Order and Dísorder (New York:
Harper and Row, 1989), tr. 548.
(7). Frank Schmalleger (PH.D. Professor Emeritus,
The University of North Carolina at Pembroke),
Criminology Today, Prentice Hall 2002, tr. 15. nghiªn cøu - trao ®æi
32 T¹p chÝ luËt häc sè 2/2011

(8).Xem: Frank Schmalleger (PH.D. Professor Emeritus,
The University of North Carolina at pembroke),
Criminology Today, Prentice Hall 2002, tr. 15.
(9).Xem: Frank Schmalleger, Sđd, tr. 15.
(10).Xem: Bernd-Dieter Meier (Professor an der
Universitaet Hannover), Kriminologie, Verlag C.H.
Beck Muenchen 2005, tr. 2.
(11).Xem: Hans-Dieter Schwind (Professor an der
Universitaet Osnabrueck und Ruhr-Universitaet
Bochum), Kriminologie: Eine praxisorientierte
Einfuehrung mit Beispielen, Kriminalistik Verlag
Heidelberg, 2007, tr. 8.

phải phân biệt rõ hơn về hai khái niệm này: Nội dung

của khái niệm kiểm soát tội phạm và nội dung của
khái niệm phòng ngừa tội phạm có thời gian được
hiểu như nhau. Khái niệm ban đầu của phòng ngừa tội
phạm là dựa trên cơ sở của luật hình sự và bảo vệ
pháp luật hình sự. Do đó phòng ngừa tội phạm được
coi đơn thuần là nhiệm vụ của các cơ quan kiểm soát
tội phạm (như công an, kiểm sát, tòa án và cơ quan thi
hành án hình sự). Kiểm soát tội phạm cũng góp phần
và hướng tới phòng ngừa tội phạm. Mãi tới những
năm 90 của thế kỉ XX, ví dụ như ở CHLB Đức khái
niệm phòng ngừa tội phạm mới được quan tâm, thảo
luận rộng rãi và phát triển. Lúc đó mới có sự phân
biệt rõ ràng hai khái niệm này. Hai khái niệm này có
nhiều điểm chung nhưng có một số điểm khác biệt.
Khái niệm phòng ngừa tội phạm rộng hơn khái niệm
kiểm soát tội phạm. Kiểm soát tội phạm chỉ là một
phần của những cố gắng nhằm phòng ngừa tội phạm.
Nếu như khái niệm kiểm soát tội phạm được đặc
trưng bởi các hình thức phản ứng hậu tội phạm (sau
khi được thực hiện) đến người phạm tội thì khái niệm
phòng ngừa tội phạm được đặc trưng bởi các biện
pháp tích cực (tiền tội phạm) hướng vào sự ngăn ngừa
việc thực hiện tội phạm. Kiểm soát tội phạm thuộc
vấn đề cơ bản của tội phạm học, còn phòng ngừa tội
phạm lại đặt quan tâm hàng đầu vào sự vận dụng
những kiến thức cơ bản của tội phạm học. Xem:
Bernd-Dieter Meier (Professor an der Universitaet
Hannover), Kriminologie, Verlag C.H. Beck Muenchen


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status