VIỆN NGHIÊN CỨU THƯƠNG MẠI
NGUYỄN THANH BÌNH
HO N THIỆN CH NH
CH PH T T I N D CH V
PH N PH I B N
H NG HO
VIỆT NAM T ONG TH I
H I NH P
U N VĂN TIẾN Ĩ
Chuyên ngành: Thương mại
Mã số: 62.34.10.01
Người hướng dẫn 1: PGS.TS. Lê Quốc Lý
Người hướng dẫn 2 : TS. Nguyễn Thị Nhiễu
NĂM, 2012
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu và trích dẫn trong Luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Các kết quả nghiên cứu của Luận án không trùng với các công trình
khoa học khác đã công bố.
Nghiên cứu sinh
Phƣơng pháp nghiên cứu................................................................................. 9
1.6.
Những đóng góp mới về khoa học của Luận án............................................. 9
1.7.
Kết cấu nội dung Luận án ............................................................................. 10
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN DỊCH VỤ PHÂN PHỐI BÁN LẺ TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI
NHẬP QUỐC TẾ ........................................................................................... 11
2.1.
Tổng quan về dịch vụ phân phối bán lẻ trong bối cảnh toàn cầu hóa và
hội nhập quốc tế............................................................................................. 11
2.1.1. Khái niệm và phân loại dịch vụ phân phối bán lẻ ............................................ 11
2.1.2. Vai trò của dịch vụ phân phối bán lẻ đối với phát triển kinh tế - xã hội trong
thời đại ngày nay ............................................................................................. 20
2.1.3. Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển và các xu hướng phát triển DVPPBL ........ 22
2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của dịch vụ phân phối bán lẻ trong
điều kiện hội nhập quốc tế ............................................................................... 29
2.2.
Chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ trong điều kiện hội
nhập quốc tế ................................................................................................... 32
2.2.1. Khái niệm, vị trí, vai trò của chính sách phát triển DVPPBL trong điều kiện
hoá của Việt Nam ............................................................................................ 55
3.1.2. Khái quát thực trạng phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hoá ở Việt
Nam trong quá trình hội nhập quốc tế ............................................................. 58
3.2.
Thực trạng xây dựng, điều chỉnh chính sách phát triển dịch vụ phân
phối bán lẻ hàng hóa ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế ............. 67
3.2.1. Thực trạng chính sách khung của Nhà nước đối với phát triển dịch vụ phân
phối bán lẻ trong thời kỳ hội nhập ................................................................... 67
3.2.2. Thực trạng điều chỉnh các chính sách cụ thể tác động đến sự phát triển
DVPPBL ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập .................................................. 73
3.3.
Đánh giá chung về những thành tựu, hạn chế của chính sách hiện hành
về phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ và những nguyên nhân ............... 104
3.3.1. Những thành tựu chủ yếu và nguyên nhân ..................................................... 104
3.3.2 Một số tồn tại, bất cập của chính sách hiện hành về phát triển DVPPBL và
nguyên nhân .................................................................................................. 107
iv
CHƢƠNG 4: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH
SÁCH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ PHÂN PHỐI BÁN LẺ Ở VIỆT
NAM THỜI KỲ TỚI NĂM 2020 ............................................................... 113
4.1.
Triển vọng phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ ở Việt Nam trong điều
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
DVPP
Dịch vụ phân phối
DVBB
Dịch vụ bán buôn
DVBL
Dịch vụ bán lẻ
DVPPBL
Dịch vụ phân phối bán lẻ
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
LCHHBL&DTDVXH
Lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ xã hội
Khu vực mậu dịch tự do
CH
Cửa hàng
APEC
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
ASEM
Diễn đàn hợp tác Á - Âu
TFAP
Kế hoạch hành động thuận lợi hóa thương mại
ENT
Kiểm tra nhu cầu kinh tế
NT
Đãi ngộ quốc gia
NHTW
Ngân hàng trung ương
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, BIỂU ĐỒ, HỘP
BẢNG
Bảng 2.1: Cơ sở và khung khổ chính sách phát triển DVPPBL trong điều kiện
hội nhập quốc tế......................................................................................... 42
Bảng 3.1: Quy mô và tốc độ tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa thời kỳ 1996 – 2010 ...... 58
Bảng 3.2: Đóng góp của thương mại trong nước vào GDP tính theo giá so sánh 1994 .... 60
Bảng 3.3: Quy mô kinh doanh của các doanh nghiệp bán lẻ thời kỳ 2000 – 2009 ..... 65
Bảng 3.4. Kết quả rà soát, điều chỉnh quy định chính sách thực hiện cam kết
WTO đối với DVPP của Việt Nam ............................................................ 74
Bảng 3.5: Vốn FDI đăng ký vào dịch vụ bán buôn, bán lẻ tại Việt Nam giai đoạn
2002 – 2010 ............................................................................................... 77
Bảng 3.6: Tổng mức bán lẻ hàng hóa theo giá thực tế thời kỳ 1996-2010: .............. 105
Bảng 4.1. Triển vọng phát triển DVPPBL Việt Nam đến năm 2020........................ 115
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1. Các kênh lưu thông hàng hoá và các cấp trung gian thương mại trong
nền kinh tế thị trường [57;5] ...................................................................... 15
Sơ đồ 2.2. Phân loại dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hoá trên thị trường trong nước
theo phương thức phục vụ [79;15] ............................................................. 19
Sơ đồ 2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của dịch vụ phân phối bán lẻ
hàng hoá .................................................................................................... 29
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Mối tương quan giữa tăng trưởng bán lẻ thực (đã loại trừ giá) ................ 61
Biểu đồ 3.2. Số doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh bán lẻ tại thời điểm 31/12
hàng năm trong giai đoạn trước và sau khi Việt Namgia nhập WTO .............. 64
HỘP
Hộp 3.1:
Một số cam kết cụ thể về dịch vụ phân phối bán lẻ của Việt Nam
trong WTO ................................................................................................ 57
người tiêu dùng cuối cùng, đó là tiêu dùng cá nhân và gia đình, tiêu dùng không
mang tính kinh doanh. Ngày nay dịch vụ bán lẻ đóng góp đáng kể vào tăng trưởng
kinh tế và hướng mạnh mẽ tới người tiêu dùng.
Sự phát triển của dịch vụ phân phối bán lẻ (DVPPBL) theo hướng hiện đại
không chỉ gắn với việc cung cấp các sản phẩm ngày càng phong phú, đáp ứng nhu
cầu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng, mà còn cung cấp cho người tiêu dùng
một loạt các dịch vụ bổ sung là những dịch vụ giúp cho sự lựa chọn chính xác hơn
và tăng thêm sự thuận tiện hơn khi mua hàng. Đồng thời, nó cũng cung cấp cho nhà
sản xuất nhiều thông tin cần thiết từ phía cầu để điều chỉnh những quyết định của họ
theo nhu cầu của người tiêu dùng. Do đó, sự thất bại của ngành DVPP nói chung,
DVPPBL nói riêng trong việc thực hiện đầy đủ vai trò, chức năng phân phối của
mình có thể dẫn tới những sai lệch lớn trong hệ thống phân bổ nguồn lực của xã hội
2
và thiệt hại cho nền kinh tế trong cả ngắn hạn cũng như trong dài hạn. Cho nên, để
tránh cho nền kinh tế vấp phải thất bại đó của thị trường, nhà nước phải can thiệp
điều tiết và quản lý sự phát triển của dịch vụ phân phối bán lẻ. Đồng thời, phạm vi
của lĩnh vực PPBL trong thương mại quốc tế đã phát triển nhanh chóng thông qua
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và việc phát triển những công nghệ mới đặc biệt
là công nghệ thông tin. Trong xu thế tự do hóa thương mại toàn cầu, phần lớn các
nước, trước hết là những thành viên WTO, đều phải mở cửa thị trường DVPP, thực
hiện nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT), dẫn đến sự phát triển nhanh của mạng lưới
phân phối toàn cầu với chủ thể chính chi phối và lãnh đạo là các tập đoàn phân phối
đa quốc gia. Mặt khác, trong chuỗi giá trị toàn cầu của các ngành sản phẩm, khâu
phân phối bán lẻ là khâu có giá trị gia tăng cao, tỷ suất lợi nhuận cao nên có sự cạnh
tranh ngày càng quyết liệt của các nhà phân phối bán lẻ trong và ngoài nước. Vì thế,
sự quản lý, điều tiết của nhà nước đối với sự phát triển DVPPBL càng trở nên cần
thiết để đảm bảo lợi ích quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế.
nhu cầu hàng hoá ngày càng đa dạng của các tầng lớp dân cư. Việt Nam đang trở
thành thị trường bán lẻ đầy tiềm năng, có sức hấp dẫn cao với các nhà đầu tư nước
ngoài. Đây vừa là thời cơ vừa là nguy cơ đối với các doanh nghiệp phân phối Việt
Nam trong điều kiện mở cửa thị trường dịch vụ phân phối, các tập đoàn phân phối
lớn của nước ngoài đang không ngừng tăng cường thế lực để mở rộng thị phần bán
lẻ ở Việt Nam, nhất là trên các đô thị lớn.
Quy mô thị trường bán lẻ ngày càng lớn. Năm 2010 tổng mức lưu chuyển
hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ xã hội (LCHHBL&DTDVXH) đạt trên
1.561,6 ngàn tỷ đồng, gấp khoảng 6 lần năm 2001, nâng mức bình quân đầu người
từ 2,54 triệu đồng năm 2001 lên 17,7 triệu đồng năm 2010. Trong giai đoạn 20062010 quy mô thị trường bán lẻ đã bằng khoảng 65% GDP trong cùng giai đoạn,
phản ánh DVPPBL có vai trò rất lớn trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước.
Thị trường dịch vụ phân phối Việt Nam (bán buôn, bán lẻ, đại lý uỷ quyền và
nhượng quyền thương mại) đã từng bước mở cửa theo các cam kết quốc tế đa
phương, song phương, bắt đầu từ sau khi Việt Nam gia nhập ASEAN (Tháng
7/1995). Từ khi gia nhập WTO (Tháng 11/2006), nhất là từ sau 1/1/2009, thị trường
dịch vụ phân phối Việt Nam về cơ bản đã mở cửa như cam kết của Việt Nam với
Hoa Kỳ trong Hiệp định thương mại song phương (BTA). Trong đó, từ 1/1/2009
cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, tương tự như BTA, Việt
Nam không mở cửa thị trường phân phối xăng dầu, dược phẩm, sách báo, tạp chí,
băng hình, thuốc lá, gạo, đường và kim loại quí cho nước ngoài; nhiều sản phẩm
nhạy cảm như sắt thép, phân bón, xi măng ... Việt Nam chỉ mở cửa thị trường sau 3
năm gia nhập WTO, hạn chế khả năng mở điểm bán lẻ của các doanh nghiệp FDI;
nhà phân phối nước ngoài chỉ được thành lập liên doanh góp vốn nước ngoài không
quá 49% ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO ...
Mặc dù đã đạt được những thành tựu quan trọng, nhưng thị trường bán lẻ và
hệ thống phân phối bán lẻ hàng hoá trên thị trường trong nước đang bộc lộ những
4
trong khi lại chưa có người “nhạc trưởng” …v...v...
Bối cảnh, đặc điểm và xu hướng nêu trên đặt ra những yêu cầu mới trong công
tác quản lý Nhà nước đối với quá trình hình thành, phát triển DVPPBL trên thị trường
5
trong nước, trước hết là trong xây dựng và hoàn thiện chính sách phát triển dịch vụ
dịch vụ bán lẻ. Trong đó, đối tượng và phạm vi tác động của chính sách phát triển
DVPPBL không chỉ gồm dịch vụ chính là hoạt động bán lẻ, được gắn kết với các
dịch vụ phân phối chính khác (bán buôn, đại lý uỷ quyền, nhượng quyền thương mại)
mà còn bao gồm cả các dịch vụ phụ trợ có liên quan đến hoạt động bán lẻ hàng hoá.
Đại hội XI của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (sửa đổi, bổ sung 2011), trong đó đã xác định
rõ:”Nhà nước quản lý nền kinh tế, định hướng, điều tiết, thúc đẩy sự phát triển kinh
tế - xã hội bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng
vật chất…”. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020 vừa được Đại hội XI
của Đảng thông qua cũng đã đề ra định hướng “Phát triển khu vực dịch vụ đạt tốc
độ tăng trưởng cao hơn các khu vực sản xuất và tăng mức độ cao hơn GDP…; mở
rộng thị trường nội địa, phát triển thương mại trong nước…; chủ động tham gia
vào mạng phân phối toàn cầu, phát triển hệ thống phân phối các sản phẩm có lợi
thế cạnh tranh ở cả trong và ngoài nước, phát triển thương hiệu hàng hóa Việt
nam…; phải tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, bảo
đảm ổn định kinh tế vĩ mô”….”Thực hiện hệ thống cơ chế và chính sách phù hợp,
đặc biệt là cơ chế, chính sách tài chính tiền tệ nhằm nâng cao chất lượng tăng
trưởng đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh của nền kinh tế”.
Như thế, để phát triển DVPPBL ở Việt Nam theo hướng hiện đại, hiệu quả,
các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam có năng lực cạnh tranh cao với các Tập đoàn
phân phối bán lẻ nước ngoài trên thị trường bán lẻ Việt Nam trong điều kiện tự do
hoá thương mại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tạo khớp nối linh hoạt giữa
hàng hóa ở nước ta nhưng chưa đi sâu nghiên cứu cơ chế quản lý và đề xuất chính
sách cụ thể và đồng bộ cho sự phát triển đó.
- Đề tài cấp Bộ “Thực trạng và giải pháp phát triển hệ thống siêu thị của nước
ta hiện nay” do Viện nghiên cứu thương mại chủ trì năm 2005, TS. Nguyễn Thị
Nhiễu làm chủ nhiệm đề tài. Trong đó, chỉ nghiên cứu sâu về hệ thống siêu thị và đề
ra giải pháp phát triển cho loại hình này, chưa nghiên cứu toàn diện về dịch vụ bán
lẻ và quản lý nhà nước đối với lĩnh vực dịch vụ này.
- Đề tài cấp Bộ “Đánh giá thực trạng và định hướng tổ chức các kênh phân
phối một số mặt hàng chủ yếu ở nước ta” do Viện nghiên cứu Thương mại chủ trì
thực hiện năm 2006, PGS.TS. Đinh Văn Thành làm chủ nhiệm. Trong đó đi sâu
nghiên cứu về kênh phân phối một số mặt hàng chủ yếu (rau quả, thịt, hàng may
mặc, sắt thép, phân bón, xi măng…), chưa nghiên cứu phân phối và dịch vụ phân
phối đối với tất cả các nhóm hàng để đề xuất chính sách phát triển các kênh phân
phối hàng hóa.
- Đề tài cấp Bộ “Giải pháp phát triển cửa hàng tiện lợi vận doanh theo chuỗi
ở Việt Nam đến năm 2010” do Trường cán bộ Thương mại Trung ương chủ trì thực
hiện năm 2005. Trong đó chỉ đi sâu nghiên cứu về cửa hàng tiện lợi và đề xuất giải
pháp phát triển, chưa nghiên cứu về lĩnh vực dịch vụ phân phối bán lẻ và đề xuất
hoàn thiện chính sách phát triển DVPPBL
7
- Luận án Tiến sỹ kinh tế “Giải pháp phát triển các loại hình tổ chức bán lẻ
văn minh, hiện đại ở Việt Nam” của Phạm Hữu Thìn thực hiện tại Viện Nghiên cứu
thương mại năm 2008. Trong đó, chỉ đề cập đến quản lý nhà nước đối với siêu thị,
trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi. Chưa đi sâu đề xuất hoàn thiện, chính sách
phát triển DVPPBL.
- Đề tài cấp Bộ “Hoàn thiện môi trường kinh doanh nhằm phát triển dịch vụ
bán buôn, bán lẻ của Việt Nam” do Viện Nghiên cứu thương mại chủ trì thực hiện
- Francis Kwong (2002) A retail – Led distribution Model (Mô hình bán lẻ
hàng đầu), China Resourcer Enterprise Ltd.
- AT Kearney, “Những cánh cửa hy vọng cho bán lẻ toàn cầu – chỉ số phát
triển bán lẻ toàn cầu 2009” AT Kearney 2009
- Fels, Allan “Quản lý bán lẻ - bài học từ các quốc gia đang phát triển”, Asia
Pacific Business Review, quyển 15, số 1 năm 2009
- Mutebi, Alex M “Những thay đổi về quản lý đối với bán lẻ xuyên quốc gia quy
mô lớn ở các thành phố Đông Nam Á”, Nghiên cứu đô thị, số 44 kỳ 2 năm 2007
Có thể nói, những công trình nghiên cứu trên đây đều liên quan đến đề tài
nghiên cứu của luận án và nghiên cứu sinh có thể kế thừa các kết quả nghiên cứu
này trong việc giải quyết nội dung đề tài Luận án. Tuy nhiên, điểm mới và khác biệt
là chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu về
hoàn thiện chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa ở Việt Nam
trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Luận án
Mục tiêu chung : Xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện chính
sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa ở Việt Nam trong điều kiện hội
nhập quốc tế thời kỳ tới năm 2020
Mục tiêu cụ thể:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoàn thiện chính sách phát triển dịch vụ phân
phối bán lẻ hàng hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế
- Đánh giá thực trạng chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa
ở Việt Nam hiện nay
- Đề xuất phương hướng, giải pháp chủ yếu hoàn thiện chính sách phát triển
dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa thời kỳ tới năm 2020
1.4. Đối tƣợng và giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài Luận án
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là Chính sách phát triển dịch vụ
phân phối bán lẻ hàng hóa của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài Luận án:
- Sử dụng phương pháp logích – lịch sử kết hợp với phân tích, chứng minh,
thống kê – so sánh và quy nạp để đánh giá tiến trình đổi mới chính sách của Nhà
nước ta đối với phân phối bán lẻ hàng hóa từ khi tiến hành hội nhập quốc tế đến
nay; phát hiện những khiếm khuyết cần điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện chính sách
phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa của Việt Nam trong thời kỳ tới.
- Phương pháp thống kê – so sánh và diễn dịch được sử dụng chủ yếu kết hợp
với phương pháp phân tích chứng minh để làm rõ những tác động của chính sách
của Nhà nước đối với sự phát triển của dịch vụ phân phối bán lẻ.
1.6. Những đóng góp mới về khoa học của Luận án
- Về lý luận : hệ thống hóa, bổ sung và phát triển một số lý luận về hoàn
thiện chính sách phát triển DVPPBL hàng hóa ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
10
quốc tế, nghiên cứu kinh nghiệm hệ thống chính sách phát triển DVPPBL của
Trung Quốc, Thái Lan và một số nước khác, rút ra những bài học kinh nghiệm cụ
thể có thể áp dụng cho Việt Nam. Tạo lập khung lý thuyết về hoàn thiện chính sách
phát triển DVPPBL trong bối cảnh hội nhập quốc tế
- Về thực tiễn :
+ Tổng kết thực trạng chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ của Việt
Nam thời gian từ năm 2001 đến nay, đánh giá những kết quả đạt được, những hạn
chế, bất cập và nguyên nhân của những thành công và hạn chế, bất cập trong việc
xây dựng và thực thi các chính sách phát triển DVPPBL hàng hóa ở Việt Nam, xác
lập cơ sở thực tiễn cho các đề xuất hoàn thiện chính sách tới 2020.
+ Đề xuất hệ thống quan điểm, phương hướng hoàn thiện chính sách phát triển
DVPPBL hàng hóa ở Việt Nam thời kỳ tới năm 2020, kiến nghị hoàn thiện chính
sách hội nhập quốc tế mở cửa thị trường DVPPBL, chính sách phát triển mặt hàng
và thị trường DVPPBL, chính sách phát triển thương nhân, phát triển kết cấu hạ
tầng, phát triển nguồn nhân lực phân phối bán lẻ…v…v…
của sản phẩm xã hội trong sản xuất chung hoặc sản xuất xã hội hóa. Do hoạt động
chung hoặc do mối liên hệ xã hội của sản xuất, khi chưa thực hiện phân phối, sản
phẩm được sản xuất là sản phẩm chung, sau khi phân phối đến từng cá nhân dựa
theo những nguyên tắc và tỷ lệ nhất định mới trở thành mức của mỗi cá nhân. Sự
phân phối sản phẩm xã hội là một khâu trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng, nó
thực hiện sự quá độ của sản phẩm từ sản xuất đến tiêu dùng. Sản xuất quyết định
phân phối, ngược lại phân phối có tác động trở lại đối với sản xuất, trở thành điều
kiện và cơ sở của tái sản xuất. Hình thức phân phối sản phẩm xã hội không giống
nhau trong các chế độ kinh tế khác nhau hoặc trong các thời kỳ phát triển khác nhau
trong cùng một nền kinh tế xã hội. Trong hình thức sản xuất của kinh tế hàng hóa và
kinh tế thị trường, phân phối không phải được hoàn thành từ trực tiếp phân phối
bằng hiện vật mà là phân phối thông qua tiền tệ. Mức độ mà các chủ thể hoạt động
kinh tế có được trong phân phối thông qua tiền tệ, lấy về giá trị sử dụng tương ứng
là vật phẩm mà mình cần thiết trên thị trường. Phân phối (không kể là phân phối
hiện vật hay phân phối tiền tệ) phản ánh trực tiếp trình độ thỏa mãn lợi ích vật chất
của các cá nhân. Tỷ lệ và cơ cấu phân phối giữa các cá nhân được hình thành trong
phân phối đã phản ánh địa vị kinh tế - xã hội giữa con người với con người
[27;105]. Trao đổi là hành vi của con người nhằm chuyển đổi lao động hoặc sản
12
phẩm của mình để có được lao động và sản phẩm của người khác trong quá trình
sản xuất xã hội. Trao đổi là sản phẩm của chuyên môn hóa sản xuất và phát triển
phân công lao động xã hội; là cái nút liên kết xã hội hóa lao động với xã hội hóa sản
xuất, là sự môi giới giữa lao động và sản phẩm cá nhân chuyển hóa thành lao động
và sản phẩm xã hội. Trong quá trình tái sản xuất xã hội, trao đổi làm cho lao động
và sản phẩm chuyển từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Nó là một khâu không
thể thiếu trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội. Cùng với sự phát triển của
phân công xã hội và chuyên môn hóa sản xuất, sự phát triển của trao đổi từ thấp đến
cho sự tiêu dùng cá nhân của người lao động có thể thực hiện được). Ngược lại, tiêu
dùng cá nhân lại là điều kiện tiêu dùng cho sản xuất vì sức lao động được tái sản
xuất thông qua tiêu dùng cá nhân [27; 105 – 106].
Như thế, hoạt động phân phối hàng hóa (bán buôn, bán lẻ) thuộc lĩnh vực lưu
thông, trao đổi hàng hóa. Lưu thông hàng hóa là chỉ quá trình chuyển dịch hàng hóa
từ khu vực sản xuất đến khu vực tiêu thụ. Đây là một quá trình vô cùng phức tạp,
trong quá trình này có 3 nhân tố tham gia : Người sản xuất, người phân phối và
người tiêu thụ. Trong vòng quay lưu thông hàng hóa, hoạt động phân phối được
thực hiện trong suốt quá trình hàng hóa được chuyển từ khu vực sản xuất sang khu
vực tiêu dùng (trong đó phân phối bán lẻ là khâu cuối cùng). Trong điều kiện xã hội
hóa sản xuất và lưu thông hàng hóa ngày càng phát triển, hàng hóa từ sản xuất tới
tiêu dùng thường phải qua 4 khâu chủ yếu : Khâu thu mua, khâu vận tải, khâu tồn
trữ, khâu tiêu thụ. Nếu như thông qua khâu thu mua, sản phẩm của người sản xuất
chuyển thành hàng hóa và thoát ly khỏi khu vực sản xuất đi vào lĩnh vực lưu thông
thì ở khâu tiêu thụ hàng hóa được chuyển từ lĩnh vực lưu thông vào lĩnh vực tiêu
dùng; đó là cách thức để thỏa mãn nhu cầu của sản xuất và cũng là điều kiện tất yếu
của sản xuất hàng hóa.
Trong các nền kinh tế thị trường hiện đại, lĩnh vực phân phối là sự kết nối
sống còn giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng. Hoạt động của lĩnh vực này ảnh
hưởng mạnh mẽ tới lợi ích của người tiêu dùng. Hiệu quả và tính cạnh tranh tăng
trong hệ thống phân phối có thể dẫn đến việc giảm giá, đặc biệt khi chiết khấu phân
phối chiếm phần đáng kể trong giá bán của các sản phẩm cuối cùng và giảm được
sự méo mó trong cơ cấu giá. Hơn nữa, việc cung cấp sản phẩm cũng ngày càng
phong phú, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng. Tuy nhiên lĩnh vực phân
phối không chỉ đơn thuần là người giao hàng hay chỉ có một vai trò duy nhất. Hoạt
động phân phối còn cung cấp cho người tiêu dùng một loạt các dịch vụ bổ sung (địa
điểm thuận tiện, đảm bảo về giao hàng, các thông tin và môi trường kinh doanh) là
những dịch vụ giúp cho sự lựa chọn chính xác hơn và tăng thêm sự thuận tiện hơn
khi mua hàng. Đồng thời, nó cũng cung cấp cho người sản xuất nhiều thông tin cần
(CPC), lĩnh vực dịch vụ phân phối được định nghĩa bao gồm bốn nhóm dịch vụ
chính: Dịch vụ đại lý uỷ quyền, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ và nhượng quyền
thương mại (franchising). Các đại lý uỷ quyền khác với những nhóm còn lại ở chỗ họ
tiến hành giao dịch thay mặt cho người khác, ví dụ họ bán những mặt hàng được
cung cấp và thông thường những hàng này thuộc sở hữu của người khác cho những
người bán buôn, bán lẻ hoặc các cá nhân. Dịch vụ bán buôn bao gồm việc bán hàng
cho những người bán lẻ, những doanh nghiệp sử dụng của các ngành công nghiệp,
thương mại, các tổ chức hoặc các đơn vị chuyên môn, hoặc cho những người bán
buôn khác. Những người bán lẻ bán hàng phục vụ mục đích tiêu dùng cá nhân hoặc
hộ gia đình. Những người nhượng quyền bán một số quyền và ưu đãi cụ thể, ví dụ
như quyền sử dụng một mô hình bán lẻ cụ thể hoặc một thương hiệu.
Danh mục CPC xác định rằng “Dịch vụ chính do các nhà bán buôn và bán lẻ
thực hiện là bán lại hàng hoá, kèm theo hàng loạt các dịch vụ phụ trợ có liên quan
khác, như: Bảo quản lưu kho hàng hoá; lắp rắp, sắp xếp và phân loại đối với hàng
15
hoá khối lượng lớn, bốc dỡ và phân phối lại đối với hàng hoá khối lượng nhỏ; dịch
vụ giao hàng; dịch vụ bảo quản lạnh; các dịch vụ khuyến mãi do những người bán
buôn thực hiện; và các dịch vụ liên quan đến việc kinh doanh của người bán lẻ như
chế biến phục vụ cho bán hàng, dịch vụ kho hàng và bãi đỗ xe”.
Trong thực tế, sự phân phối giữa các nhóm nhà phân phối có thể không rõ
ràng. Nhiều doanh nghiệp thực hiện một vài chức năng, hoặc nhà sản xuất cũng
có thể tự mình thực hiện chức năng phân phối. Hơn nữa, định nghĩa về dịch vụ
phân phối có thể chưa thực sự phản ánh đầy đủ vai trò ngày càng rộng của nhiều
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này. Ví dụ, sự thay đổi trong lĩnh vực sản
xuất hướng tới các kỹ thuật sản xuất được kiểm soát chặt chẽ đã khiến hệ thống
phân phối trở nên phức tạp. Bên cạnh những hoạt động mà danh mục CPC phần
nào đã tiên lượng trước như bảo quản lưu kho, quảng cáo và đóng gói, các nhà
Nhập
khẩu
Người
tiêu dùng
Người
bán lẻ
Nguời
bán buôn
Đại lý,
môi
giới
Người
tiêu dùng
Người
bán lẻ
Người
bán
buôn
Người
bán lẻ
Sơ đồ 2.1. Các kênh lƣu thông hàng hoá và các cấp trung gian
(W/120) của vòng đàm phán Uruguay của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và
danh mục sản phẩm chính tạm thời của Liên Hợp quốc (CPC) định nghĩa: “Bán lẻ
là hoạt động bán hàng hoá cho người tiêu dùng hoặc các hộ tiêu dùng từ một địa
điểm cố định (cửa hàng, kiốt) hay một địa điểm khác (bán trực tiếp) và các dịch vụ
phụ liên quan”. [42;2]
Trong cuốn sách “Quản trị Marketing” Philip Kotler đã định nghĩa bán lẻ
như sau: “Bán lẻ bao gồm tất cả những hoạt động liên quan đến việc bán hàng hoá
hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng vào mục đích cá
nhân, không kinh doanh”. [43;628]
Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia đưa ra định nghĩa: “Bán lẻ bao gồm
việc bán hàng cho cá nhân hoặc hộ gia đình để họ tiêu dùng, tại một địa điểm cố định,
hoặc không tại một địa điểm cố định mà qua các dịch vụ liên quan”.
Tuy đã có nhiều định nghĩa bán lẻ theo nhiều cách khác nhau nhưng tất cả đều
thể hiện một đặc điểm chung của bán lẻ đó là hoạt động dịch vụ đưa hàng hoá đến
17
tay người tiêu dùng cuối cùng (Tiêu dùng trong sản xuất và tiêu dùng của cá nhân
hay gia đình). Nghĩa là, bán lẻ là công đoạn cuối cùng trong khâu lưu thông để sản
phẩm đến với người tiêu dùng. Lĩnh vực thương mại bán lẻ, bao gồm những cơ sở
kinh doanh bán lẻ hàng hoá và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho bán hàng; gồm hai
loại nhà bán lẻ chính là các nhà bán lẻ qua chợ, cửa hàng, và các nhà bán lẻ không
qua cửa hàng.
- Dịch vụ phân phối và dịch vụ logistics :
Trong danh mục ngành và phân ngành dịch vụ theo phân loại của WTO (12
ngành và 155 phân ngành dịch vụ) không định danh dịch vụ logistics. Trong bảng
phân ngành kinh tế quốc dân của Việt Nam (SNA Việt Nam), theo Nghị định 75/CP
ngày 27/10/1993 của Chính phủ cũng không định danh rõ ngành dịch vụ logistics.
Tuy nhiên, theo điều 233 Luật thương mại Việt Nam (2005) đã đưa ra khái niệm
18
Hiện nay một số sách chuyên khảo và tài liệu dịch thuật về dịch vụ logistics đã
đưa ra quan niệm rộng về dịch vụ logistics, bao gồm tất cả các hoạt động kinh tế
nhằm tới việc tối ưu hóa quá trình từ tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay
người tiêu dùng cuối cùng, với mục đích thỏa mãn được các yêu cầu của khách
hàng. Trong đó, logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên vật liệu đầu vào cho quá
trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối đến
tay người tiêu dùng cuối cùng. Theo quan niệm này thì dịch vụ phân phối nói
chung, dịch vụ phân phối bán lẻ nói riêng là loại hình cụ thể của hoạt động logistics.
Trong luận án này tác giả không tiếp cận dịch vụ phân phối bán lẻ từ góc độ là loại
hình cụ thể của dịch vụ logistics, mà tiếp cận dịch vụ phân phối bán lẻ với tính chất
là ngành dịch vụ chính trong ngành dịch vụ phân phối theo phân định ngành dịch vụ
của WTO dựa trên danh mục CPC của Liên hợp quốc.
- Cơ sở bán lẻ là các hình thức tổ chức kinh doanh dịch vụ bán lẻ cố định
với các loại hình doanh nghiệp thương mại bán lẻ hoặc điểm bán lẻ được phân
loại chủ yếu theo ngành hàng, mặt hàng, mức giá, phương thức phục vụ, diện
tích kinh doanh, địa điểm gắn với các không gian lãnh thổ, khu vực địa lý cụ thể.
Các loại hình cơ sở bán lẻ chủ yếu gồm: Trung tâm mua sắm, đại siêu thị, siêu
thị, cửa hàng bách hóa, cửa hàng tiện lợi, cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng đồ
hiệu, cửa hàng giá rẻ, cửa hàng tạp hóa, chợ, trung tâm phân phối, trung tâm
tiêu thụ của nhà sản xuất…
2.1.1.2. Phân loại và đặc điểm dịch vụ phân phối bán lẻ
Tùy theo góc độ và mục đích nghiên cứu, có thể phân loại dịch vụ phân phối
bán lẻ theo các tiêu chí sau:
- Phân loại dịch vụ phân phối bán lẻ (DVPPBL) theo phương thức phục
vụ/phương thức bán lẻ:
Trên thực tế, ở góc độ quản lý Nhà nước người ta thường dựa theo phương
thức phục vụ hay phương thức bán lẻ để phân loại dịch vụ phân phối bán lẻ hàng
hoá trên thị trường trong nước. Trên cơ sở đó, có thể chia dịch vụ phân phối bán lẻ