ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------
NGUYỄN THỊ NGỌC THÙY
TRI THỨC KHOA HỌC TRONG QUÁ
TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------
NGUYỄN THỊ NGỌC THÙY
TRI THỨC KHOA HỌC TRONG QUÁ TRÌNH
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI
THỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: CNDVBC &CNDVLS
Mã số: 62.22.80.05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS.Vũ Văn Gầu
CNTT
: Công nghệ thông tin
CBQT
: Công bố quốc tế
CNH, HĐH
: Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá
FDI
: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GS
: Giáo sư
HDI
: Chỉ số phát triển con người
H
: Chỉ số đo lường tầm ảnh hưởng của bài báo khoa học quốc tế
IMF
LLSX
: Lực lượng sản xuất
OECD
: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
ODA
: Quỹ Hỗ trợ phát triển chính thức
PGS
: Phó giáo sư
R&D
: Nghiên cứu và phát triển
SCImago
: Tổ chức xếp hạng và đánh giá khoa học
SEL
: Vùng trọng điểm quốc gia
TS
1.1.1. Khái niệm và phân loại của tri thức khoa học ............................................. 18
1.1.2. Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của kinh tế tri thức ......................... 32
1.1.3. Những điều kiện để tri thức khoa học trở thành yếu tố cơ bản của
kinh tế tri thức ........................................................................................................ 46
1.2. Vai trò của tri thức khoa học đối với kinh tế tri thức .................................. 59
1.2.1. Tri thức khoa học là cơ sở, phương tiện để phát triển kinh tế tri thức ........ 59
1.2.2. Tri thức khoa học là động lực cơ bản để phát triển kinh tế tri thức ............ 63
Kết luận chương 1: .................................................................................................. 69
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ YÊU CẦU KHÁCH QUAN ĐỐI VỚI
PHÁT TRIỂN TRI THỨC KHOA HỌC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY
DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY .......................................................................................................................... 72
2.1.Thực trạng phát triển tri thức khoa học ở Việt Nam hiện nay .................... 72
2.1.1. Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học ở Việt Nam hiện nay .............. 73
2.1.2. Thực trạng nguồn nhân khoa học công nghệ và cơ sở giáo dục đào
tạo ở Việt Nam hiện nay .................................................................................... 83
2.1.3. Thực trạng cơ sở vật chất – kỹ thuật và cơ chế chính sách của khoa
học công nghệ ở Việt Nam hiện nay ................................................................. 90
2.2. Phát triển kinh tế tri thức và những yêu cầu khách quan đối với
quá trình phát triển tri thức khoa học ở Việt Nam hiện nay .................... 100
2.2.1. Tính tất yếu của quá trình xây dựng, phát triển kinh tế tri thức và
những thời cơ, thách thức đối với quá trình phát triển tri thức khoa học
ở Việt Nam hiện nay. ....................................................................................... 100
2.2.2. Kinh nghiệm phát triển tri thức khoa học để thực hiện mục tiêu xây
dựng kinh tế tri thức ở một số nước phát triển và bài học vận dụng cho
Việt Nam .......................................................................................................... 122
Kết luận chương 2 .................................................................................................. 144
CHƯƠNG 3:PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TRI
quyết định trình độ phát triển của phương thức sản xuất nói riêng, của nền sản
xuất xã hội nói chung. Tri thức khoa học luôn luôn là một trong những yếu tố
quyết định trình độ của người lao động, của công cụ lao động và phương tiện lao
động… Nếu như công cụ, phương tiện lao động được xem là sức mạnh trí tuệ của
con người được vật chất hóa trong nền sản xuất, và người lao động với năng lực
trí tuệ của họ là khâu then chốt trong lực lượng sản xuất, thì tri thức khoa học
chính là nền tảng đầu tiên, là đòn bẩy phát triển cho các bộ phận giữ vai trò quyết
định trong lực lượng sản xuất, khi tri thức khoa học được vật chất hóa trong nền
sản xuất, sẽ tạo thành công nghệ - kỹ thuật, ứng dụng để phát triển công cụ,
phương tiện lao động; còn người lao động, một khi được dẫn dắt bởi tri thức khoa
học thì sẽ tạo nên năng lực trí tuệ, là một sức mạnh to lớn để làm biến đổi thế
giới. Cho nên, có thể nói, sự phát triển của nền sản xuất, của các thời đại kinh tế,
của xã hội loài người…phụ thuộc vào sự phát triển của tri thức khoa học.
Từ thập niên 1990 đến nay, sau khi xóa bỏ cơ chế bao cấp, Đảng Cộng sản
Việt Nam chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, về cơ bản, đó là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý
chặt chẽ của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hướng tới mục tiêu chiến
lược “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; có nền kinh tế phát
triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại” [25, tr.70]. Bản chất của kinh tế thị
trường là hoạt động xã hội hóa lao động ngày càng được đẩy mạnh, cả chiều rộng
và chiều sâu, dưới sự tác động của các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật. Nền
kinh tế thị trường hiện đại phát triển đầy biến động với tốc độ khá nhanh, để lại
đằng sau những gì là lỗi thời về cơ sở kỹ thuật, về quan hệ kinh tế - xã hội, nó
2
cũng luôn tạo ra những lực lượng sản xuất mới, những quan hệ kinh tế, xã hội,
chính trị mới để không ngừng phát triển, tiến lên giai đoạn cao hơn - giai đoạn
kinh tế tri thức. Như vậy, tiến lên kinh tế tri thức là xu thế phát triển tất yếu,
nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực khác nhau, chú
trọng xây dựng, triển khai các chiến lược và chính sách khoa học công nghệ quốc
gia có tính vĩ mô và lâu dài. Ngày nay, việc hợp tác quốc tế về khoa học và công
nghệ nhằm phát triển tri thức khoa học cũng được đề cập và phân tích như một
chiến lược hội nhập rất quan trọng, là một trong những mục tiêu hàng đầu của các
quốc gia trong thời đại toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới.
Tri thức bao giờ cũng là nguồn lực trí tuệ quan trọng nhất đối với sự phát
triển trên mọi lĩnh vực của đời sống. Đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh
tế hiện nay, tri thức khoa học đã thực sự là động lực chủ yếu, “trở thành lực lượng
sản xuất trực tiếp”, giữ vai trò chủ đạo trong quá trình sản xuất nói riêng cũng như
trong tiến trình phát triển của toàn bộ xã hội nói chung. Kinh tế nước ta đang còn
ở trình độ lạc hậu, kém phát triển, tuy nhiên nếu biết phát huy nguồn vốn trí tuệ,
dựa vào tri thức khoa học và có những chính sách phát triển nguồn lực này một
cách hiệu quả, thì tri thức khoa học sẽ trở thành một lực đẩy vô cùng to lớn làm
chuyển biến xã hội và có thể hỗ trợ Việt Nam rút ngắn con đường đến đích, so với
các nước đi trước trong quá trình xây dựng nền kinh tế tri thức. Chiến lược phát
triển khoa học công nghệ đã được Đảng ta đề ra và triển khai thực hiện từ khá
sớm, ở Đại hội X, Đảng ta xác định rõ khoa học công nghệ sẽ có bước tiến nhảy
vọt và những đột phá mới, đây cũng là lần đầu tiên trong Nghị quyết Đại hội
Đảng, đề cập đến vấn đề đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát
triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong thời gian tới. Điều này cho thấy, phát triển
tri thức khoa học chính là một trong những nhiệm vụ đang được Đảng và Nhà
nước Việt Nam quan tâm. Đại hội XI, Đảng ta khẳng định tiếp tục phát triển kinh
tế tri thức trên cơ sở phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ vẫn là
mấu chốt để phát triển quốc gia. Vậy, sự phát triển tri thức khoa học được coi như
là một trong những điều kiện tiên quyết để thúc đẩy sự phát triển nhanh, mạnh và
bền vững của một quốc gia dân tộc ở mọi giai đọan lịch sử, đặc biệt, trong điều
kiện hiện nay phát triển tri thức khoa học còn là một trong những yếu tố mang
tính quyết định để hoàn thành mục đích phát triển kinh tế tri thức, Đại hội XI
Hướng thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu về tri thức khoa học
và vai trò của tri thức khoa học.
5
Ở nước ngoài, tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là các công trình như
công trình của David – Clandes ( 1998), The wealth and Poverty of nation, USA
(Sức mạnh và năng lực quốc gia). Thomas Friedman (2005), The World is
flat(Thế giới phẳng), Farrar, Straus v Giroux, New York, USA. Sience and
industry in the 19th century (Khoa học và nền công nghiệp thế kỷ 19), London. J.
D. Bernal, (1944), The Social Function of Science (Chức năng xã hội của khoa
học),
George
Routledge,
London;
K.Y.Tan,
M.H.Toh,
L.Loh
(1998),
Competitiveness of the Sigapore economy (Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
Singapore), Singapore. Word Bank Report (Asia – Paciffic Economic
Tác giả Thomas L. Friedman trong cuốn sách Thế giới phẳng: Tóm tắt lịch
sử của Hai mươi thế kỷ đầu tiên, đã tập trung phân tích vấn đề toàn cầu hóa một
cách độc đáo, với lập luận xoay quanh quá trình "trở nên phẳng" của thế giới.
Khái niệm "phẳng" ở đây đồng nghĩa với "sự kết nối". Những tiến bộ vượt bậc
của cách mạng số và môi trường thông thoáng của toàn cầu hóa xóa bỏ những trở
ngại về địa lý. Cách mạng thông tin, cách mạng số và thời đại Internet đã cho
phép các cá nhân, tổ chức, các quốc gia kết nối và hợp tác hiệu quả với nhau trên
quy mô toàn cầu để tạo ra những giá trị gia tăng lớn hơn….
Học giả người Anh J. D. Bernal đã giới thiệu khái niệm "Cách mạng khoa
học - kỹ thuật" trong tác phẩm "The Social Function of Science" (Chức năng xã
hội của khoa học) để mô tả vai trò mới của khoa học - kỹ thuật trong tiến trình
phát triển của xã hội. Bernal đã vận dụng thuyết về lực lượng sản xuất của Các
Mác để minh chứng rằng khoa học đang trở thành một "lực lượng sản xuất" trong
xã hội. Tác phẩm này là nỗ lực của Bernal để chỉ ra vai trò to lớn của khoa học,
công nghệ, nó không chỉ là khâu bảo tồn trí tuệ mà phải thực hiện được chức
năng vốn có của mình là cải thiện đời sống nhân loại. Đây là một nghiên cứu
mang tính đột phá đối với các vấn đề của khoa học công nghệ và trong cả các
chính sách công để phát triển khoa học công nghệ.
Những nghiên cứu trong các công trình trên phần nào cho thấy được cái
nhìn tổng thể về tri thức khoa học cũng như tầm quan trọng của tri thức khoa học
trong thời đại mới. Đó cũng chính là những cơ sở dữ liệu và nền tảng để từ đó, tác
giả luận án tiếp tục nghiên cứu vấn đề ở góc độ sâu hơn, gắn nó với tình hình và
bối cảnh thực tế ở Việt Nam.
7
Ở trong nước, có nhiều công trình liên quan đến vấn đề này như Bộ khoa
học công nghệ và môi trường, (1996), Chiến lược công nghiệp hóa hiện đại hóa
đất nước và cách mạng công nghệ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, Phát
- trên cơ sở tìm hiểu, phân tích thực trạng và đánh giá mức độ phát triển của
nguồn lực trí tuệ ở Việt Nam, tác giả đề xuất một số định hướng và giải pháp
nhằm phát triển nguồn lực trí tuệ cho xã hội ta ngày nay. Đây là một cuốn sách
hay và chứa đựng nhiều tâm huyết của người viết, tác giả luận án rất tâm đắc với
nhiều quan điểm của tác giả cuốn sách, tuy nhiên, ở công trình này, TS. Bùi Thị
Ngọc Lan tập trung tìm hiểu các vấn đề liên quan đến tổng lực nguồn lực trí tuệ
trong sự nghiệp đổi mới, còn tác giả luận án tiếp cận cuốn sách và tiếp thu tinh
thần đề cao vị trí và vai trò nguồn lực trí tuệ để phục vụ hướng nghiên cứu của
mình: Vai trò của tri thức khoa học trong phát triển kinh tế tri thức.
Tác giả Danh Sơn viết về vấn đề ở khía cạnh Quan hệ giữa phát triển
khoa học và công nghệ với phát triển kinh tế – xã hội trong công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở Việt Nam, đã làm rõ vai trò động lực của tri thức khoa học và
công nghệ trong sự phát triển kinh tế – xã hội nói chung, tác giả này cho rằng tri
thức khoa học chính là đầu tàu và là nhân tố có vai trò then chốt để có thể thực
hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam; Tác giả
Nguyễn Đắc Hưng trong cuốn “Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất
nước” đã nêu lên vị trí vô cùng quan trọng của đội ngũ trí thức cũng như vai trò
quyết định của tri thức khoa học trong sự nghiệp phát triển đất nước hiện nay
Đây là những tài liệu quý mà tác giả đã tìm hiểu, kế thừa, từ những góc
nhìn, cách phân tích, đánh giá và những hướng nghiên cứu khác nhau, của các
vấn đề khác nhau (có ít nhiều liên quan đến các nội dung của luận án) mà những
nhà nghiên cứu đi trước đã đạt được, tác giả tiếp thu một cách có chọn lọc và từ
đó vận dụng vào giải quyết các nhiệm vụ của luận án một cách có hiệu quả hơn.
Hướng thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu về kinh tế tri thức nói
chung trên thế giới và xu thế phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
Ở nước ngoài, liên quan đến vấn đề này có khá nhiều tác giả với các tác
phẩm như: Admade. M(2009), Knowledge – Based Economy and Local
Innovative Network:Recent theoretical and Methodogical Trend, Glasgow,
Scotland; APEC (1999), Toward knowledge – based economies in APEC, APEC.
XXI (1993), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội. PGS, TS. Trần Cao Sơn
(2004), Môi trường xã hội nền kinh tế tri thức – những nguyên lý cơ bản, Nhà
xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội. Lê Ngọc (2000), Những xu thế kinh tế trong
thế kỷ XXI, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội. TS. Trần Đình Thiên và
TS. Trần Đức Ba (2011), Kinh tế tri thức và khoa học, công nghệ cao, Nhà xuất
11
bản Thanh Niên. Tập thể tác giả GS.TS. Nguyễn Thanh Tuyền, PGS.TS. Đào Duy
Huân, TS. Lương Minh Cừ (2005), Hướng đến nền kinh tế tri thức ở Việt Nam,
Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội. Đặng Mộng Lân (2002), Kinh tế tri thức, những
khái niệm và vấn đề cơ bản, Nhà xuất bản Thanh Niên, Hà Nội. Lê Thị Ngân
(2005), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tiếp cận kinh tế tri thức ở Việt
Nam, Luận án tiến sĩ; Nguyễn Thị Ngọc Hương (2014), Phát triển Kinh tế tri
thức ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, Luận
án tiến sĩ.
Giáo sư,Viện sĩ Đặng Hữu trong công trình khoa học công phu và có giá trị
“Kinh tế tri thức, thời cơ và thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam”, với
nguồn tài liệu tham khảo phong phú và được chắt lọc hiệu quả, luận chứng thuyết
phục, súc tích giáo sư đã đưa ra khá nhiều thông tin, tư liệu về khái niệm, đặc
trưng, lịch sử hình thành và phát triển của một số nước của kinh tế tri thức cũng
như thực trạng của nền kinh tế Việt Nam hiện nay và kinh nghiệm của một số
nước đi trước trong quá trình phát triển kinh tế tri thức. Trên cơ sở trình bày thực
trạng nền kinh tế Việt Nam, cuốn sách cũng đưa ra những gợi ý về định hướng và
giải pháp phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ngày nay.
Công trình Hướng đến nền kinh tế tri thức ở Việt Nam của tập thể tác giả
GS.TS. Nguyễn Thanh Tuyền, PGS.TS. Đào Duy Huân, TS. Lương Minh Cừ,
viết về nền kinh tế tri thức khá hệ thống, từ quá trình hình thành, phát triển, thực
Hướng thứ ba, đó là các công trình nghiên cứu về thực trạng và giải
pháp phát triển tri thức khoa học ở Việt Nam hiện nay
Liên quan đến nội dung này, có nhiều công trình nghiên cứu như: Ban
Tuyên giáo Trung ương (Trung tâm tư liệu quốc gia) (2000), Nền kinh tế tri thức
và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam – Kỷ yếu Hội thảo (2 tập), Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đỗ Nguyên Phương (2003), Tình hình và kết quả hoạt
động khoa học và công nghệ ở nước ta, Tạp chí Công tác khoa giáo. Bộ khoa học
công nghệ và môi trường (1996), Chiến lược công nghiệp hóa hiện đại hóa đất
nước và cách mạng công nghệ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. Bộ khoa
học công nghệ và môi trường (2002), Khoa học và công nghệ thế giới, Hà Nội.
Bộ khoa học và công nghệ (2002), Khoa học và công nghệ Việt Nam 2001, Hà
13
Nội. GS. TSKH. Vũ Đình Cự (2006), Khoa học công nghệ, lực lượng sản xuất
hàng đầu, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đỗ Minh Cương (1998),
Những vấn đề cơ bản về quản lý khoa học và công nghệ, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, Hà Nội. Nguyễn Văn Thuỵ (1994), Một số vấn đề về chính sách phát
triển khoa học và công nghệ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. TS. Vũ
Trọng Lâm (2004), Kinh tế tri thức ở Việt Nam - quan điểm và giải pháp phát
triển, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, Hà Nội. Hoàng Đình Phu (1998), Khoa
học và công nghệ với các giá trị văn hóa, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, Hà
Nội. Phạm Xuân Nam (2001), Triết lý về mối quan hệ giữa cái kinh tế và cái xã
hội trong phát triển, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội. Trần Khánh Đức
(2009), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.TS. Nguyễn Thanh (2007), Vấn đề con người và giáo
dục con người nhìn từ góc độ triết học xã hội, Nhà xuất bản Tổng hợp, TP. Hồ
Chí Minh. Trần Văn Tùng (2005), Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực
tài năng – kinh nghiệm của thế giới, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội. TS. Hồ Đức
TS.Vũ Trọng Lâm trong cuốn sách Kinh tế tri thức ở Việt Nam – quan
điểm và giải pháp phát triển, đã phác họa một cách khá đầy đủ và hệ thống các
vấn đề liên quan đến kinh tế tri thức ở Việt Nam, đây cũng là một trong những
công trình đã bước đầu phân tích thực trạng của kinh tế tri thức tại Việt Nam và
đề xuất một số giải pháp khá hữu ích nhằm phát triển kinh tế tri thức.
Các tác giả Trần Khánh Đức, Trần Văn Tùng đều quan tâm đến vấn đề
phát triển nguồn nhân lực trong các công trình của mình như: Giáo dục và phát
triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI và Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn
nhân lực tài năng – kinh nghiệm của thế giới. Đây là những tài liệu tìm hiểu và
khẳng định về tầm quan trọng của nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng
cao, những bài học kinh nghiệm từ các nước phát triển trong quá trình đào tạo, sử
dụng nguồn lực quý này cho sự nghiệp phát triển khoa học, công nghệ để tiến lên
kinh tế tri thức.
Đó là tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài, nhiều công trình đã tìm hiểu
và đưa ra cái nhìn toàn diện về tri thức khoa học, kinh tế tri thức, nhưng chưa một
công trình nào đi sâu nghiên cứu về những tác động to lớn và vai trò hạt nhân của
tri thức khoa học trong kinh tế tri thức để xây dựng những định hướng và giải
15
pháp phát triển tri thức khoa học nhằm hướng đến xây dựng phát triển kinh tế tri
thức ở Việt Nam hiện nay. Tiếp biến một cách nghiêm túc tất cả những kết quả
nghiên cứu đã nêu, tác giả luận án có điều kiện để tập trung giải quyết các mục
đích và nhiệm vụ đã đặt ra cho luận án một cách toàn diện, đa chiều, sâu sắc và có
giá trị thiết thực.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
3.1 Mục đích của luận án
Mục đích của luận án là tìm hiểu những vấn đề lý luận chung về tri thức
khoa học và kinh tế tri thức, tập trung nghiên cứu, phân tích làm rõ vai trò to lớn
tiến sĩ triết học. Do đó, tri thức khoa học ở đây được xem là một trong những yếu
tố tiên quyết của lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định trong quá trình tri thức
hóa nền kinh tế, là một động lực to lớn thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển
kinh tế tri thức song song với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, trong
chiến lược phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
hiện nay
6. Cái mới của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án đã có đóng góp mới về mặt học thuật, thể
hiện trên một số điểm sau đây:
Thứ nhất, luận án đã góp phần hệ thống hóa và luận chứng vai trò hạt nhân
của tri thức khoa học đối với việc xây dựng và phát triển kinh tế tri thức trong
điều kiện hiện nay tại Việt Nam, nhìn tri thức khoa học không chỉ từ góc độ là
yếu tố bên trong mà còn được “khách quan hóa” thành yếu tố tác động cơ bản đến
kinh tế tri thức.
Thứ hai, từ sự đánh giá, phân tích thực trạng, làm rõ mặt mạnh, mặt hạn
chế của sự phát triển tri thức khoa học ở Việt Nam, luận án đã gợi mở những định
hướng, nêu rõ mục tiêu và những giải pháp cơ bản để phát huy vai trò của tri thức
khoa học đối với quá trình xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở nước ta gắn
với công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay.
7. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án
Về mặt lý luận, luận án góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về tri
thức khoa học và thực trạng, tính tất yếu phải định hướng xây dựng, phát triển nền
kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay.
17
Về mặt thực tiễn, những giải pháp cơ bản để xây dựng phát triển thành
công hệ thống tri thức khoa học mà luận án đề xuất sẽ góp phần vào quá trình xây
dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam, đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh và tiến
những vấn đề lý luận chung về tri thức khoa học và kinh tế tri thức như là cơ sở lý
thuyết cho luận án.
Thứ nhất, về khái niệm tri thức khoa học.
Tri thức khoa học luôn có những ảnh hưởng lớn đến con người và đời sống
xã hội loài người, cho nên tìm hiểu về tri thức khoa học luôn là vấn đề thu hút sự
quan tâm của các học giả ở mọi lĩnh vực, đã có rất nhiều định nghĩa về tri thức
khoa học được các nhà nghiên cứu đưa ra.
Theo đánh giá của tác giả Phạm Khiêm Ích trong lời dẫn cho cuốn Tri thức
về tri thức - nhân học về tri thức thì tri thức là một khái niệm nhiều chiều, theo
nghĩa cùng một lúc, nó vừa là vật lý, sinh học, não, tinh thần, tâm lý, văn hoá, xã
hội không tách rời nhau, cho nên, nó có thể được hiểu theo nhiều phương diện,
nhiều phương thức và nhiều trình độ khác nhau, mà mỗi thuật ngữ ấy lại thích
hợp với một phương diện, một khía cạnh nào đó (người ta có thể dùng một loạt