Khảo sát một số chỉ tiêu sinh trưởng và sinh sản của lợn kiềng sắt được nuôi tại tỉnh quảng ngãi - Pdf 33

PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Đặt vấn đề
Ngành chăn nuôi nước ta đang đứng trước những tồn tại và thách thức nghiêm
trọng trong thời điểm hiện nay.Từ tháng 8/2008 đến nay, giá con giống và sản phẩm
liên tục giảm mạnh, nhiều hộ chăn nuôi bị thua lỗ, giảm hiệu quả. Thêm vào đó là
dịch bệnh thường xuyên xảy ra, giá cả nguyên liệu thức ăn tăng, thiếu năng
lượng….[32]. Tuy vậy, xu thế phát triển của ngành chăn nuôi hiện nay ở nước ta là
thiên về tăng năng suất vật nuôi để tạo ra những sản phẩm đủ tiêu chuẩn xuất khẩu
thì việc nhập khẩu và lai tạo những giống vật nuôi giàu máu ngoại, là hướng đi đang
được chọn mặc dù chi phí đầu tư cao. Thực tế sản xuất cho thấy đã có nhiều giống
lai được đưa ra sản xuất và được nông dân lựa chọn. Thí dụ trên địa bàn Quảng
Ngãi thì giống lợn hướng nạc phổ biến được nuôi là Yorshire, Đại Bạch, Landrace
và các con lai F2, F3 của chúng [1]. Xu thế này đã làm cho nhiều giống vật nuôi
bản địa bị lãng quên trong sản xuất. Nhưng chính những giống vật nuôi bản địa với
những đặc tính ưu việt như thích nghi cao, chịu đựng kham khổ, bệnh tật tốt và cho
những sản phẩm có giá trị cao lại thích hợp với hoàn cảnh của một số đông người
nghèo ở nước ta.
Để tạo ra một giống vật nuôi mới cần phải có sự đầu tư lớn và phải mất rất
nhiều thời gian, trong khi đó chỉ cần đưa trở lại sản xuất một giống vật nuôi bản địa
thì thời gian sẽ ngắn lại và dễ làm [17]. Ở Quảng Ngãi có giống heo cỏ của đồng
bào dân tộc hiện nay vẫn còn phổ biến ở miền núi do dễ nuôi, thịt ngon nên dù năng
suất thấp nhưng vẫn được ưu chuộng [1]. Nhưng cho đến nay các chỉ tiêu sinh học
của giống lợn này vẫn chưa được nghiên cứu. Do vậy nghiên cứu các đặc điểm sinh
học của giống lợn Kiềng Sắt có một ý nghĩa quan trọng trong việc đề ra các giải
pháp để bảo tồn và phát triển nguồn gen, phục vụ cho phát triển chăn nuôi lợn của
địa phương. Xuất phát từ thực tế đó cũng như được sự cho phép của khoa chăn nuôi
thú y trường ĐH nông lâm Huế, giáo viên hướng dẫn thực tập và chính quyền địa
phương mà chúng tôi đã đi đến tiến hành nghiên cứu cơ bản bước đầu đề tài “Khảo
sát một số chỉ tiêu sinh trưởng và sinh sản của lợn Kiềng Sắt được nuôi tại Tỉnh
Quảng Ngãi ”

+ Phía Nam giáp Bình Định
+ Phía Tây giáp KomTum
+ Phía Đông giáp Biển Đông
Tỉnh có quốc lộ 1A chạy qua,
cách Hà Nội 883 km về phía
Nam, cách TP Hồ Chí Minh
838 km về phía Bắc. Bờ biển
dài 130km với 6 cửa sông
thuận lợi cho việc tàu thuyền
cập bến.
Quảng Ngăi với diện tích đất tự nhiên 513.220 ha.
2.1.1.2. Địa hình
Quảng Ngăi có hình thể đa giác găy nhiều cạnh, chiều dài từ Bắc vô Nam 98
km, bề rộng từ Đông sang Tây 40 - 60 km, với diện tích đất tự nhiên 513.220 ha.
Địa hình tạm thời chia thành ba vùng sinh thái lớn: đồi núi, đồng bằng và đất cát
ven biển. Đất đai ở đây có 9 nhóm đất chính, trong đó có hai nhóm đất có diện tích
lớn nhất là nhóm đất phù sa đồng bằng và thung lũng (99.209 ha chiếm 19,36%
tổng diện tích đất tự nhiên). Nhóm đất xám vùng đồi: 376.547 ha chiếm 73,42%
tổng diện tích đất tự nhiên.
Địa bàn tỉnh Quảng Ngăi có 4 con sông lớn: sông Trà Bồng (dài khoảng 500
km), sông Trà Khúc (120km), sông Trà Câu (40km), sông Vệ (80km), cùng với các
con sông nhỏ khác tạo ra mạng lưới thủy văn phân bố tương đối đều trong tỉnh.

3


2.1.1.3. Đặc điểm thời tiết khí hậu
Quảng Ngãi nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có lượng mưa trung bình hàng
năm tương đối cao, bình quân từ 2.200–3.000mm/năm, nhiệt độ trung bình 25,8 0C –
260C. Do địa hình bị chia cắt nên hình thành những tiểu vùng khí hậu khác nhau

a) Tình hình sản xuất ngành trồng trọt:
Bảng 1: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính ở Quảng Ngăi
Loại cây

Diện tích gieo trồng

Năng suất

Sản lượng

trồng

(ha)a

(tạ/ha)

(tấn)

Lúa

75.211

50,1

376.807

Sắn

19.204


Quảng Ngăi với hệ thống cây trồng khá đa dạng về chủng loại, sự phân bố cũng như
cách sử dụng sản phẩm.
Qua bảng 12 ta thấy: Lúa vẫn là cây trồng chủ lực, chiếm 56,8% các loại cây
trồng nông nghiệp chính ở đây, với diện tích: 75.211 ha. Bên cạnh lúa, cây sắn đang
được nông dân trồng với một diện tích đáng kể, chiếm 14,45%. Ngoài ra so với các
tỉnh khác thì Quảng Ngăi là một trong những nơi có sự phát triển mạnh về cây mía.
Nhiều năm gần đây cây mía khá ổn định với diện tích: 6.914 ha và là một nguồn
thức ăn tiềm năng đáng kể về ngọn lá để phát triển chăn nuôi bò. Trong số các cây
trồng chính ở đây thì lúa, ngô, sắn là các loại cây trồng cung cấp một lượng thức ăn
khá lớn cho chăn nuôi lợn.
b) Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi:
● Chăn nuôi nói chung
Diễn biến số lượng đàn gia súc, gia cầm trong những năm qua thể hiện ở
bảng 2.

5


Bảng 2: Số lượng các loại gia súc gia cầm của tỉnh Quảng Ngăi
giai đoạn 2005 - 2007
Năm

Loại gia súc, gia cầm
2005

2006

2007

Trâu


Vịt, ngan

933.000

683.000

639.000

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi, 2007) [3]
Điều kiện thời tiết thuận lợi, đất đai phì nhiêu cộng thêm bản tính chăm chỉ
của người nông dân nơi đây đã tạo điều kiện cho ngành trồng trọt phát triển mạnh
mẽ. Đó là điều kiện đầu tiên cơ bản để thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển. Tuy
nhiên tình hình dịch bệnh diễn biến hết sức phức tạp: bệnh lở mồm long móng gia
súc phát sinh trên diện rộng, năm 2006 đă xảy ra ở 12/14 huyện, thành phố, bệnh
cúm gia cầm luôn có nguy cơ tái phát làm ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của
ngành. Vì vậy trong những năm gần đây ngành chăn nuôi có tốc độ tăng trưởng khá
chậm, riêng đàn gia cầm 3 năm trở lại đây có sự giảm mạnh về số lượng.
Sản lượng thịt hơi xuất chuồng: Sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2007
là 45.149 tấn, chỉ bằng 99,4% so với năm 2006.
Nhìn chung các loại vật nuôi năm 2007 đều tăng chậm so với năm 2006;
riêng đàn heo giảm 0,6% so với năm 2006 do dịch tai xanh ở heo.
● Chăn nuôi lợn
Đàn heo phát triển tương đối khá, tốc độ phát triển bình quân cả thời kỳ 1994
– 2005 là 4,48%/năm, trong đó giai đoạn 1994 – 2000 phát triển chậm lại và không ổn
định, bình quân giai đoạn này là 2,08%. Giai đoạn từ 2000 – 2005 phát triển nhanh
hơn, bình quân 7,45%/năm. Năm 2006 và 2007 đàn heo giảm bình quân 5,2% so với
năm 2005 là do tác động của dịch LMLM và dịch tai xanh ở heo. Tuy nhiên, đến cuối
năm 2007giá thịt heo tăng cao do đó đàn heo phát triển mạnh trở lại.
Đàn heo năm 2007 là 519.598 con, trong đó: heo nái có 102.063 con,

số toàn tỉnh.
Quảng Ngãi là tỉnh nghèo thu nhập trên đầu người thấp (vào khoảng 350 – 400
USD/người).
Do thu nhập thấp và thiếu việc làm nên nhiều lao động ở nông thôn vào thành
phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông Nam bộ tìm việc. Lao động trẻ thường tìm
việc ở các nhà máy, những người lớn tuổi thường tìm các việc tự do như: bán vé số,
làm thuê công nhật, mua bán ve chai, đồ phế liệu,…
Tóm lại: Qua phân tích về điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội của tỉnh Quảng
Ngãi, chúng tôi nhận thấy được những thuận lợi và khó khăn cho ngành chăn nuôi
như sau:

7


+Về thuận lợi:
-Lượng mưa bình quân khá cao, trên 3.000mm, vùng miền núi và bán sơn địa
dao động từ 3.500 – 3.700mm. Quĩ đất có độ dốc từ 15 – 200 khoảng 39.000ha có
thể phát triển tốt các dạng thảm cỏ dưới tán rừng hoặc trong các vườn cây lâu năm
để cung cấp thức ăn thô xanh ổn định từ 9 – 10 tháng trong năm.
-Các vùng cửa sông có nhiều thủy vực nông, rộng nhiều động vật thân mềm,
giáp xác là nguồn thức ăn giàu đạm và Calci có thể phát triển vịt đẻ rất tốt.
-Diện tích mía đứng từ 7.000 – 7.500ha chủ yếu phân bổ ở vùng trung du miền
núi do đó tiềm năng phát triển chăn nuôi bò thịt ở vùng này là khá lớn.
-Sản lượng lương thực hàng năm sau khi cân đối cho nhu cầu tiêu dùng và làm
giống con thừa từ 110.000 – 120.000 tấn có thể huy động cho chăn nuôi. Ngoài ra,
sản lượng mì nguyên liệu cung cấp cho hai nhà máy tinh bột mì từ 300.000 –
320.000 tấn/năm có thể tận dụng từ 30.000 – 32.000 tấn phụ phẩm dành cho chăn
nuôi gia súc.
-Đội ngũ kỹ thuật viên chăn nuôi thú y các huyện đồng bằng phần lớn có tay
nghề khá có thể tham gia điều trị và thụ tinh nhân tạo tốt.

thế kỷ qua đã có 1.730.341 loài động vật và thực vật được mô tả và đặt tên. Nó
chiếm khoảng 5-10% các loài trên trái đất. Trong khi đó có nhiều loài đã bị tuyệt
chủng trước khi chúng được biết. Các nhà khoa học ước đoán trên trái đất có
khoảng 10 triệu loài, phần lớn các loài chưa được phát hiện là những loài có kích
thước nhỏ, ít hấp dẫn và sống ở những vùng sinh thái khó khăn cho nghiên cứu và
thu mẫu [17], [23].
Đa dạng sinh học ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, rất đa dạng về địa
hình, kiểu đất, cảnh quan, có các đặc trưng khí hậu khác nhau giữa các vùng miền.
Đặc điểm đó là cơ sở rất thuận lợi để sinh giới phát triển hình thành nên các hệ sinh
thái đa dạng có thành phần loài phong phú. Mặc dù đã trải qua các thờ kỳ chiến
tranh khốc liệt, các hệ sinh thái bị tàn phá nặng nề, cộng thêm các hình thức sản
xuất nông nghiệp, khai thác tài nguyên, do vậy các hệ sinh thái rùng bị thu hẹp một
cách đáng kể, tuy nhiên đa dạng sinh học ở Việt Nam vẫn còn phong phú về chủng
loại, giàu về số lượng loài, đa dạng về thành phần loài [23], [7].
+ Đa dạng loài thực vật:
Cho đến nay đã kiểm kê được 9.607 loài, thuộc 2.010 chi và 291 họ thực vật bậc
cao có mạch, chiếm gần 80% tổng số loài dự đoán có mặt ở Việt Nam (12.000 loài).
Ngoài ra, còn có 733 loài nhập nội từ nước ngoài từ trồng trọt, đưa tổng số loài thực
vật bậc cao ở Việt Nam lên đến 10.340 loài, thuộc 2.256 chi và 305 họ. Mặc dù hệ
thực vật Việt Nam không có các họ đặc hữu và chỉ có khoảng 3% số chi là đặc hữu,
nhưng số loài đặc hữu chiếm đến 33% số loài thực vật miền Bắc Việt Nam. Phần
lớn số loài này tập trung ở bốn khu chính: Núi cao Hoàng Liên Sơn, núi Ngọc Linh,
cao nguyên Lâm Viên và khu vực rừng ẩm ở phần phía Bắc Trung Bộ [7].

9


+ Đa dạng loài động vật:
Hệ động vật Việt Nam là khá phong phú. Hiện nay đã thống kê được 275

nghiệp hàng ngàn năm của người nông dân. Với 54 dân tộc anh em và dường như
mỗi nhóm dân tộc thuộc từng vùng miền trong quá trình sinh sống và canh tác, sản

10


xuất nông nghiệp họ đã thuần hóa được các giống vật nuôi mang tính bản địa gắn
liền với sự phát triển cộng đồng [17].
Trên đất nước ta có một tập đoàn gia súc, gia cầm phong phú, bao gồm nhiều
loài như trâu bò, ngựa, lợn, dê, gà... Và gần đây tính cả hươu, nai nữa [20]. Hiện
nay Việt Nam có 14 loài gia súc và gia cầm đang được nuôi chủ yếu bao gồm 20
giống lợn, trong đó có 14 giống nội; 21 giống bò (5 giống nội); 27 giống gà 16
giống nội); 10 giống vịt (5 giống nội); 7 giống ngan; 5 giống ngỗng (2 giống nội); 5
giống dê (2 giống nội); 3 giống trâu (2 giống nội); 1 giống cừu; 4 giống thỏ (2 giống
nội); 3 giống ngựa (2 giống nội); một số loài bồ câu và có khoảng 10 ngàn con hươu
nai được nuôi trong toàn quốc, chủ yếu tập trung ở vùng Hương Sơn, Hà Tĩnh [23].
Tuy vậy, số giống vật nuôi ở nước ta phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở miền
Bắc mà đặc biệt là ở vùng núi phía Bắc và Bắc Trường Sơn [17].
2.2.3. Bảo tồn đa dạng giống vật nuôi ở Việt Nam:
2.2.3.1. Công tác bảo tồn đa dạng vật nuôi:
Bảo tồn đa dạng vật nuôi là một vấn đề cấp bách có tính chất toàn cầu. Nó
chiếm một phần quan trọng nội dung của công việc bảo vệ môi trường. Theo tổ
chức Quốc tế bảo vệ thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên thì hiện nay trên thế giới
mỗi ngày có một vài loài sinh vật bị tiêu diệt nếu đà này cứ tiếp diễn thì đến năm
2020 cứ mỗi giờ sẽ có một loài bị diệt chủng [2].
Ở nước ta các giống vật nuôi đang ngày càng bị mất đi trên hầu hết các địa
phương, nơi mà chúng được thuần hóa cách đây hàng nghìn năm. Các giống vật
nuôi địa phương hiện nay chỉ còn tồn tại phần lớn ở các vùng sâu, vùng xa mà ít
thấy ở các vùng nông nghiệp phát triển [17].
Trải qua hàng nghìn năm dưới tác dụng của chọn lọc tự nhiên và chọn lọc

+ Là biện pháp an toàn trong công tác giống động vật nuôi để chống lại các tình
huống bất lợi trong tương lai như thiên tai, dịch bệnh.
+ Làm tăng thêm sự phong phú, đa dạng về loài vật nuôi, đa dạng hệ sinh thái
nông nghiệp ở đất nước ta, góp phần tôn vinh các giá trị văn hóa và lịch sử.
+ Góp phần giúp cho nhiều vật nuôi có những đặc điểm di truyền độc đáo, tính
năng sản xuất cao, tránh được sự tuyệt chủng.
+ Góp phần tạo nên một chuyển biến quan trọng trong nhân thức của con người
về bảo tồn tài nguyên quý giá này, gắn nó với vấn đề bảo vệ môi trường.
2.3. Đặc điểm sinh trưởng và phát dục của lợn thịt
2.3.1. Sinh trưởng và phát dục
Sinh trưởng là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của tế bào,
các mô cơ, các bộ phận và toàn bộ cơ thể của các con vật trên cơ sở đặc tính di
truyền từ thế hệ trước và dưới tác động của các nhân tố môi trường [22]. Sinh
trưởng của con vật phải thông qua ba quá trình phân chia tế bào để tăng số lượng ,
tăng thể tích tế bào và tăng về thể tích gian bào.
Phát dục là quá trình thay đổi về chất, tức là sự thay đổi, tăng thêm hoàn
chỉnh các tính chất , chức năng các bộ phận trong cơ thể gia súc [16].

12


Sinh trưởng và phát dục có mối quan hệ mật thiết với nhau không tách rời
nhau, hỗ trợ cho nhau, ảnh hưởng lẫn nhan làm cho cơ thể con vật ngày càng hoàn
chỉnh hơn. Chúng là hai mặt của một quá trình, quá trình phát triển của một cơ thể
sống. Sinh trưởng là cơ sở của phát dục và cũng có khi phát dục thúc đẩy sự sinh
trưởng và ngược lại sinh trưởng tạo tiền đề cho phát dục tiếp hoàn chỉnh [22].
2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng và phát dục:
Để đánh giá sinh trưởng của vật nuôi người ta thường định kỳ cân trọng
lượng, đo kích thước các chiều của cơ thể. Hiện nay, để đánh giá khả năng sinh
trưởng và phát dục của gia súc người ta sử dụng các chỉ tiêu sau đây:


8

0,53

3,44

6,65

9,07

11,51

13,96

17,40

20,36

25,34

kg

kg

kg

kg

kg

Đối với lợn là loài động vật có vú, quy luật theo giai đoạn được chia ra thành
hai giai đoạn là giai đoạn trong phôi và giai đoạn ngoài cơ thể [27].
2.3.3.2 Quy luật sinh trưởng phát dục không đồng đều:
Cơ thể con vật không phải lúc nào, giai đoạn nào cũng phát triển nguyên
vẹn theo một tỷ lệ nhất định từ đầu đến cuối [22]. Dĩ nhiên sự phát triển không chỉ
là sự phóng to dần dần của các bộ phận trong cơ thể gộp lại, chính vì vậy nên con
người từ xưa đến nay qua kinh nghiệm và thực tiễn chăn nuôi đã biết căn cứ vào
mòn răng, số vòng ngấn ở sừng, nếp nhăn ở đuôi mắt.... để ước đoán tuổi của vật
nuôi [16]. Quy luật này thể hiện ở chỗ: Cường độ sinh trưởng thay đổi theo tuổi, tốc
độ tăng trọng cũng vậy. Các cơ quan bộ phận khác nhau trong cơ thể cũng có sự
sinh trưởng khác nhau. Như cơ thể lợn khi còn non tốc độ sinh trưởng của các cơ
bắp phát triển mạnh hơn. Do đó lợi dụng quy luật này người ta tác động thức ăn sao
cho lợn tăng trưởng nhanh ở giai đoạn đầu đẻ tăng tỷ lệ nạc hơn trong thành phần
thịt xẻ [14].
2.3.2.3 Quy luật tính chu kỳ:
Tính chu kỳ trong quá trình sinh trưởng không phải là một hiện tượng mới lạ
mà trái lại quá phổ biến trong thiên nhiên. Tính chu kỳ trong sinh vật có thể nhận
xét được khi quan sát hoạt động của từng tế bào sống. Ban đầu người ta dùng thống
kê sinh vật học để phát hiện và tính toán chu kỳ, sau đó dùng cách quay phim chậm
để phát hiện. Kết quả người ta thấy tính chu kỳ ngay trong sự tăng sinh của tế bào:
có thời kỳ phát triển mạnh lại có thời kỳ yếu đi, sau đó lại mạnh trở lại. Sự lặp đi lặp
lại đó một cách nhịp nhàng là một chu kỳ và có thể là chu kỳ nối tiếp chu kỳ [16].

14


Quy luật này bao gồm: tính chu kỳ trong hoạt động sinh lý cơ thể, trong sự
tăng trọng của gia súc, trong quá trình trao đổi chất.
2.4. Sinh lí sinh sản của lợn nái
Sinh sản là quá trình tất yếu của tất cả các loài động vật để duy trì nòi giống.


15


thành về thể vóc [25]. Khi gia súc thành thục về thể vóc thì quá trình trao đổi chất,
năng lượng tương đối ổn định, sức khỏe con vật tốt, sức sống cao, tầm vóc, trọng
lượng, kích thước các chiều đo ổn định và gia súc có khả năng sinh sản cao [16].
Tuổi thành thục về thể vóc của các giống lợn khác nhau là khác nhau. Lợn Móng
Cái thành thục về thể vóc lúc 6 tháng tuổi, trong khi đó lợn Ỉ là 8 tháng tuổi.
Hiện nay đối với các nước có ngành chăn nuôi phát triển, để gia súc thành
thục về tính sớm người ta dùng các biện pháp như: Cho gia súc cái gặp con đực
hàng ngày, tiêm hormone kích thích như PMSG (huyết thanh ngựa chửa),… cũng
như các biện pháp phân lô, phân đàn khác. Ở nước ta việc áp dụng để rút ngắn thời
gian thành thục về tính cho gia súc được đặt ra. Tuy nhiên việc theo dỏi độ trưởng
thành về thể vóc để quyết định thời điểm sử dụng của gia súc vào hoạt động sinh
sản là vấn đề thực tiển trước mắt [25].
2.5. Sinh lý sinh sản lợn nái hậu bị và lợn nái chờ phối
2.5.1. Tuổi thành thục sinh dục
Lợn nái hậu bị đang ở giai đoạn sinh trưởng, phát triển, cùng với quá trình
phát triển của cơ thể thì các bộ phận trong cơ quan sinh dục của lợn cái cũng tăng
về cả trọng lượng lẫn kích thước. Lợn nái hậu bị phát triển đến một giai đoạn nhất
định thì thành thục về tính, khi thành thục về tình thì có biểu hiện động dục [15].
Theo Venev (1985), sự khác nhau về tuổi động dục lần đầu giữa các giống biến
động đến 200%, có những giống Châu Á hoặc châu Phi thành thục sinh dục khi mới
90-95 ngày tuổi, trong khi đó những giống châu Âu hoặc có nguồn ngốc châu Âu
chỉ tiêu này lên đến 200-240 ngày [26]. Lợn nội Việt Nam có tuổi động dục lần đầu
sớm hơn lợn ngoại:
- Lợn Ỉ có tuổi động dục lần đầu là 120- 135 ngày.
- Lợn Móng Cái có tuổi động dục lần đầu là 130- 140 ngày.
- Lợn Đại Bạch nhập vào Việt Nam từ lâu có tuổi động dục lần đầu: 203- 208

nội thường ngắn khoảng 28-30 giờ.
c. Giai đoạn sau chịu đực (kết thúc):
Lợn nái trở lại bình thường, ăn uống như cũ. Âm hộ giảm độ nở, se nhỏ,
thân, đuôi cụp không cho đực phối [9].
Trong thực tế ta còn gặp các trường hợp lợn cái động dục bất thường như
động dục thầm lặng. Đây là các hiện tượng lợn đến thời kì động dục nhưng không
có các biểu hiện động dục rõ ràng, không bỏ ăn hoặc kêu rít...làm cho người chăn
nuôi rất khó nhận biết lợn động dục. Chu kỳ thường kéo dài từ 36-45 ngày (Burger
cho biết hiện tượng này chiếm 1,49% của các chu kỳ). Trường hợp này cơ quan
sinh dục bên ngoài của lợn cái bình thường, nhưng có những hành động giới tính
thường xuyên, đây thường là những con lợn bị rối loạn về hoocmon sinh dục. Lợn
cái thường có biểu hiện nhảy lên lưng con khác nhất là con đực, hhưng không hoặc
ít khi cho con đực nhảy lên. Cần phát hiện ra những con này để loại bỏ sớm, hạn
chế sự ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái [31].

17


2.5.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chu kỳ động dục
Lợn nái có thời gian của một chu kỳ động dục phụ thục vào các yếu tố khác
nhau như:
- Giống: Các giống lợn khác nhau thì có chu kỳ tính khác nhau: lợn Ỉ từ 1921 ngày, lợn Móng Cái từ 18-25 ngày.
- Tuổi: Nái tơ thì có chu kỳ tính thường ngắn hơn lợn nái trưởng thành, theo
Karalling lợn nái ở lứa đẻ thứ 2, thứ 3 thì chu kỳ tính trung bình là 20,8 ngày, lứa 67 là 21,5 ngày, lứa 8-9 là 22,4 ngày. Khi theo dõi sinh sản tên lợn Ỉ thấy ở lứa thứ 1
chu kỳ tính là 19 ngày, lứa thứ 2 là 20 ngày (Lưu Kỷ, 1976) [18].
Ngoài ra, chu kỳ động dục còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như: chế độ
chiếu sáng, nhiệt độ, dinh dưỡng, feromon, tiếng kêu của con đực, quan hệ thể xác
giữa đực và cái ...[25]
2.5.4. Phối giống cho lợn nái
Lợn nái hậu bị nên được phối giống khi có tuổi và trọng lượng thích hợp.

vào gáy, lợn biểu hiện triệu chứng “mê ì” [18].
2.6. Đặc điểm sinh sản của lợn nái chửa đẻ
Sau khi lợn nái phối giống có kết quả, hợp tử bám chặt và làm tổ ở tử cung
và bắt đầu phất triển. Đồng thời các cơ quan bộ phận liên quan (nhau thai, bọc ối,
niệu, tử cung và bầu vú) đều được phát triển trong thời gian mang thai. Trong thời
gian có chửa lợn nái có nhiều đặc điểm thay đổi.
2.6.1. Đặc điểm phát triển của bào thai và các tổ chức liên quan:
Sau khi trúng được thụ tinh tạo thành hợp tử, hợp tử sẽ di chuyển về làm tổ ở
hai bên sừng tử cung. Ngày thứ 18 nhau thai hình thành và có chức năng rõ rệt. Tốc
độ phát triển của bào thai rất nhanh. Theo Ulrey và các cộng sự (1965) thì kích
thước bào thai và trọng lượng của bào thai lợn phát triển và thay đổi như bảng sau:
Bảng 4: Sự phát triển kích thước và trọng lượng bào thai
Tuổi

Chiều dài

Trọng lượng

(ngày)

cm

30

2,4 ± 0,3

51

9,8 ± 1,0


11,8

1049 ± 42,7

639,9

% so 30 ngày

gam

% so 30 ngày

1,50 ± 0,005

(Nguồn: Ulrey và CS, 1965) [19]
Khối lượng bào thai được hình thành chủ yếu ở 2,5- 3 tháng tuổi, đặc biệt là
trong hai tuần lễ cuối cùng nó chiếm khoảng 3/4 trọng lượng bào thai.Trọng lượng
bào thai lúc 28 ngày tuổi nặng 1-1,5 g, 50 ngày tuổi nặng 50g, 70 ngày tuổi nặng
220g, 90 ngày tuổi nặng 600g và lúc sơ sinh nặng khoảng 1000-1300g [15].
Quá trình phát triển của bào thai chia làm 3 giai đoạn:

19


- Giai đoạn phôi thai: Từ ngày chửa thứ 1-22. Đặc điểm chung của thời kỳ
này là hợp tử phân chia rất nhanh trong thời gian ngắn. Các nền móng củâ các bộ
phận cơ thể được hình thành, cũng ở giai đọan này hợp tử còn di chuyển dễ dàng,
nên hợp tử có thể tiêu biến. Vì vậy, sau khi phối giống cần để cho con vật yên tĩnh,
tránh kích động, vận chuyển.
- Giai đoạn tiền bào thai: Từ ngày có chửa 23- 38. Giai đoạn này hình thành

47
12
800
1350
63
11
2100
263
5050
374
81
11
2550
319
5650
419
96
10
2500
313
2250
167
102
10
2500
313
1250
93
108
9


2600

200

96

3411

265

108

3770

200

Nguồn: Moustagrad (1962) [19]
Đối với lợn Móng Cái, Trần Cừ và Lê Khắc Khôi cho biết: trọng lượng sơ
sinh của cả ổ là 6930g ± 650g thì nhau thai là 1195g ± 130g, màng nhau là 46,5g ±
3,85g, dịch ối, dịch niệu là 406g ± 2,25g [15].
Đồng thời trong thời gian mang thai cơ thể mẹ cũng có những biến đổi như sau:
- Quá trình trao đổi chất được tăng cường, đồng hóa chiếm ưu thế hơn dị hóa
do tuyến giáp tạng và cận giáp tạng tăng tiết. Lợn mẹ tăng trọng và chẩn bị nhiều
chất dinh dưỡng cho quá trình tiết sữa nuôi con. Trung bình lợn mẹ tăng trọng
khỏang 20 kg, do vậy lợn sẽ béo lên.
Bảng 7: Sự thay đổi cơ thể mẹ trong thời gian có chửa
Lợn nái

FI


Có chửa

418

230

284

54

Không chửa

149

231

270

39

15

Nguồn: Salmon – Legagneu, Rerat, Heap, và Lodge (1967)
FI= Lượng ăn vào
W1 = Trọng lượng lợn mẹ lúc bắt đầu có chửa
W2 = Trọng lượng lợn mẹ sau khi đẻ [18].

21


chuyển đoạn, đứt đoạn ...trong cấu trúc của chúng, do ảnh hưởng của các gen gây
chết trong giai đoạn đầu đã làm giảm tỷ lệ sinh sản của gia súc.
- Lượng hoocmon thiếu do số lượng thể vàng không đủ (< 5 thể vàng).
- Nguyên nhân bệnh lí (bệnh sẩy thai truyền nhiễm..)
- Dinh dưỡng thiếu hoặc kém cân bằng [18], [26].

22


2.6.3. Quá trình đẻ của lợn.
2.6.3.1. Hiện tượng sắp đẻ.
Một hai ngày trước khi đẻ, vú của lợn mẹ căng, âm hộ sưng, bụng sệ xuống. Nếu
những nơi sử dụng rơm lót ổ chuồng thì lợn nái sẽ tha rơm vào ổ. Lúc này lợn ăn ít,
lợn đi đi, lại lại trong chuồng. Khi lợn nằm xuống, nước nhờn từ âm đạo chảy ra,
sữa bắt đầu tiết, lợn thở mệt nhọc [25],[27].
2.6.3.2. Các giai đoạn của quá trình đẻ ở lợn
Quá trình đẻ của lợn được chia ra 4 kỳ:
+ Thời kỳ mở cửa: Thân tử cung và sừng tử cung co bóp mạnh, lúc đầu co
bóp ngắn, nghỉ dài về sau co bóp dài, nghỉ ngắn. Khi tử cung co bóp thai và nước
màng thai ép vào cổ tử cung làm cho cổ tử cung mở ra, một bộ phận màng thai chui
qua cổ tử cung vào âm đạo. Do các co bóp mạnh màng thai vỡ, nước ối chảy ra làm
trơn đường thai ra.
+ Thời kỳ thai ra: Lúc này cơ tử cung co bóp mạnh dồn dập kéo dài, cơ bụng,
cơ hoành cũng co bóp làm cho áp lực xoang chậu tăng lên. Khi áp lực đạt cao nhất,
thai đi qua cửa xoang chậu, qua âm đạo rồi ra ngoài. Khi thai ra rốn của chúng tự
đứt rời khỏi dạ con.
+ Thời kỳ nhau ra: Sau khi thai ra từ 1-6 giờ, do tử cung tiếp tục co bóp nên
nhau thai sẽ đựoc đẩy ra. Nếu sau 6 giờ nhau thai không ra hết là hiện tượng bị sát
nhau, phải can thiệp kịp thời đẻ tránh viêm tử cung cho lợn mẹ.
+ Thời kỳ hồi phục tử cung: Thời gian này phụ thuộc rất lớn vào ba giai

Theo Nguyễn Khắc Khôi và cộng sự (1985) cho biết: Thời gian rặn đẻ một lần là
7s, đẻ một con là 3s, khoảng cách giữa các con là 420s [5].

23


2.6.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới số con đẻ ra/lứa và trọng lượng sơ sinh của
lợn con:
2.6.4.1.Các nhân tố ảnh hưởng tới số con đẻ ra/lứa:
Nhân tố này nói lên khả năng đẻ nhiều con hay ít con của lợn mẹ, đồng thời
nói lên kỹ thuật phối giống, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng. Có nhiều yếu tố ảnh
hưởng đến số con đẻ ra/lứa như:
+ Giống : Các giống lợn khác nhau thì số con đẻ ra trên lứa khác nhau. Ở
Trung Quốc có giống lợn Taihu là giống thuộc loại mắn đẻ, đẻ nhiều con vào bậc
nhất thế giới có lứa đạt tới 32 con [26]. Lợn ngọai như Yorshire, Landrat, Duroc..
đẻ khoảng 9 – 12 con. Lợn nội Việt Nam như Móng Cái đẻ khoảng 10 – 15 con, lợn
Ỉ khoảng 8-11 con/ lứa.
+ Cá thể: Những nái đẻ lứa đầu ít (6 - 7con), sẽ có số con đẻ ra/lứa ở những
lứa sau ít hơn so với những nái đẻ lứa đầu nhiều con (10 -12 con).
Ở những lứa đẻ khác nhau thì có số con đẻ ra cũng khác nhau, điều này thể
hiện rõ ở bảng sau.
Bảng 9: Ảnh hưởng của lứa đẻ đến số con đẻ ra/lứa
Lứa đẻ

Số con

Lứa 1

7-8 con




Giữa trọng lượng sơ sinh và sức sống của lợn con có lien quan rất chặt chẽ
(Whittemore, 1998) biểu thị theo công thức: Tỷ lệ sống (%)= 75*W0,8 ; Tăng trọng
(g/ngày) từ sơ sinh tới 90 kg=550* W0,3
+ Giống: Các giống lợn ngoại Pss= 1,2- 1,5 kg/con; Ỉ, Móng Cái 0,4-0,6 kg/con.
Đây là nhân tố ảnh hưởng sâu sắc tới trọng lượng sơ sinh của lơn con.
+ Cá thể: Nếu con mẹ có tầm vóc lớn thì Pss cũng sẽ lớn hơn.
+ Tuổi: Pss lợn con tăng từ lứa 1-3, sau đó ổn định và giảm dần từ lứa 7 -8.
+ Số con đẻ ra/ lứa: Giữa số con đẻ ra/lứa và Pss của lợn con tương quan âm.
Bảng 10: Tương quan giữa số con đẻ ra/ lứa với trọng lượng sơ sinh của lợn
(Mirgorot)
Số con/ổ

5

6

7

8

9

10

11

12


Ngay sau khi đẻ gia súc bước vào một thời kỳ sinh lí đặc biệt là tiết sữa nuôi
con. Chức năng này do tuyến vú đảm nhận,nó bao gồm hai quá trình quan trọng là
sinh sữa và thải sữa. Hoạt động tiết sữa là hoạt động mang tính chất bản năng và
chịu điều hòa của hệ thống thần kinh thể dịch [25].
2.7.1.Quá trình hình thành sữa ở lợn:
Sự hình thành sữa là một quá trình tổng hợp phức tạp xảy ra trong các tế bào
tuyến, chọn lọc dinh dưỡng tương để tổngng hợp nên những thành phần đặc trưng
của sữa. Thành phần của sữa và huyết tương rất khác nhau, hàm lượng đường sữa
gấp 90 – 95 lần, mỡ sữa gấp 40 lần. Ngược lại một số chất lại ít hơn trong huyết
tương như protit thấp hơn protit huyết tương 2 lần, vitamin 6 lần, v.v.., γ globulin,
enzym, hormon, khoáng được lọc từ máu vào, các thành phần cazein, lacto, mỡ sữa
phải trải qua quá trình tổng hợp ở tế bào tuyến [18].
Thành phần chính của sữa gồm có:
- Mỡ sữa: tồn tại dưới dạng các giọt mỡ không tan trong nước ,được tổng
hợp từ các acid béo mạch ngắn từ 4- 12 C (30%), các acid béo kết hợp với glycerin

25


Trích đoạn Biểu đồ 2: Tăng trọng của lợn qua các tháng thí nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status