so sánh tiến hóa hệ thần kinh động vật có xương sống - Pdf 33


Lêi më ®Çu
ộng vật kà một thành viên rất quan trọng trên trái đất, phong phú và đa
dạng. do hoạt động thường xuyên, tích cực để sống và phát triển, động
vật có quan hệ trực tiếp đến loài người. vì thế, ngay từ thời cổ đại loài người
đã chú ý tới các loài động vật. Động vật học đã ra đời từ ngày đó, nghĩa là
động vật học ra đời chíng là do nhu cầu xã hội của loài người.
Đ
Hiện nay trên thế giới ngừoi ta đã mô tả khoảng 1,4 triệ loài động vật.
trong số đó có khoảng 1 triệu loài động vật không xương sống và động vật có
xương sống, phân bố ở hầu khắp mọi nơi trên thế giới, tạo nên một thế giới
động vật đa dạng và phong phú.
Cũng như động vật nói chung, động vật học có xương sống là một hệ
thống khoa học nghiên cứu động vật có xương sống trên các mặt bao gồm
hình thái học, sinh lý học, sinh thái học, di truyền học, phân loại học, địa lí
học…có nhiệm vụ là phát hiện các đặc điểm hình thái, cấu tạo, sinh lí, sinh thái,
phân bố…của động vật có xương sống. xác định vị trí của chúng trong giới
động vật và trong hệ sinh thái, cũng như vai trò và tầm quan trọng của chúng
trong đời sống con người.
Động vật có xương sống phong phú về thành phần loài (khoảng 60000
loài hiện sống), kích thước cũng rất thay đổi: từ những loài chỉ nặng 0,1g đến
cá voi xanh nặng gần 100 tấn , hầu như có mặt ở khắp mọi nơi trên thế giới: từ
những loài cá bi-da bơi lội ở vùng biển sâu cho đén các loài chim di cư bay
lượn trên đỉnh núi Hymalaya cách những con cá này đến 15km.
Chính vì sự phân bố rộng như vậy, cùng với sự thay đổi về điều kiện sống
ở những vùng khác nhau trên trái đất đã làmm cho các loài động vật sống ở
trên đó có những đặc điểm cấu tạo rất riêng và những tập tính thích nghi rất
độc đáo mà con người không thể hiểu hết nếu như không cố công tìm hiẻu và
quan sát.
Xuất phát từ lòng yêu thích động vật, mong muốn được tìm hiểu về thế
giới động vật xung quanh mình về những hoạt động sống đặc biệt là những tập

5. Động vật có vú, Phạm Thu Hòa biên dịch, Nhà xuất bản trẻ.

Môi trờng sống của các loài sinh vật trên trái đất thật là phong phú,mỗi vùng
mang nhiều điều kiện tự nhiên khác nhau ảnh hởng đến đời sống của các sinh vật
sống trong đó nh: cấu trúc địa hình, khí hậu, nhiệt độ, sự cạnh tranh giữa các loài
sinh vật, sự tác động của kẻ thùChính vì vậy, sinh vật nói chung và động vật có
xơng sống nói riêng đều mang những tập tính riêng của loài để có thể thích ứng
nhanh chóng với sự thay đổi của môi trờng sông để tồn tại, phát triển và duy trỳ
nòi giống.tập tính là những thói quen riêng của mỗi loài trong các hoạt động sống
nh tìm nơi ở, kiếm ăn, vận động,khả năng tự vệ, hình thức sinh sản, chăm sóc
trứng,con non sau khi đẻ, tập tính di cNhững tập tính đó mang tính di truyền từ
thế hẹ này sang thế hệ khác của loài. Qua nhiều thế hệ, những tập tính đó càng đợc
duy trỳ và thể hiện rõ nét hơn, tạo nên những đặc , trng riêng của các loài khác
nhau, thậm chí là giữa các cá thể khác nhau trong cùng một loài. Từ những sai
khác về tập tính sống của các loài sinh vật tạo nên sự đa dạng, phong phú cho giới
sinh vật nói chung và cho giới động vật nói riêng.
Để làm sáng tỏ điều đó, ta đi xét lần lợt các tập tính hoạt động của các lớp
động vật có xơng sống: lớp cá, lớp lỡng c, bò sát, chim, thú để làm rõ sự đa dạng
về tập tính của giới động vật
I. Lớp cá
Cá là lớp động vật sống hoàn toàn ở nớc, việc tách rời cá khỏi môi trờng nớc
sẽ làm chúng chết vì nớc là môi trơng có nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát
triển của cá mà những môi trờng khác không có đợc. Sống trong môi trờng nớc cá
mang một số tập tính sau:
*Về nơi ở: Do đặc điểm môi trờng nớc ở mỗi vùng khác nhau nên mỗi vùng
thích hợp với một số loài cá nhất định, có loài rộng sinh cảnh (eurybiotop) phân bố
khăp nơi, lại có những loài hẹp sinh cảnh ( Stenobiotop) chỉ ở những vùng nhất
định. Tùy theo không gian sống và tính chất lý hóa của môi trờng ma có thể chia
nơi ở của cá theo những nhóm sinh thái riêng:
- Theo tính chất môi trờng:

những ngày hè có nhiệt độ cao, hàm lợng oxi trong nớc giảm, vì vậy ở các vùng n-
ớc lặng, vực nớc nông thờng có hiện tợng thiếu oxi, nhiều loài cá thích nghi có cơ
quan hô hấp phụ lấy oxi tự do trong không khí thỉnh thoảng kaij ngoi lên mặt đớp
khí ( cá rô, cá quả, cá thoi loi, cá phổi có những vũng nớc ao tù , ban đêm có sự
phân hủy xác hữu cơ lấy đi nhiều oxi và thải ra nhiều khí độc nên cá bị chết hàng
loạt.
- Nếu dựa vào nơi ở trong khu vực nớc :
Tùy vào không gian trong khu vực nớc ta có thể chia thành các nhóm cá: cá
tầng mặt, cá ven bờ và cá đáy sâu( cách phân chia này chỉ phù hợp với cá biển.
Cá tầng mặt là cá ăn nổi, chúng kiếm ăn và sinh sản đều ở trên tầng mặt. Nớc
trong không cá nơi ẩn náu nên hầu hết cá vận chuyển nhanh, có màu sắc đặc biệt
để có thể tránh kẻ thù: lng thờng có màu sẫm, bụng màu trắng bạc, chúng đẻ trứng
nhỏ có giọt mỡ lớn, làm phao nổi, ấu trùng không màu , trong suốt có những phần
dài, nhẹ làm tăng sức đẩy Acsimet, dể nổi.
Cá ven bờ: môi trờng sống có nhiều chỗ ẩn nấp, nên bơi lội kém, rất đa dạng
về hình thái ngoài: Cá ăn đáy có thân dẹp trên dới, mắt miệng hớng lên trên ( cá
mù làn, cá chai), miệng ở dới ( cá đuối), vây bụng biến thành giác bám ( cá bống

khe), thành chân bò ( cá thòi loi)Cá ven bờ có màu sắc dể thay đổi phù hợp với
màu sắc nền đáy thủy ( cá bơn màu trắng ở trong bể đáy cát trắng sẽ chuyển sang
nâu khi chuyển nó vào bể đáy cát màu tối.
Cá đáy sâu: đáy
biển sâu luôn thiếu ánh
sáng, nớc lặng, ít luân
chuyển, thiếu oxi, áp suất
lớn, không có thực vật
thủy sinh nên cá có cấu
tạo đặc biệt để có thể chịu
đợc áp suất lớn, đa số ít
vận chuyển , mắt rất lớn

tập tính ăn thay đổi theo loài, lứa tuổi mùa vụ và điều kiện ngoại cảnh tác động.
Tùy thuộc vào loại thức ane mà có thêt có những nhóm sinh thái nh sau:
+ Cá ăn mồi lớn gọi là cá dữ: ở các thủy vực nớ ngọt, cá chuồn (Bagarius), cá
nheo (Parasilurus), cá quả (Ophiocephalus), cá lăng (Hemibagrus), cá chũn (Lates
calcarifer), ở biển có cá nhám (carcharinus), cá ngừ (Auxis), cá vợc (Seranus), cá

căng (Therapon), cá hồng (lutjanus),...
+ Cá ăn mồi nhỏ gọi là cá lành: ở nớc ngọt:
Cá chép ( Ciprinus), cá Nơng (Hemiculter), Cá chạnh trấu (Mastacembellus), Thát
lát (Notopterus). ở biển có: Cá mối ( Saurida), cá Nục (Decapterus), Cá trích
(Sardinella), cá Mòi (Clupcenodon). Cá ăn thực vật nổi điển hình có cá Mè
(Hypophthalmichthys) chuyên ăn tảo đơn bào. ăn thực vật có cá Bõng
(Spinibarbichthys), cá Chát (Lissochilus), cá Trắm cỏ (Ctenopharhyngodon). Cá
ăn mùn bã nh cá Trôi (Cirrhina), cá Diếc (Carassius), cá Nhàng (Xennocypris), cá
Lúi (Ostochilus) cá Xỉnh ( Onychostoma), cá Đối (Mugil). Cá ăn lọc: Thức ăn th-
ờng là cá vi sinh vật phong phú ở biển, ấu trùng cá và một vài loài sinh vật nhỏ
khác
+ Cá ăn tạp: Ăn cả thực vật và động vật, cá chết, một số it cá loài sống kí
sinh. So với vùng ôn đới, cá vùng nhiệt đới có phổ thức ăn rộng hơn, nghiêng về ăn
tạp hơn. Tùy theo lứa tuổi và mùa loại thức ăn cũng thay đổi, do đó sự phân chia
các nhóm sinh thái dựa vào thức ăn chỉ có tính tơng đối.
- Cá bắt mồi và nuốt mồi nguyên, tùy theo loại thức ăn và lợng thức ăn của
từng loài mà có cấu tạo hệ tiêu hóa khác nhau giữa cá nhóm sinh thái.
- Thành phần thức ăn và cờng độ dinh dỡng mỗi loài cũng phụ thuộc vào mùa,
trạng thái sinh lí và lứa tuổi

Mùa đông cá ăn ít các loại thức ăn hơn mùa hè, mùa đẻ trứng cá ăn ít nên gầy,
một số loài khi di c sinh sản toàn nhịn ăn (cá mòi, cá cháy). Sau khi sinh sản, cá ăn
nhiều nên béo trở lại. Cá con chủ yếu ăn phù du, động thực vật, lớn lên cá mở rộng
phổ thức ăn, có khi chỉ sang ăn chuyên.

cá săn sắt, có loài phát tiếng kêu để goi tìm nhau (một số loài thuộc họ cá chép)
- Tuổi thành thục và lứa đẻ:
+ Tuổi thành thúc thay đổi tùy loài, thậm chí này cả cùng một loài, tuổi thành
thục cũng thay đổi tùy theo sự tăng trởng của tng cá thể, cá sinh trởng nhanh thì
phát dục sớm, rõ ràng là tuổi thành thục luôn quan hệ chặt chẽ với chế độ dinh d-
ỡng. Nhiều nhà Ng loại học đã khẳng định là cá sinh sản ở cở nhất định chứ không
phải là ở một lứa tuổi nhất định. Tuy nhiên, nhìn chung cá có kích thớc lớn, tuổi
thọ cao(cá tầm 5-10 năm) thành thục muộn howncas nhỏ (cá cảnh 2-3 tháng). Cá
nhiệt đới thành thục sớm hơn cá ôn đới do điều kiện ánh sáng, nhiệt độ kích thích
(cá chép thành thục 3 năm ở Hoa bắc, 2 năm ở Hoa nam và một năm ỏ sông Hồng)

+ Số lứa đẻ và số lợng trứng thay đổi tùy loài và tùy theo cung phân bố địa lí.
Cá ôn đới mỗi năm đẻ 1 lần, cá nhiệt đới đẻ nhiều lần trong mùa sinh sản. cá đẻ
nhiều lứa thì số lợng trứng ở các lứa đẻ sẽ khác nhau, lứa đẻ vào thời kì có thức ăn
phong phú nhất sẽ có nhiều trứng nhất. Cũng có một số loài cỉ đẻ một lần rồi chết
vì kiệt sức (cá hồi, chình).
Phần lớn các loài cá kích thớc nhỏ ở biển đẻ trứng nổi (trứng đợc bọc lớp mỡ
mỏng) với số lợng trứng rất lớn, (cá trích một van trứng, cá hồi 3 - 14 vạn, cá cháy
hơn một triệu trứng).
Một số ít loài cá nớc ngọt cũng đẻ trứng nổi nh mờng, mè, trôi.
Số lợng trứng tùy thuộc kích cở con cá cái và nhất là tập tính sinh sản của
loài. Ca không chăm sóc trứng, bảo vệ con thì đẻ số lợng trứng rất lớn (trôi 46 -
750 ngàn trứng, mè 91 - 230 vạn). Cá biết bảo vệ trứng hay chăm sóc con đẻ số l-
ợng ít (cá chìa vôi có buồng ấp trứng dới bụng khoảng dới 250 -1 919 trứng, cá
chạch 2 - 3 ngàn trứng)
Cá biển thờng đẻ trứng nhiều hơn cá nớc ngọt (trừ cá sụn), cá biển khơi đẻ
nhiều hơn cá ven bờ). Cá thè be đẻ vào mang trai đợc bảo vệ tôt chỉ có 35 trứng...)
Trừng chìm có mang dính bám vào đá, cây thủy sinh (cá tầm, cá nhám ) hay
trứng có lợng noãn hoàng lớn làm cho tỉ trọng nặng hơn nớc (d > 1) nên chìm
xuống đáy (chép, diếc, cá xỉnh...)

Sinh trởng về khối lợng không đồng đều và phụ thuộc vào thức ăn và nhiệt độ
của nớc. Mùa Xuân - Thu, cá ăn nhiều lớn nhanh, mùa Đông cá lớn chậm. Sự lớn
lên không đều của cá làm cho vẩy và xơng có những vòng đậm và nhạt khác nhau.
Sự xen kẻ giữa vùng sinh trỡng nhanh và vùng sinh trởng chậm, tạo nên vòng năm
trên vảy, căn cứ vào số lợng vòng năm ta có thể biết tuổi của cá, độ lớn sang của
mỗi vòng năm thể hiện cá sống thuận lợi hay khó khăn vào những năm trớc đó. Cá
tăng trởng suốt đời sống, nhng càng về sau tốc độ tăng trởng càng giảm.
Tuổi sống của cá cũng rất khác nhau, nhìn chung cá có kích thớc nhỏ thờng
có chu kì sống ngắn, một vài năm, cá có kích thớc lơn sống lâu hơn (15 - 20 năm).
Một số rất ít loài nh cá bơn sống tới 60 năm, cá tầm 120 năm. Tuổi thọ của cá rất
khó xác định và cá chết trong tự nhiên thờng là thức ăn của nhiều loài thủy sản
khác.

* Thành phần tuổi và biến động số lợng
Số lợng của chủng quần cá thờng thay đổi phụ thuộc vào môi trờng sống
thuận lợi hay khó khăn, cơ sở thức ăn, bênh tật, dịch hại và hoạt động khai thác của
con ngời.
Bản chất của sự biến động số lợng là mối quan hệ giữa sinh sản và tử vong.
Đối với cá có vòng đời ngắn, lớn nhanh, thành thục sớm (diếc, rô phi) thì số lợng
thay đổi nhanh và phục hồi cũng nhanh. Ngợc lại cá có vòng đời dài, lớn chậm,
thành thục chậm thì việc phục hồi lại số lợng đàn cá khi bị giảm sút cũng rất chậm.
Đây là cơ sở lí luận cho việc khai thác thế nào cho hợp lí
* Thích nghi tự vệ và tấn công
Để tồn tại, mỗi loài cá chọn cho mình một cách thích nghi riêng. Phần lớn,
các loài cá có khả năng thay đổi màu sắc giống với màu nền: giúp chúng lẫn tránh
đợc kẽ thù, mặt khác cũng giúp chúng ẩn nấp để tấn công kẻ thù hoặc rình mồi có
hiệu quả (cá bơn, cá đuối, cá rô phi...) Những cá ăn nổi lng có màu xám, bụng màu
bạc. Cá sống ở đáy có màu đen xám hay màu cát. Những cá ở vùng san hô có màu
sắc sặc sỡ, tơng phản với màu nền san hô. Màu sắc của mỗi loài cá vùng nhiệt đới
là không phải để ẩn náu mà nhiều trờng hợp lại dễ thấy. Nhiều loài cá có màu sắc

Di c l hin tng chuyn t ni ny sang ni khỏc sinh sng do nhiốu
nh hng ca mụi trng. Cú hai hỡnh thc di c: th ng v ch ng.
- Di c th ng ph bin cỏ con. Cỏ mũi, cỏ chỏy sau khi n xuụi dũng theo
song ra bin , u trựng cỏ chỡnh theo dũng hi lu mói n khi chuyn sang dng
hỡnh ng mi theo dũng chy triu vo ven b, ca song, sau ú mi bt u giai
on di c ch ng lờn thng ngun cỏc con song sinh sng.. Cỏ trụi, cỏ mố, cỏ
trm con thng theo l trn vo cỏc vc nc ven sụng phỏt trin. Cỏ chộp ca

nheo theo dòng nước lũ lên đẻ ở những nơi có “giá đẻ” như các mô đất, gốc cây, cá
con sau dó theo dòng nuớc rút xuống ruộng trũng, ô, bàu, sông, rạch.
- Di cư chủ động được thực hiện chủ yếu ở cá lớn. Đây là một tập tính được
hình thành trong quá trình hình thành loài nhằm đảm bảo cho chủng quần loài có
môi trường sống thuận lợi nhất.
+ Phổ biến nhất với nhiều loài cá là di cư kiếm ăn. Vào mùa hè, nhiều loài cá nổi
vịnh Bắc bộ có xu hướng di cư vào bờ để kiếm ăn, vì mùa này mưa lũ mang nhiều
chất dinh dưỡng ra vùng cưẩ sông, ven biển. vào mùa xuân các loài cá biển khơi
thường di cư lên phía bắc vì sau khi tuyết tan phức hệ động thực vật phát triển
phong phú. Sự di cư của các loài cá nổi theo nguyên nhân thức ăn đã làm cho các
loài cá ăn thịt di cư theo.
+ Di cư tránh rét chủ yéu ở các loài cá lục địa ( cá ngạnh, cá chạch trấu, cá rô,
cá diếc, cá vền..). Vì nhiệt độ thay đổi rất lớn nên và nguyên nhân địa lý chúng
thường lặn sâu,xuống đáy nước , tập trung vào các hang hốc để tranh rét. Tại thời
điểm khó khăn này, cá giảm thiểu các hoạt động tiêu tốn năng lượng, nhu cầu dinh
dưỡng, thậm chí nhịn ăn vài ngày ( cá chình con cỡ 10g có thể nhịn ăn 70-207 ngày)
+ Di cư sinh sản thường gặp ở cá biển. Miền bắc nước ta có cá mòi, cá cháy
(họ clupeidae) hang năm cứ tháng 3-6 từ biển chúng tập trung thành đàn lớn bơi
ngược dòng sông Hồng đến Việt Trì, Yên Bái có các bãi đẻ có dòng chảy khá mạnh
vừa bơi vừa đẻ, đẻ xong lại quay ra biển. Ở miền Nam nhiều loài cá họ trích , cá cơm
tới mùa sinh sản cũng ngược dòng sông Mê Công Tới song Tông lê sáp
( campuchia) để đẻ. Một số loài ngược lại di cư từ sông ra biển đẻ như cá chình. Một

những điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thuận lợi nhất. Những loài lưỡng thê sống ở cạn
hầu hết đi kiếm ăn vào ban đêm hoặc trong buổi hoàng hôn vì khi đó độ ẩm thường
cao, còn về ban ngày chúng trú vào những hang hốc có khí hậu thích hợp. Cá cóc
Tam đảo sống ở vực nước nên hoạt động cả vè ban ngày. Trong các vùng nhiệt đới
nóng ẩm hoạt động mùa của lưỡng cư không rõ rệt. Về mùa đông lưỡng cư sống ở
đồng bằng miền Bắc Việt Nam có hiện tượng trú đông, khi đó các loài lưỡng cư
thường trú mình trong các hang hốc hay trong các chỗ trú kín, đôi khi chỉ trong những
đêm ấm áp chúng mới đi bắt mồi, Ở những vùng ôn đới hầu hết các loài lưỡng cư
đều ngủ đông. Suốt mùa đông than nhiệt thấp và sự khan hiếm thức ăn, cũng không
đi bắt mồi suốt thời gian trú rét. Ếch đào hang trong đáy bùn của ao hồ giấu mình
dưới những khúc gỗ hoặc trong những kẻ nứt. Đôi khi cóc đào vào long đất đến độ
sâu hơn 30 cm. Kì giông ngủ đông bên dưới những tảng đá trong long suốii dưới
những khúc gỗ trong những gốc cây mục rửa hoặc hang đào ẩm thấp trong đất.
Trong thời kì ngủ đông, tất cả các hoạt động của cơ thể như tiêu hóa hô hấp, bài tiêt
và tuần hoàn đều được giảm thiểu.
Ở những vùng cực nóng lưỡng cư cũng đi vào trạng thái tương tự gọi là sự ngủ
hè trong suốt mùa nóng và mùa khô hạn.
* Tập tính ăn uống của lưỡng cư
Các loài lưỡng cư ăn động vật hoặc ăn tạp nhất là những cá thể trưởng thành
thức ăn phổ biến là động vật, ấu trùng lưỡng cư ăn thực vật, một số kì going thủy
sinh ăn thực vật, các loài tảo hay bã hữu cơ. Thức ăn chủ yếu của lưỡng cư là côn
trùng, giáp xác, nhện, than mềm, cá. Đôi khi những loài có kích thước lớn bắt ăn cả
thằn lằn và chuột, một vài loài ăn cả đồng loại. Lưỡng cư sau khi biến thái chỉ bắt

những con mồi cử động. Chế độ ăn thay đổi theo tuổi. Hầu hết nòng nọc của các loài
ếch đều ăn chất bã động vật và thực vật. Nhái con ăn chủ yếu sâu bướm, kiến, nhện
trong lhi nhái lớn ăn nhiều côn trùng. Ếch đồng nhỏ ăn những động vật có vỏ mềm
( châu chấu nhỏ, kiến, nhện), còn ếch đồng lớn còn ăn cả cua, ếch, giun, có khi cả cá
con. Có rất nhiều trường hợp ếch ăn cả nòng nọc của chúng ( hiênj tượng ăn đồng
loại).

động tác ôm cá thể cái khi ghép đôi được chặt chẽ hơn.Màu sắc rực rỡ của bộ áo
cưới,hình thù đặc biệt có tác dụng kích thích con cái dẻ trứng.
- Sự ghép đôi giao phối , thụ tinh:
Sự giao hoan sinh dục,thu hút bạn tình: Trước khi bước vào ghép đôi giao phối,
cá thể đực và cá thể cái đã thực hiên những cửchỉ ,động tác đặc trưng để có thể
nhận ra nhau .Vd: ở cá cóc Tam ®ảo cá đực bám sát con cái,đớp vào chân con cái
để gây sự chú ý. Sau một hồi nếu con cái to vẻ không đồng tình thì sự giao hoan này
thất bại. Nếu có sự đồng tình,con đực sẽ lại gần tiếp xúc mõm của nó với mõm con
cái và di chuyển đến tận cổ con cái
Tiếng kêu của con đực có ý nghĩa quan trọng trong sinh sản của lưỡng cư.Đó là
những tín hiệu gọi nhau đến địa phận sinh sản.Một số loài có bản năng nhớ nơi dể
trứng.Êchs đực trở lại ao hồ trước con cái và bắt đầu kêu.Trong suốt thời gian sinh
sản,hầu hết các ếch đực đều phát ra những giai điệu để thu hút ếch cái và cả những
con ếch trống khác về địa điển sinh sản.Mỗi loài ếch đều có tiếng gọi đặc trưng,tiếng
kêu của ếch vào mùa giao phối sẽ khác với tiếng kêu thông thường của chúng
- Tập tính ghép đôi giao phối thụ tinh: Sự giao phối ở hầu hết lưỡng cư không
đuôi được thực hiện bằng cách cá thể đực ôm cá thể cái. Còn lưỡng cư có đuôi là do
con đực cuốn đsuôi vào con cái.Hiện tượng ghép đoi khi giao phối có ý nghĩa quan
trọng vì nếu thiếu sự đẻ trứng sẽ không bình thường hoặc cáthể cái không đẻ được
trứng. Ở lưỡng cư không đuôi sự ghép đôi tao điều kiện cho thụ tinh vì tinh trùng khi
được phóng ra dễ dàng kết hpj với trứng hơn, nhờ dó tỷ lệ trứng được thụ tinh ở
lưỡng cư không đuôi cao. Ở lưỡng cư có đuôi sau khi ghép đôi, chúng cuốn lấy
nhau, con đực phóng túi tinh dịch, huyệt con cái lộn ra ngoài và bắt lấy bó tinh đó.
Nên ở nhiều loài lưỡng cư có đuôi, trứng được thụ tinh trong ống dẫn trứng của con
cái.Vd: cá cóc đực (triturus) tiết một bó tinh dịch bám vào lácây thủy sinh,con cái
dung huyệt bắt lấy bó tinh và chiết lấy tinh trùng.Các loài lưỡng cư không chân:Êchs
giun đực có phần dài của huyệt làm nhiệm vụ giao cấu như:Ếch châu Mĩ (ascaphus) ,
cóc đẻ con châu phi có hiện tượng kết đôi con cái đẻ trứng ra sau đó con đực tiến
đến thụ tinh cho đám trứng.
* Sự sinh sản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status