Họ và tên: CHU LINH TRANG
Mã số SV: 361021
Lớp: N03
Nhóm: 03
Đề bài: Phân tích văn hóa Việt Nam từ góc độ “Địa – văn hóa”. So sánh
văn hóa Việt Nam với các nước Đông Nam Á khác từ cách tiếp cận này.
MỤC LỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ…………………………………………………................2
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ………………………………………………….2
I. Khái quát về công cụ định vị văn hóa: Địa – văn hóa…………………….2
II. Định vị văn hóa Việt Nam từ góc độ Địa – văn hóa………………….......3
1. Các yếu tố đặc thù (mang tính khu vực)……………………………...3
2. Các yếu tố riêng thuộc về bản sắc…………………………………….8
III. So sánh văn hóa Việt Nam với các nước Đông Nam Á khác từ cách tiếp
cận Địa – văn hóa…………………………………………………………..13
1. Những nét chung…………………………………………………….14
2. Những nét riêng……………………………………………………..17
C. KẾT LUẬN……………………………………………………………..19
1
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo định nghĩa về văn hóa của UNESCO: “Văn hóa phản ánh và thể hiện
một các tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và
các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện
tại, qua hàng bao thế kỉ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá tr, truyền
thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản
sắc riêng của mình”. Văn hóa là một hiện tượng khách quan, là tổng hòa của
các khía cạnh của đời sống. Sự hình thành và phát triển của một nền văn hóa
II. Định vị văn hóa Việt Nam từ góc độ Địa – văn hóa
Trong phạm vi hẹp, đất nước Việt Nam nằm trên địa bàn cư trú của người
Bách Việt. Có thể hình dung khu vực này như một hình tam giác với cạnh
đáy là sông Dương Tử (Trung Quốc), và đỉnh là vùng Bắc trung bộ Việt
Nam ngày nay.
Ở phạm vi rộng hơn, văn hóa Việt Nam nằm trong khu vực cư trú của
người Indonesien lục địa. Có thể hình dung đây là một tam giác với cạnh
đáy vẫn là sông Dương Tử (Trung Quốc) còn đỉnh tam giác giờ đây kéo dài
tới tận vùng đồng bằng sông Mekong.
Dù rộng hay hẹp thì đặc trưng địa lí cố hữu của khu vực này vẫn là: Nhiệt
độ, độ ẩm cao (lượng mưa hàng năm lớn), và có gió mùa.
1. Các yếu tố đặc thù (mang tính khu vực)
Điều kiện tự nhiên quy định cho khu vực này loại hình văn hóa gắn với
nông nghiệp với những đặc điểm sau:
a. Trồng lúa nước
Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc trồng lúa nước: khí hậu
nóng ẩm, mưa nhiều, hệ thống sông ngòi dày đặc, đất phù sa màu mỡ được
bù đắp bởi những con sông lớn: sông Hồng, sông Cửu Long… Vì vậy, Việt
Nam là một đất nước nông nghiệp với cây lương thực chủ đạo là lúa nước,
lịch sử dân tộc Việt Nam gắn liền với cây lúa, nền văn hóa Việt Nam cũng
vậy, xuất phát từ nền văn minh lúa nước. Từ ngàn đời nay, cây lúa đã gắn bó
với con người, làng quê Việt Nam, từ mảnh ruộng mà hình thành nên làng
mạc, rồi từ đó mới có đất nước, từ “đất nước” được cấu thành từ hai yếu tố
liên quan đến thửa ruộng của người Việt, “đất” và “nước”… Cây lúa, hạt
gạo đã trở nên thân thuộc gần gũi đến mức từ bao đời nay người dân Việt
Nam coi đó là một phần không thể thiếu trong cuộc sống. Từ những bữa
cơm đơn giản đến các bữa tiệc sang trọng, không thể thiếu sự góp mặt của
hạt lúa. Cây lúa không chỉ mang lại sự no đủ mà còn trở thành một nét đẹp
nông nghiệp. Nền văn minh này đã tạo nên một xã hội lấy làng xã làm cơ sở,
làng nào ruộng đó. Có ruộng thì sẽ thành làng, có làng sẽ có đình, chùa, ao
hồ... các điểm tụ cư nông nghiệp cứ thế mà hoàn thiện dần. Ngôi làng nằm ở
giữa, các cư dân của làng canh tác xung quanh, hết đất ruộng của làng này
mới sang một làng khác.
b. Sống định cư và hòa hợp với thiên nhiên
Nghề trồng trọt buộc người dân phải sống định cư để chờ cây cối lớn lên,
ra hoa kết trái và thu hoạch. Vì vậy người Việt thích cuộc sống định cư lâu
dài, không thích sự di chuyền, đổi thay. Văn hoá Việt Nam mang cội nguồn
và bản sắc của một nền sản xuất nông nghiệp, của một cái nôi trồng trọt. Tác
dụng tổng hoà của người - trời - đất đã tạo nên ở đây nền nông nghiệp với
những cộng đồng định cư thành làng xã từ hàng nghìn năm trước. Cư dân
này đã từ trồng lúa nước, tạo nên nền văn minh trồng lúa nước: nền văn
minh sông Hồng; nền văn minh Việt Nam cổ xưa này đã tạo nên thế quân
bình bền vững của nền văn hoá xóm làng, giữa con người với tự nhiên . Làng
là một tổ chức khá khép kín. Về quy hoạch, làng là một cụm dân cư nông
nghiệp, thủ công nghiệp với diện tích nhỏ. Về hành chính, nó không phải
một đơn vị như thôn - xã - huyện, tỉnh mà được gắn kết dựa trên huyết
thống. Về kinh tế, các làng nghề là đỉnh cao của kinh tế Việt Nam thời
phong kiến với các tổ nghệ - đáng gọi là các anh hùng lao động, khoa học
công nghệ thời đó. Từ làng mạng lưới thương mại quốc gia được nối kết qua
một số đầu mối như Thăng Long, Phố Hiến, Hội An. Sản xuất không tập
trung về đô thị... Về tín ngưỡng, làng thường có đình làng là nơi thờ cúng
các vị thành hoàng và hội họp dân làng, nơi tổ chức các lễ hội quan trọng.
Làng được bao bọc bởi lũy tre và có cổng, trong làng còn có cây đa, có thể
4
có chùa. Ngôi đình tiếp nối các nhà to - nhà cộng đồng Đông Nam Á và là
nhà hành chính - nhà thờ và nhà văn hóa của làng. Về văn hóa, làng cũng là
Về mặt tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa sống theo nguyên
tắc trọng tình. Hàng xóm sống cố định lâu dài với nhau tạo ra một cuộc sống
hòa thuận trên cơ sở lấy tình nghĩa làm đầu: Một bồ cái lí không bằng một tí
cái tình. Lối sống trọng tình cảm tất yếu phải dẫn đến thái độ trọng đức,
trọng văn, trọng phụ nữ.
Trong truyền thống Việt Nam, tinh thần coi trọng ngôi nhà -> coi trọng cái
bếp -> coi trọng người phụ nữ là hoàn toàn nhất quán và rõ nét: Phụ nữ Việt
Nam là người quản lí kinh tế, tài chính trong gia đình – người nắm tay hòm
5
chìa khóa. Chính vì vậy mà người Việt Nam coi “nhất vợ nhì trời”, “lệnh
ông không bằng còng bà”…; còn theo kinh nghiệm dân gian thì “ruộng sâu
trâu nái không bằng con gái đầu lòng”. Phụ nữ Việt Nam cũng chính là
người có vai trò quyết định trong việc giáo dục con cái: “phúc đức tại mẫu” ,
“Con dại cái mang”… Vì tầm quan trọng của người mẹ cho nên trong tiếng
việt, từ “cái” với nghĩa là “mẹ” đã mang thêm nghĩa “chính quan trọng”:
sông cái, đường cái, đũa cái, cột cái, trống cái, ngón tay cái, mái cái…Tư
tưởng coi thường phụ nữ là từ Trung Hoa truyền vào (“nhất nam viết hữu,
thập nữ viết vô”; “nam tôn nữ ti”; “tam tòng”); đến khi ảnh hưởng này trở
nên đậm nét, người dân đã phản ứng dữ dội với việc đề cao “Bà chúa Liễu”
cùng những câu ca dao như: “Ba đồng một mớ đàn ông. Đem bỏ vào lồng
cho kiến nó tha. Ba trăm một mụ đàn bà. Đem về mà trải chiếu hoa cho
ngồi!”
Không phải ngẫu nhiên mà vùng nông nghiệp Đông Nam Á được nhiều
học giả phương Tây gọi là “xứ sở Mẫu hệ”. Cho đến tận bây giờ, ở các dân
tộc ít chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa như Chàm hoặc hoàn toàn
không chịu ảnh hưởng như dân tộc Tây Nguyên (Êđê, Giarai…), vai trò của
người phụ nữ vẫn rất lớn: phụ nữ chủ động trong hôn nhân, chồng về đằng
nhà vợ, con cái đặt tên theo họ mẹ… Cũng không phải ngẫu nhiên mà cho
mọi người tranh cướp nhau vì tin rằng chúng sẽ đem lại may mắn, no đủ cho
cả năm.
Việc thờ sinh thực khí còn thể hiện ở việc thờ các loại cột đá (tự nhiên
hoặc được tạc ra) và các loại dốc (hốc cây, hốc đá, kẽ nứt trên đá). Ở chùa
Dạm (Bắc Ninh) có một cột đá hình sinh lực khí nam có chàm nổi hình rồng
thời Lí. Ngư phủ ở Sở đầm Hòn Đỏ (Khánh Hòa) thờ một kẽ nứt lớp trên
một tảng đá mà dân gian gọi là Lỗ Lường (âm đọc lệch đi của tên gọi sinh
lực khí hư) vì nữ thân này được ngư dân gọi là Bà Lường.
- Thờ hành vi giao phối
Trên nắp đồng tìm được ở làng Đào Thịnh (Yên Bái khoảng 500 năm
trước CN) xung quanh hình mặt trời là 4 đôi nam nữ đang giao phối. Ở các
nhà mồ Tây Nguyên hiện vẫn dựng nam nữ giao phối hồn nhiên với bộ phận
sinh dục phóng to. Không chỉ hình người mà hình động vật đang giao phối
cũng rất phổ biến. Ở thân thạp Đào Thịnh khắc họa những con thuyền nối
đuôi nhau khiến cho 2 con cá sấu – rồng được gắn ở mũi và lái của chúng
chạm nhau trong tư thế giao hoàn. Hình chim, thú, cóc giao phối tìm thấy
khắp nơi. Nếu lưu ý rằng cóc tượng trưng cho việc cầu mưa thì ý nghĩa phồn
thực của loài cóc giao phối lại càng rõ nét.
Vào dịp hội đền Hùng, ở miền đất tổ lưu truyền điệu múa “tùng dí”, thanh
niên nam nữ múa từng đôi, cầm trong tay những vật biểu trưng cho sinh lực
khí của nam và nữ. Ở sở đầm Hòn Đỏ vừa nói, khi nhiều ngày liên tục
không đánh được cá, đích thân người cầm đầu Sở phải tới cầu xin, lạy 3 lạy
và cầm vật tượng trưng cho sinh lực khí nam đâm vào Lỗ Lường 3 lần. Ở
vùng Sơn La, La Cải (Hà Tây) có tục khi rã hội (tan đám) vị bô lão chủ trì
đánh 3 hồi trống, 3 hồi chiêng, khoảng thời gian đó đèn đuốc được tắt hết,
mọi điều cấm kị được lâm thời hủy bỏ, thanh niên nam nữ được tự do. Ý
nghĩa của tục này là ở chỗ: sự hợp thân của nam nữ trên đất cỏ được xem
như là một hành động mang tính ma thuật có tác dụng kích động thiên nhiên
đất trời.
Thời xa xưa, chày và cối – bộ công cụ thân thiết của người nông nghiệp
a. Ứng xử mềm dẻo, khả năng thích nghi và chịu đựng cao
Vì nghề nông, nhất là nghề nông nghiệp lúa nước, cùng một lúc phụ thuộc
tất cả mọi hiện tượng tự nhiên (trông trời, trông đất, trông mây; trông mưa,
trông nắng, trông ngày, trông đêm) cho nên, về mặt nhận thức, hình thành
lối tư duy tổng hợp. Tổng hợp kéo theo biện chứng – cái mà người nông
nghiệp quan tâm không phải là các yếu tố riêng rẽ, mà là nhũng mối quan hệ
qua lại giữa chúng. Tổng hợp là bao quát được mọi yếu tố, còn biện chứng là
chú trọng đến các mối quan hệ giữa chúng. Người Việt tích lũy được một
kho kinh nghiệm hết sức phong phú về các loại quan hệ này: “Quạ tắm thì
ráo, sáo tắm thì mưa”…
Lối tư duy tổng hợp và biện chứng, luôn đắn đo cân nhắc của người làm
nông nghiệp cộng với nguyên tắc trọng tình đã dẫn đến lối sống linh hoạt,
luôn biến báo cho thích hợp với từng hoàn cảnh cụ thế, dẫn đến triết lí sống:
“ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” , “đi với Bụt mặc áo cà-sa, đi với ma mặc áo
giấy” …Do ảnh hưởng của môi trường nước nên người Việt có khả năng
thích nghi và chịu đựng cao. Trong cuộc sống họ thường xuyên phải đối mặt
với những thử thách của thiên nhiên, những đặc trưng của vùng sông nước:
8
bão, lũ lụt,…nên họ tự đúc kết kinh nghiệm cho mình, thích nghi dần dần
với hoàn cảnh, kiên cường, bền bỉ vượt qua thử thách.
Đối phó với các cuộc chiến tranh xâm lược, người Việt Nam luôn hết sức
mềm dẻo, hiếu hòa. Ngày xưa, trong kháng chiến chống ngoại xâm, mỗi khi
thế thắng đã thuộc về ta một cách rõ ràng, cha ông ta thường dừng lại chủ
động cầu hòa, “trải chiếu hoa” cho giặc về, mở đường cho chúng rút lui
trong danh dự.
b. Tính dung chấp cao
Do là đầu mối giao thông đường thủy và đường bộ - cửa ngõ của Đông
Nam Á nên người dân Việt thường xuyên giao lưu với khu vực bên ngoài và
9
Do là vùng đất trẻ lấn dần ra biển nên không có kết cấu bền vững, họ
không thể xây dựng những công trình kiến trúc đồ sộ.
Do cư dân Việt thường phải sống chung với nước. Hằng năm cứ đến mùa
mưa, người dân Việt, đặc biệt là người dân ở các tỉnh miền Trung lại phải nỗ
lực chống chọi với bão lũ. Dải đất Miền Trung có địa hình đặc biệt. Nó như
khúc eo thắt đáy lưng ong của hình hài cô gái mang tên Việt Nam.
Một bên là dãy Trường Sơn hùng vĩ. Một bên là Biển Đông uốn lượn ôm lấy
eo lưng của cô gái. Những cơn bão, áp thấp nhiệt đới mang theo những đám
mây nặng nước tràn nhiều nhất vào Miền Trung. Trường Sơn như tấm màn
chắn làm nên những trận mưa như trút nước xuống dải đất hẹp này.
Dân Miền Trung vốn sống chung với mưa bão lụt lội hàng bao đời nay
Người dân ở đây phải sống trên thuyền, trên ghe, nước ngập đang chia cắt
tất cả các thôn trong xã chỉ một số hộ gia đình sống ở nơi gò cao. Từ người
già đến trẻ nhỏ, chỉ biết ngồi trên các vật dụng được kê lên cao như bàn, ghế
trong nhà nhìn ra biển nước. Cơn bão kéo đến làm cho cuộc sống của họ
không được yên ổn, lũ lụt cuốn trôi đi tất cả của cải trong nhà, tính mạng
con người cũng không được đảm bảo. Chính cuộc sống bấp bênh, khốn khổ
ấy là lí do họ không thể xây dựng những công trình kiến trúc đồ sộ.
d. Tồn tại nhiều loại hình nghệ thuật gắn với sông nước (chèo, rối nước,
đua thuyền…)
Cuộc sống của người dân Việt gắn liền với sông nước, bởi vậy họ sáng tạo
ra rất nhiều loại hình nghệ thuật đặc trưng của khu vực mình.
- Rối nước
Rối nước là “đặc sản văn hoá” của cư dân trồng lúa nước Việt Nam. Rối
nước hình thành với hai thành tố cơ bản: rối và nước.
Nếu rối là công trình của nghệ thuật tạc tượng gỗ dân gian thì nước là một
yếu tố quan trọng hàng đầu của nghề trồng lúa nước (nhất nước, nhì phân,
nét cứng, màu sắc nghèo, cử động gấp khúc, vừa đủ gợi cho người xem nhận
thức khái quát về người, về vật, ... Nhưng nước đã dùng đặc tính lỏng và
phản quang của mình tạo nên sự ảo hoá hiện tượng. Sân khấu rối nước luôn
đầy ắp sắc hình trời, mây, cây, cảnh... chuyển đổi khôn lường in trên mặt
nước làm nền cho nhân vật “rối” hoạt động. Trên “chiếc gương” này, tất cả
đều lung linh, mềm mại, uyển chuyển, biến hoá liên tục trước mắt người xe.
Những gì là thô cứng, nghèo nàn của đường nét, màu sắc, cử động ở quân
rối đều trở nên sinh động, phong phú. Nước ẩn giấu trong lòng tất cả mọi bí
mật của trò rối. Người xem trên bờ thấy quân rồi chợt hiện, chợt ẩn,..., nghe
tiếng trống, tiếng pháo,... mềm mại, dịu dàng, uốn lượn hơn.
Xem rối nước là ngồi ngoài trời, trực tiếp với thiên nhiên. Ở đây tất cả đều
thực, giác quan con người đều có thể cảm thụ được. Nhưng chính giữa
những cái quá quen này, trò rối nước đã nổi bật, lộ ra như vầng trăng giữa
trời đêm, biểu hiện cho tài năng sáng tạo của con người, ngợi ca sự chiến
thắng thiên nhiên của con người.
Rối nước vừa thực vừa hư, vừa sân khấu vừa cuộc đời, gắn bó với nhân
dân Việt Nam như cây đa, bến nước, lời ru, cánh cò,...Sân khấu rối nước là
sân khấu hội hè, lưu giữ nhiều sáng tạo nghệ thuật dân gian, kỹ thuật nhân
dân cổ xưa và nhiều sinh hoạt tinh thần, tập tục, lao động vật chất của cư dân
trồng lúa nước Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước từ hàng
nghìn năm xưa.
- Chèo
Chèo là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian Việt Nam. Chèo phát
triển mạnh ở đồng bằng Bắc Bộ. Loại hình sân khấu này phát triển cao, giàu
tính dân tộc. Chèo mang tính quần chúng và được coi là một loại hình sân
khấu của hội hè với đặc điểm sử dụng ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa kết hợp
11
với cách nói ví von giàu tính tự sự, trữ tình. Nếu sân khấu truyền
những thói hư tật xấu của xã hội phong kiến hay kể cả vua quan, những
người có quyền, có của trong làng xã. Có hai loại hề chính bao gồm :hề áo
dài và hề áo ngắn.
Chèo là loại hình nghệ thuật tổng hợp các yếu tố dân ca, dân vũ và các loại
hình nghệ thuật dân gian khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nó là hình thức kể
chuyện bằng sân khấu, lấy sân khấu và diễn viên làm phương tiện giao lưu
với công chúng, và có thể được biểu diễn ngẫu hứng. Sân khấu chèo dân
gian đơn giản, những danh từ chèo sân đình, chiếu chèo cũng phát khởi từ
đó.
12
Đặc điểm nghệ thuật của chèo bao gồm yếu tố kịch tính, kỹ thuật tự sự,
phương pháp biểu hiện tính cách nhân vật, tính chất ước lệ và cách điệu.
Ngôn ngữ chèo có những đoạn sử dụng những câu thơ chữ Hán, điển cố,
hoặc những câu ca dao với khuôn mẫu lục bát rất tự do, phóng khoáng về
câu chữ.
Chèo không có cấu trúc cố định năm hồi một kịch như trong sân khấu
Châu Âu mà các nghệ sỹ tham gia diễn chèo thường ứng diễn. Do vậy, vở
kịch kéo dài hay cắt ngắn tuỳ thuộc vào cảm hứng của người nghệ sỹ hay
đòi hỏi của khán giả. Không giống các vở opera buộc các nghệ sỹ phải thuộc
lòng từng lời và hát theo nhạc trưởng chỉ huy, nghệ sỹ chèo được phép tự do
bẻ làn, nắn điệu để thể hiện cảm xúc của nhân vật. Số làn điệu chèo theo ước
tính có khoảng trên 200. Chèo sử dụng tối thiểu là hai loại nhạc cụ dây
là đàn nguyệt và đàn nhị đồng thời thêm cả sáo nữa. Ngoài ra, các nhạc công
còn sử dụng thêm trống và chũm chọe. Bộ gõ nếu đầy đủ thì có trống cái,
trống con, trống cơm, thanh la, mõ. Trống con dùng để giữ nhịp cho hát, cho
múa và đệm cho câu hát. Có câu nói " phi trống bất thành chèo" chỉ vị trí
quan trọng của chiếc trống trong đêm diễn chèo. Trong chèo hiện đại có sử
dụng thêm các nhạc cụ khác để làm phong phú thêm phần đệm như đàn thập
quốc gia của khu vực được chia ra làm hai nhóm chính: Myanma, Thái Lan,
Campuchia, Lào và Việt Nam nằm ở Đông Nam Á lục địa, còn gọi bán đảo
Trung Ấn, trong khi đó các nước còn lại tạo nên nhóm Đông Nam Á hải đảo.
Nhóm Đông Nam Á hải đảo này được hình thành bởi nhiều cung đảo thuộc
về Vành đai núi lửa Thái Bình Dương và là một trong những khu vực có
hoạt động núi lửa mạnh nhất thế giới.
Do điều kiện địa lí của mình, Đông Nam Á chịu ảnh hưởng chủ yếu của
gió mùa, tạo nên hai mùa tương đối rõ rệt: Mùa khô lạnh, mát và mùa mưa
tương đối nóng và ẩm. Vì thế, Đông Nam Á còn được gọi là khu vực “Châu
Á gió mùa”. Chính gió mùa và khí hậu biển làm cho khí hậu vùng Đông
Nam Á đáng lẽ có thể trở nên khô cằn như một số khi vực lục địa khác có
cùng vĩ độ đã trở nên xanh tốt và trù phú với những đô thị đông đức và thịnh
vượng như Singapore, Jakarta, Kuala Lumpur,... Gió mùa kèm theo những
cơn mưa nhiệt đới đã cung cấp đủ nước cho con người dùng trong đời sống
và sản xuất hằng năm, tạo nên những cánh rừng nhiệt đới phong phú về thảo
mộc và chim muông. Đông Nam Á từ lâu đã trở thành quê hương của những
cây gia vị, cây hương liệu đặc trưng như hồ tiêu, sa nhân, đậu khấu, hồi, quế,
trầm hương,… và cây lương thực đặc trưng là lúa nước.
Môi trường tự nhiên đặc trưng này đã hình thành nền văn hóa gắn với
nông nghiệp ở các nước Đông Nam Á với những nét tương đồng:
a. Nền văn hóa đều được hình thành trên nền văn hóa nông nghiệp
trồng lúa nước
Về phương diện văn hóa vật chất trồng lúa nước của người dân Đông Nam
Á thể hiện nét tương đồng ở: Làm ruộng cấy lúa, nuôi trâu bò, dùng đồ kim
khí thô sơ, giỏi bơi thuyền.
Như đã trình bày văn hóa của các quốc gia cổ Đông Nam Á chủ yếu hình
thành trên nền văn hóa của nông nghiệp lúa nước. Những thành tựu chủ yếu
của nghề nông Đông Nam Á thời tiền sử là: Trồng được lúa và các loại rau
màu như bầu bí, khoai,…; thuần dưỡng được các loại gia súc như trâu, bò;
làm được nhà để ở; biết dùng một số cây thuốc để chữa bệnh.
rất coi trọng người già (những người nhiều tuổi bậc trên, có nhiều kinh
nghiệm và uy tín trong con cháu) và quản lý làng bản dựa trên chế độ già
làng (Việt Nam có câu “Triều đình trọng tước, làng nước trọng xỉ”. Xỉ là cái
răng, ai rụng hết răng còn lợi được xem là người già và được kính trọng.
Hiện nay còn dấu vết phong tục “lên lão”). Già làng là cái cốt lõi của cái mà
ta gọi là dân chủ công xã.
c. Có chung yếu tố tín ngưỡng bản địa
Cùng sinh ra và lớn lên trong một khu vực địa lý, cùng có chung một cơ
tầng văn hóa nông nghiệp lúa nước, cư dân Đông Nam Á đều có một số yếu
tố tín ngưỡng bản địa như nhau, chẳng hạn: tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, tín
ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái linh hồn người đã mất,…Cái chung
nhất của tất cả các tín ngưỡng này, như nhiều nhà nghiên cứu khẳng định, là
xuất phát từ học thuyết vạn vật hữu linh, nghĩa là mọi vật đều có linh hồn.
Linh hồn biết tất cả những gì mà con người đang làm và linh hồn có thể giúp
con người mọi việc ở mọi lúc, mọi nơi, nhất là những lúc con người ở vào
tình thế nguy nan. Vì vậy, thờ cúng các linh hồn được coi là bổn phận của
con người.
15
d. Nghệ thuật biểu diễn đều mang đặc điểm đặc trưng văn hóa trồng lúa
nước
Nghệ thuật biểu diễn của Đông Nam Á là đặc trưng Văn hóa - Nghệ thuật
của nền văn minh Lúa nước, mang tính chất văn hóa truyền thống vùng miền
khác nhau, nhưng đều được sáng tạo từ quá trình đấu tranh dựng nước và
giữ nước, quá trình lao động sản xuất, sinh hoạt cộng đồng của tất cả các
quốc gia trong khu vực.
Hệ thống nhạc cụ chủ đạo là bộ gõ với trống đồng là trống chủ. Trong khi
biểu biễn thì nghệ sĩ kết hợp các động tác hát - múa - diễn, đặc biệt sử dụng
16
Việt lại có một số nét khác biệt so với các nước khác. Điển hình là quan
niệm về linh hồn con người.
Người Đông Nam Á quan niệm rằng mọi thứ đều có linh hồn (vạn vật hữu
linh), mà người Melanesia và Polynesia gọi là mana. Nó có thể nằm trong
con người, con vật, cây cối và những vật vô cơ như đất, đá, nước, lửa,… cả
những vật do con người tạo ra như xe, chum vại,…
Từ thuyết vạn vật hữu linh, có thể nói một cách đơn giản quan niệm về
linh hồn của người Đông Nam Á như sau: Người sống có đủ hai phần: linh
hồn và thể xác; người chết: linh hồn đã lìa khỏi thể xác; linh hồn quyết định
sự sống của con người, nếu người chết, các hồn đều biến thành ma. Tên gọi
của linh hồn con người và số lượng linh hồn ở Việt Nam có nét khác với các
nước khác ở Đông Nam Á. Ở Việt Nam, linh hồn con người được gọi là hồn,
vía. Còn ở Thái Lan, Lào, Shan gọi là Khuẩn, ở Mianmar gọi là Leip Bya, ở
Campuchia gọi là Pralung và ở Malaysia gọi là Semangat. Người Việt cho
rằng con người có ba hồn, nam có bảy vía, nữ có chín vía. Còn người
Thailand cho rằng có 120 hồn, người Mường cho rằng có 90 hồn, người
Khmer thì cho con người có 9 hồn chính, các dân tộc miền núi Mindanao
(Philippines) cho rằng con người có hai hồn chính: hồn trái và hồn phải, con
người qua đời: Hồn trái thành ma ác, hồn phải thành ma lành.
b. Nhạc cụ
Nét đặc trưng của nền văn hóa lúa nước ở các nước Đông Nam Á là các
loại hình nghệ thuật và hệ thống nhạc cụ đều bám sát hoạt động sản xuất
nông nghiệp. Tuy vậy ở các nước vẫn có sự riêng biệt không thể trộn lẫn.
Minh chứng cho sự khác biệt của Việt Nam với các nước khác đó là cồng
chiêng Tây Ngyên. Sự độc đáo và khác biệt cơ bản giữa cồng chiêng Tây
Nguyên đối với cồng chiêng của các nước trong khu vực Đông Nam Á ngoài
nhạc để tạo nên sự hòa hợp, đồng cảm chung. Vì vậy, để tham gia diễn tấu
được một bài chiêng, thì yếu tố “nhạc cảm”, năng khiếu bẩm sinh là vấn đề
quan trọng, không phải là ai cũng có thể làm ngay được. Đặc biệt là sự quy
định chức năng từng loại cồng trong dàn nhạc: “Chiếc cồng phát ra âm thanh
thấp – vốn là âm cơ bản – mang tên “mẹ”. Trong những dàn có 9 cồng
chiêng trở lên thì có thêm cồng “cha”, ... tiếp theo là các cồng con, cồng
cháu... hình thành hệ thống gia đình mang dấu vết chế độ mẫu hệ của người
Tây Nguyên. Khi diễn tấu, cồng mẹ và cồng cha được phân công phần trầm
làm nền, cồng con và các cồng khác đánh so le trước – sau, nhanh – chậm để
tạo ra giai điệu” .
Điều khác biệt nữa là nhạc công dàn chiêng Tây Nguyên không ngồi yên
tại chỗ để gõ cồng như các nước Lào, Thái Lan, Campuchia, Myanma... mà
luôn di động, (thường là di động xoay quanh một đối tượng được tôn vinh ở
vị trí trung tâm như cây nêu... theo chiều ngược kim đồng hồ như chiều bay
của cánh chim Lạc trên mặt trống đồng) và đa dạng về động tác (tùy theo sự
cảm hứng diễn đạt trong quá trình diễn tấu như khom người, nghiêng mình,
cúi mặt...). Cách gõ cồng của Tây Nguyên có hai cách: đánh bằng dùi và
đánh bằng cườm tay. Đánh bằng dùi, nếu là dùi mềm cho âm thanh tròn
trĩnh, dịu dàng, trầm lắng, nếu là dùi cứng cho âm thanh độ mãnh liệt, sắc
nhọn. Đánh bằng cườm tay cho âm thanh cảm giác mờ ảo, xa xăm, huyền bí,
hoang sơ. Bàn tay trái phía sau cồng không chỉ để giữ cồng mà cũng tham
gia diễn tấu, lúc bịt lúc mở mặt chiêng để tạo tiếng ngắt, tiếng ngân theo
từng sắc thái của bài chiêng.
C. KẾT LUẬN
18
Như vậy, có thể nói Văn hóa dân tộc Việt Nam nảy sinh từ một môi trường
sống cụ thể: xứ nóng, nhiều sông nước, nơi gặp gỡ của nhiều nền văn minh