Tăng cường huy động tiền gửi khách hàng của Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội - Pdf 33

LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2008 đang dần khép lại với biết bao sự kiện, diễn biến phức tạp và khó
lường của nền kinh tế thế giới theo chiều hướng bất ổn rõ nét: Từ cuộc khủng hoảng
thị trường nhà đất của Mỹ lan rộng sang khủng hoảng tài chính mang tính toàn cầu,
suy thoái kinh tế đã xảy ra ở hầu hết các nền kinh tế chủ chốt như Mỹ, Nhật, Anh và
nhiều nước thuộc khu vực Châu Âu… Kinh tế thế giới chuyển từ xu hướng suy thoái
kinh tế gắn lạm phát cao sang xu hướng thiểu phát và giảm phát đang là nỗi lo của
các quốc gia hiện nay.
Trong bối cảnh đó, nền kinh tế Việt Nam không những phải đối mặt với
những diễn biến khó lường của kinh tế thế giới mà còn phải đối mặt với nhiều khó
khăn nội tại như lạm phát tăng mạnh, thâm hụt cán cân thương mại đạt mức kỷ lục,
thị trường chứng khoán liên tục sụt giảm. Để có thể giữ ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ
các doanh nghiệp duy trì và mở rộng sản xuất, khuyến khích xuất khẩu trong điều
kiện kinh tế suy thoái thì một nguồn lực có ý nghĩa quyết định không thể thiếu được,
đó chính là vốn, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn.
Trước tình hình đó, hệ thống ngân hàng Việt Nam, với vai trò là huyết mạch
cho các DNVN trong toàn bộ quá trình phát triển, từ khâu khởi sự, đi vào hoạt động,
mở rộng sản xuất kinh doanh và hội nhập kinh tế quốc tế … phải đối mặt với những
khó khăn thách thức chưa từng có trong hơn hai mươi năm đổi mới. Một câu hỏi
đang được đặt ra cho thực tiễn hiện nay tại các NHTM Việt Nam nói chung và NH
TMCP Nhà Hà Nội nói riêng làm thế nào để tăng cường huy động vốn, đặc biệt là
huy động tiền gửi khách hàng – một nguồn huy động chiếm tỷ trọng lớn, là cơ sở đáp
ứng nhu cầu về vốn cho các hoạt động kinh doanh, cho nhu cầu mở rộng triển khai
các dịch vụ mới và áp dụng công nghệ hiện đại hóa NH.
Xuất phát từ những lý do trên cùng với khoảng thời gian thực tế tại NH TMCP
Nhà Hà Nội, được tiếp cận và tìm hiểu nhu cầu, thực trạng về huy động tiền gửi
khách hàng tại đây, em nhận thấy quy mô huy động tiền gửi khách hàng còn chưa
tương xứng với tiềm lực của ngân hàng. Do đó, em lựa chọn đề tài “Tăng cường huy
động tiền gửi khách hàng của Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội” làm đề tài cho
chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Kết cấu chuyên đề gồm 3 chương:

vụ NH lại phức tạp và vấn đề này luôn biến động theo sự thay đổi chung của nền
kinh tế. Mặt khác, do tập quán, luật pháp của mỗi quốc gia, mỗi vùng khác nhau đã
dẫn đến những quan niệm về NHTM không đồng nhất giữa các nước trên thế giới.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế Mỹ thì “NHTM là một công ty kinh doanh chuyên cung
cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính”; Ở Pháp, theo điều 1 Luật
Ngân hàng Pháp 1941 quy định: “NHTM được hiểu là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành
nghề thường xuyên nhận được của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác
các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài
chính” ; Ở Việt Nam, theo quy định tại điều 20 Luật các tổ chức tín dụng 1997 thì NH được
định nghĩa như sau: “NHTM là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động
NH và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. “Hoạt động NH là hoạt động kinh
doanh tiền tệ và dịch vụ NH với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền
này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán. Tổ chức tín dụng là loại hình doanh
nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ NH với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng
số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán.”
 Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về NHTM, nhưng tựu chung lại về cơ bản
đều phản ánh hoạt động của NHTM là kinh doanh tiền tệ - tín dụng, dịch vụ NH. Có thể
hiểu tổng quát: NHTM là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh
trên lĩnh vực tiền tệ với hoạt động chính là huy động tiền gửi dưới các hình thức khác nhau
của khách hàng, trên cơ sở nguồn vốn huy động này và vốn chủ sở hữu của NH để thực
hiện các nghiệp vụ cho vay, đầu tư, chiết khấu đồng thời thực hiện các nghiệp vụ thanh
toán, môi giới, tư vấn và một số dịch vụ khác cho các chủ thể trong nền kinh tế. [Lê Văn Tư
(2005), Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, NXB Tài chính]
1.1.2. Chức năng của NHTM
NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh dịch vụ tiền tệ.
NHTM không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất như những doanh nghiệp thuộc
lĩnh vực sản xuất kinh doanh nhưng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất,
lưu thông và phân phối sản phẩm xã hội bằng cách cung ứng vốn tín dụng, vốn đầu
tư cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế mở rộng kinh doanh, góp phần tăng
nhanh tốc độ phát triển kinh tế. Vai trò quan trọng của NHTM trong nền kinh tế được


DN
Gửi tiền
Ủy thác
đầu tư
Cho vay
Đầu tư
sự giải quyết được những hạn chế của thị trường tài chính trực tiếp, góp phần nâng
cao hiệu quả luân chuyển vốn trong nền kinh tế thị trường
Đây được coi là chức năng quan trọng nhất của NH thương mại, quyết định sự
tồn tại và phát triển của NH, đồng thời là cơ sở để thực hiện các chức năng khác.
- Trung gian thanh toán: Với chức năng này, NHTM đóng vai trò là
“người thủ quỹ” cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi NH là người giữ tài khoản của
họ và thực hiện các lệnh thu chi của khách hàng. K. Maxr đã viết: "Công việc của
người thủ quỹ chính là ở chỗ làm trung gian thanh toán. Khi NH xuất hiện thì chức
năng này được chuyển giao sang NH. Tuy nhiên, khác với nghề kinh doanh tiền tệ
dưới hình thức ban đầu giản đơn và thuần tuý của nó - nghĩa là tách khỏi chế độ tín
dụng - trong NH, thì chức năng trung gian tín dụng gắn bó một cách chặt chẽ với
trung gian thanh toán. NH dùng số tiền của nhà tư bản này để cho vay". Thật vậy,
chức năng này có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với chức năng trung gian tín dụng.
Việc mở tài khoản của khách hàng, nhận tiền gửi và thanh toán hộ khách hàng đã tạo
ra cơ sở để NH có thêm nguồn vốn để mở rộng cho vay. Đồng thời, thông qua việc
nhận tiền gửi, NH đã mở cho khách hàng tài khoản để theo dõi các khoản thu chi, đó
chính là tiền đề để khách hàng thực hiện thanh toán qua NH.
Chức năng này tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong quan hệ thanh
toán với nhau, làm giảm đi đáng kể những chi phí có liên quan đến lưu thông tiền mặt
đối với từng doanh nghiệp cũng như đối với toàn xã hội. Đối với NHTM, chức năng
này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho NH thông qua việc thu lệ phí thanh toán, tăng
nguồn vốn cho vay của NH thể hiện trên số dư Có trong tài khoản tiền gửi của khách
hàng.

rộng các danh mục các sản phẩm NH nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách
hàng, sử dụng nguồn vốn có hiệu quả và thu lợi nhuận cao. Tuy nhiên, về cơ bản chúng ta
có thể xắp xếp các hoạt động đó vào một trong ba nhóm sau:
- Hoạt động huy động vốn
- Hoạt động sử dụng vốn
- Hoạt động cung cấp các dịch vụ tài chính
Ba hoạt động này có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau và có vai trò quan
trọng trong việc quyết định đến sự thành công trong hoạt động kinh doanh của NH.
Hoạt động huy động vốn
Một đặc trưng quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NHTM tạo nên sự
khác biệt so với các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực phi tài chính là hoạt
động huy động vốn, một nghiệp vụ kinh doanh hết sức quan trọng của NHTM.
NHTM sử dụng uy tín và điều kiện sẵn có của mình để tiến hành huy động vốn. Hoạt
động này tạo nguồn vốn cho NHTM, vì thế đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới
chất lượng hoạt động của NH. Mặc dù bị giới hạn về mức huy động vốn, song nếu
các NHTM sử dụng tốt nguồn vốn này thì không những nguồn lợi của NH được tăng
lên mà còn tạo cho NH uy tín ngày càng cao. Qua đó NH có thể mở rộng được vốn
và mở rộng qui mô hoạt động kinh doanh của NH. Kết cấu nguồn vốn bao gồm: Vốn
tự có, tiền gửi, tiền vay và các nguồn vốn khác.
Hoạt động sử dụng vốn
Sử dụng và khai thác các nguồn vốn là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất
của NHTM vào mục đích nhằm đảm bảo an toàn trong thanh toán cũng như tìm kiếm
lợi nhuận. Nghiệp vụ này được thể hiện thông qua nhiều nghiệp vụ cụ thể như: cho
vay, đầu tư, hoạt động ngân quỹ...Trong đó, cho vay là nghiệp vụ cơ bản nhất trong
sử dụng và khai thác nguồn vốn của NHTM.
* Nghiệp vụ cho vay: Là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu và tạo khả năng sinh
lời cao cho NH. Trong tổng tài sản có thì nghiệp vụ này chiếm tỷ trọng lớn nhất.
* Nghiệp vụ đầu tư tài chính: Các NHTM thực hiện quá trình đầu tư bằng vốn
của mình thông qua các hoạt động hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên
thị trường... với mục đích kiếm lời, phân tán rủi ro qua việc đa dạng hoá các hoạt

tập trung nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để chuyển đến các nhà đầu tư có nhu
cầu về vốn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Vốn và các hoạt động về huy động vốn
quyết định trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của các
NHTM. Vốn đóng vai trò chi phối và quyết định đối với việc thực hiện các chức
năng của NHTM.
Kết cấu nguồn vốn NHTM bao gồm : Vốn tự có, vốn huy động và vốn khác.
* Vốn tự có là nguồn lực tự có mà chủ NH sở hữu và sử dụng vào mục đích
kinh doanh theo luật định. Nguồn hình thành loại vốn này rất đa dạng, tùy theo tính
chất sở hữu, năng lực tài chính của chủ NH, yêu cầu và sự phát triển của thị trường.
Vốn tự có tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của NHTM song nó lại là
yếu tố cơ bản đầu tiên quyết định sự tồn tại và phát triển của một NH. Mặt khác, với
chức năng bảo vệ, vốn tự có được coi như tài sản đảm bảo, gây lòng tin đối với khách
hàng, góp phần duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp NH gặp thua lỗ. Vốn tự
có cũng là căn cứ để tính toán các hệ số đảm bảo an toàn và các chỉ tiêu tài chính
trong hoạt động kinh doanh NH.
Trong thực tế, vốn tự có không ngừng được tăng lên từ kết quả hoạt động kinh
doanh của bản thân NH mang lại. Bộ phận vốn này đóng góp một phần đáng kể vào
vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM, đồng thời góp phần vào nâng cao vị thế
của NHTM trên thương trường.
 Như vậy, vốn tự có là nguồn vốn ổn định, NH sử dụng một cách chủ động.
Do đó vấn đề đặt ra là NH phải bảo toàn và không ngừng tăng vốn tự có của mình
theo yêu cầu của sự phát triển hoạt động kinh doanh theo đúng chính sách, chế độ,
đồng thời phải sử dụng vào các mục đích đã định.
* Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà NH huy động được từ các tổ chức
kinh tế và cá nhân trong xã hội và được dùng làm vốn để kinh doanh. Vốn huy động
là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, NH chỉ có quyền sử dụng và phải hoàn trả
đúng gốc và lãi khi đến hạn. Nguồn vốn này luôn biến động, tuy nhiên nó đóng vai
trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động của NH. Đây là khoản vốn chiếm tỷ trọng
lớn nhất trong tổng nguồn vốn. Các hoạt động sử dụng vốn tồn tại và phát triển được
là nhờ nguồn vốn huy động này.

mức huy động vốn, song nếu các NHTM sử dụng tốt nguốn vốn này thì không những
nguồn lợi của NH được tăng lên mà còn tạo cho NH uy tín ngày càng cao. Qua đó
NH có thể mở rộng được vốn và mở rộng qui mô hoạt động kinh doanh của NH.
1.2.1.2. Vai trò của tiền gửi khách hàng đối với hoạt động kinh doanh của NH
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh được thì phải
có vốn bởi vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh. Riêng
đối với NH là một doanh nghiệp kinh doanh một loại hàng hoá đặc biệt là “tiền tệ”
nên nguồn vốn đối với hoạt động kinh doanh của NH lại càng có vai trò hết sức quan
trọng. Nói cách khác, nguồn vốn mà NH huy động được nhiều hay ít quyết định đến
khả năng mở rộng hay thu hẹp tín dụng.
Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi là hình thức huy động cổ điển và mang
tính đặc thù riêng có của NHTM. Đây cũng là điểm khác biệt giữa NHTM và các tổ
chức tín dụng phi NH. Quy mô của tiền gửi là rất lớn so với các nguồn vốn khác,
thông thường nó chiếm trên 50% tổng nguồn vốn và là mục tiêu tăng trưởng của các
NH.
- Là cơ sở để NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trường bất kỳ doanh nghiệp nào muốn sản xuất kinh doanh
cũng cần có vốn, vốn quyết định đến khả năng kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với
NHTM vốn là đối tượng kinh doanh chủ yếu, là cơ sở để NH tổ chức mọi hoạt động
kinh doanh của mình. Ngoài vốn ban đầu cần thiết tức là đủ vốn điều lệ theo luật
định thì để bắt đầu hoạt động kinh doanh của mình, việc đầu tiên mà NH phải làm là
huy động vốn, cụ thể là huy động tiền gửi khách hàng. Vốn huy động từ tiền gửi sẽ
cho phép NH cho vay, đầu tư... để thu lợi nhuận. Đồng thời, nguồn tiền này sẽ giúp
NH chủ động trong kinh doanh, tránh hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đi vay: vay để
cho vay, vay để đầu tư, vay để thanh toán... Có thể nói, không có nguồn tiền gửi
khách hàng, NHTM sẽ không đủ nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của mình. Nghiệp
vụ huy động tiền gửi khách hàng góp phần giải quyết “đầu vào” của NH.
- Quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của NH
Ngoài vai trò là cơ sở để NH tổ chức các hoạt động kinh doanh, nguồn vốn từ
huy động tiền gửi khách hàng còn quyết định đến việc mở rộng hoặc thu hẹp khối

hàng. Điều đó sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng, doanh số hoạt động của NH sẽ
tăng lên nhanh chóng và NH sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong hoạt động kinh doanh,
đảm bảo uy tín và năng lực trên thị trường.
Mặt khác, thông qua nghiệp vụ huy động tiền gửi NHTM có thể đo lường
được uy tín cũng như sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng. Từ đó, NHTM
có các biện pháp không ngừng hoàn thiện hoạt động huy động tiền gửi để giữ vững
và mở rộng quan hệ với khách hàng.
 Với những vai trò hết sức quan trọng đó, các NH luôn tìm cách đưa ra
những chính sách quản lý nguồn vốn từ khâu nhận vốn từ những người gửi tiền cho
đến việc sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, các nhà quản trị NH
cũng luôn tìm cách để đổi mới, hoàn thiện chúng cho phù hợp với tình hình chung
của nền kinh tế. Đó là một trong những điều kiện tiên quyết đưa NH đến thành công.
1.2.2. Các hình thức huy động tiền gửi khách hàng của NHTM
Đây là hình thức huy động vốn mà NH huy động được từ các tổ chức kinh tế và
cá nhân trong xã hội thông qua hoạt động nhận tiền gửi tiết kiệm, thanh toán hộ, các
khoản cho vay tạo tiền gửi và các nghiệp vụ kinh doanh khác. Đối với hầu hết các NH,
tiền gửi luôn là nguồn tiền quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của NH .
Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có nguồn tiền có chất lượng ngày
càng cao, các NH đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động đa dạng. Tùy thuộc vào
tiêu thức phân loại và yêu cầu quản lý, người ta có thể phân loại tiền gửi thành nhiều hình
thức khác nhau.
Phân loại theo thời hạn
Ngày nay, người ta thường phân chia các khoản tiền gửi theo tiêu thức này để
có thể quản lý tốt lượng tiền gửi, tiền lãi, và là cơ sở để NH xây dựng chiến lược dự
trữ phù hợp. Theo tiêu thức này, tiền gửi bao gồm: tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi
có kỳ hạn.
- Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là khoản tiền gửi đúng như tên gọi của nó là thời
gian gửi tiền không xác định, người gửi tiền có quyền rút ra bất kỳ lúc nào do đó lãi
suất thường thấp. Mục đích của khách hàng đối với loại tiền này là hưởng những tiện ích
trong thanh toán khi có nhu cầu chi trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng.

hoạt đông sản xuất kinh doanh nên các đơn vị này thường gửi một khối lượng lớn tiền vào
NH để hưởng tiện ích trong thanh toán. NHTM là một trung gian tài chính, nó quan hệ
với các đối tượng này thông qua việc mở tài khoản, nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế
và đáp ứng yêu cầu thanh toán của họ. Do có sự đan xen giữa các khoản phải thu và các
khoản phải thanh toán nên NH luôn tồn tại một số dư tiền gửi nhất định, điều này lí giải vì
sao đây là nguồn huy động chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn, có chi phí thấp và
được sử dụng cho vay không chỉ ngắn hạn mà còn cả trung hạn. Tuy nhiên nguồn này có
hạn chế là tính ổn định và độ lớn phụ thuộc vào quy mô, loại hình của doanh nghiệp.
Phân loại theo mục đích
- Tiền gửi tiết kiệm: Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền để dành của mỗi cá nhân được gửi
vào NH, nhằm hưởng lãi suất theo qui định. Tiền gửi tiết kiệm là bộ phận thu nhập bằng
tiền của các cá nhân chưa sử dụng được gửi vào các tổ chức tín dụng. Nó là một dạng đặc
biệt của tích luỹ tiền tệ trong tiêu dùng cá nhân. Những người gửi tiền tiết kiệm là
những đối tượng giảm chi tiêu trong hiện tại với hy vọng là sẽ tăng được chi tiêu
trong tương lai. Đây là hình thức huy động vốn trung và dài hạn khá hiệu quả, có tính
ổn định, đồng thời có tác dụng tích cực trong việc hỗ trợ cho người dân mua sắm nhà
cửa, phương tiện. Có hai loại tiền gửi tiết kiệm là tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền
gửi tiết kiệm có kỳ hạn .

Trích đoạn Trung và dài hạn 1,772 29,61 3,391 36 3,224 33,
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status